Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân
-----*****-----
Đề án kinh tế chính trị
Đề tài : Công nghiệp hóa ở các nước ASEAN và
khả năng vận dụng tại Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thanh Hiếu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Duy
Lớp: Tin 44C
Khoa: Tin học kinh tế
Hà Nội: Năm 2003
1
Lời mở đầu
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình này được khởi xướng từ đại hội đảng
toàn quốc lần thứ VIII với mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp phát triển, kĩ thuật hiện đại
Đảng ta luôn xác định đây là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Trong những năm tiến hành đổi mới chúng ta đã thu được
nhiều thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới cho quá trình phát triển cao
hơn. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chúng ta cũng khó tránh khỏi một
số thiếu sót. Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém, đẩy lùi
nguy cơ tụt hâu về kinh tế, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng một nước
nghèo nàn lạc hậu, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc
phòng và an ninh, thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở học tập và rút kinh
nghiệm từ bài học của các nước đi trước.
Trong bài viết này là một số ý kiến của em về quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở các nước ASEAN và khả năng vận dụng tại Việt Nam hiện
nay, trên cơ sở tổng hợp các ý kiến của những bậc thầy đi trước. Và với
khuôn khổ một nghiên cứu nho nhỏ như thế này khó có thể trình bày hết
Thứ đến là những mục tiêu cụ thể, những điều kiện kinh tế - xã hội và những
3
quan điểm của các quốc gia không giống nhau, tuy rằng các quốc gia đều
phải thực hiện quá trình công nghiệp hóa.
Hiện đại hóa: Xét trên góc độ kinh tế kĩ thuật hiện đại hóa là cái đích của
công nghiệp hóa. Xét toàn cục hiện đại hóa chỉ là phương tiện, điều kiện để
đạt được mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa.
Nhận thức rõ sự gắn kết tất yếu giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
đảng ta khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là “quá trình chuyển đổi
căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học –
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. (Đảng cộng sản Việt Nam:
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa VII, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội,1994, Trang 42).
2) Vai trò công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa là nhiệm vụ tất yếu, một quy luật có tính phổ biến đối với
tất cả các quốc gia để chuyển nền kinh tế từ trạng thái kém phát triển sang
phát triển và phụ thuộc sang một xã hội phát triển và văn minh đều nhất thiết
phải trải qua. Với mục tiêu là bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh,
ổn định và vững trắc, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước để
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng một xã hội
văn minh công nghiệp. Mục tiêu này sẽ được thực hiện từng bước và trong
từng giai đoạn sẽ có những mục tiêu trọng điểm.
3) Đặc điểm: Công nghiệp hóa là quá trình thay thế các thiết bị và
quy trình sản xuất thủ công bằng máy móc hiện đại và quy trình sản xuất
công nghiệp.
4
4) Thực chất công nghiệp hóa là sự phát triển công nghệ, là quá trình
ASEAN:
Từ thập kỷ 80, toàn cầu hóa là hiện tượng nổi bật và là xu thế khách quan
của nền kinh tế thế giới. Mỗi nước trong quá trình phát triển không thể tách
rời sự tác động của thị trường khu vực và thế giới. Liên kết kinh tế và hội
nhập trở thành một xu thế tất yếu của thời đại. Trong bối cảnh đó, hầu hết
các nước trên thế giới đã có sự điều chỉnh hoặc cải cách kinh tế ở các mức
độ và hình thức khác nhau.
a) Ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật :
Khởi đầu của quá trình công nghiệp hóa ở các nước ASEAN gần như
trùng với cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại. Cuộc cách mạng
khoa học – kỹ thuật hiện đại với sự xuất hiện và biến đổi nhanh chóng của
một loạt công nghệ mới như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học... đã làm thay đổi một cách căn bản phương thức sản xuất của
nhân loại. Tốc độ phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kỹ thuật
đã làm cho khoa học thực sự trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp nhờ
triển khai nhanh chóng các thành tựu trong nghiên cứu thành các công nghệ
trong sản xuất, trong tổ chức và quản lý. Những máy móc hiện đại có thể
làm năng suất cao gấp trăm lần, ngàn lần trước đây, lại tiêu tốn ít năng
lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, giúp tiết kiệm được đầu vào cho sản xuất,
làm cho sản xuất phát triển mau chóng. Nhưng quan trọng hơn, nó tạo ra tiền
đề cho các nước đi sau có thể tận dụng thời cơ, rút ngắn quá trình công
6
nghiệp hóa thông qua chiến lược “đi tắt đón đầu”, kết hợp các bước đi tuần
tự và nhảy vọt để đuổi bắt các nước đi trước.
Kinh nghiệm cho thấy, trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật,
nước nào có khả năng ứng dụng nhanh những thành tựu của cách mạng khoa
học - kỹ thuật, nước đó sẽ thành công. Vấn đề là lựa chọn, tiếp thu và làm
chủ các công nghệ sẵn có sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước
nhà. Việc lựa chọn phải hết sức sáng suốt, phải có tầm nhìn chiến lược vì
công nghệ đang thay đổi từng ngày. Một công nghệ mới có thể trở thành lạc
nghĩa là để từ kém phát triển trở thành phát triển, từ lạc hậu trở thành tiên
tiến, hiện đại, các nước đều phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mặc dù nội dung, cách thức, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa có
tính đặc thù, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và bối cảnh quốc
tế từng thời kỳ, nhưng những nội dung cơ bản nói lên thực chất của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa lại có những nét chung. Đó là ở mọi quốc gia, mọi
thời kỳ, công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao giờ cũng là quá trình trang bị kỹ
thuật hiện đại cho các ngành kinh tế.
Tuy rằng mỗi nước có mục tiêu riêng của mình, do bản chất chính trị,
kinh tế - xã hội quy định, song vẫn có những nét tương đồng. Đó là, đều xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực
của đất nước, tạo năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm nhịp độ phát triển
kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
3) Quan điểm về công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân:
a) Bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội.
Quá trình công nghiệp hóa phải tạo nên những chuyển biến căn bản và
toàn diện đời sống kinh tế xã hội, trong đó sự chuyển biến có hiệu quả về
8
kinh tế, kĩ thuật là cơ sở vật chất cho những chuyển biến về xã hội. Suy đến
cùng mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa ở nước ta là thực hiện dân
giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, bình đẳng, dân chủ, có kỉ cương, tạo điều
kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, kết hợp lợi ích
mỗi người với lợi ích chung của cả dân tộc.
Về mặt xã hội, quá trình công nghiệp hóa phải đạt được những nội dung
cơ bản sau:
- Bảo đảm sự ổn định và củng cố chế độ chính trị - xã hội trên cơ sở đổi
mới từng bước vững chắc.
- Cải thiện một cách căn bản đời sống vật chất và tinh thần của người dân
về ăn ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, nâng cao
dân chí cùng với lối sống văn minh.
doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.
d) Kết hợp giữa các mô hình “hướng ngoại”; “hướng nội”.
Quá trình công nghiệp hóa cũng đồng thời là quá trình phát triển kinh tế
hàng hóa. Xác định thị trường là điều không thể thiếu để phát triển sản xuất
hàng hóa.
Mô hình “hướng ngoại” là tập trung đầu tư trọng điểm vào những ngành
hàng, lĩnh vực có khả năng xuất khẩu. Còn “hướng nội” là phát huy nội lực
trong nước sản xuất những hàng hóa nhằm thay thế nhập khẩu.
10
Việc tìm kiếm thị trường trong nước và ngoài nước phải có sự kết hợp hài
hòa với nhau. Song, trong sự kết hợp ấy hiện nay chúng ta cần ưu tiên hơn
vào chiến lược hướng ngoại là vì:
- Hướng ngoại là động lực và điều kiện phát huy lợi thế so sánh của đất
nước trên tinh thần bảo đảm hiệu quả của kinh tế đối ngoại và phát triển
trong thế chủ động.
- Hướng ngoại là cơ sở tạo nên nguồn ngoại tệ để giải quyết các vấn đề
trong nước trong điều kiện trao đổi bình đẳng: đôi bên cùng có lợi.
- Đòi hỏi khắt khe của thị trường nước ngoài, tạo động lực để nâng cao
trình độ kỹ thuật, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa.
Nhưng cũng không thể không quan tâm đến chiến lược hướng nội vì:
- Thị trường trong nước có quy mô lớn. Nhiều loại hàng hóa cung còn nhỏ
hơn cầu. Bỏ qua thị trường này là một sai lầm khi chen chân vào thị trường
thế giới hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa với lợi thế “sân nhà” lẽ nào chúng ta
chịu để thị trường nội địa bị chiếm lĩnh!
- Bảo đảm khai thác mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế, giải quyết các
vấn đề kinh tế - xã hội bức bách (việc làm, trật tự xã hội...);
- Tạo điều kiện nhất định cho thực hiện hướng ngoại và góp phần giải tỏa
tình trạng căng thẳng thiếu ngoại tệ.
Việc vận dụng quan điểm này phải được cụ thể hóa trong các chiến lược
phát triển các ngành kinh tế.
định về giá cả với hàng hóa thiết yếu để đảm bảo sự công bằng và chống độc
quyền về giá cả.
12