TIỂU LUẬN: Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt Nam - Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp Phát Triển pot - Pdf 12

z

TIỂU LUẬN:

Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt
Nam - Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải
Pháp Phát Triển

B/ Nội dung
I/ Khái Niệm Về Xuất Khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động buôn bán kinh doanh nhưng phạm vi kinh doanh
vượt ra khỏi biên giới quốc gia hay là hoạt động buôn bán với nước ngoài trên
phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ
thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm
mục tiêu thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định
và từng bước nâng cao đời sống kinh tế của nhân dân. Thông qua hoạt động xuất
khẩu có thể đem lại những lợi nhuận to lớn cho nền sản xuất trong nước. Xuất
khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại những hiệu quả đột biến nhưng có thể
gây thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các
chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
II/ Vai Trò Của Hoạt Động Xuất Khẩu :
1. Tạo nguồn vốn chủ yễu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
2. Thúc đẩy sản xuất phát triển.
3. Tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
của nhân dân.
4. Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta.
III/ Khái Quát Về Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt Nam Trong
Thời Gian Qua:
1. Tình hình xuất khẩu chung:
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong số những mặt hàng nông sản
có thế mạnh hàng đầu Việt Nam. Vào cuối những năm 80 thị trường xuất khẩu cà
phê của Việt Nam được phân bố khá đều giữa các nước Châu Âu, Châu á(chiếm
31, 8%), Châu Mĩ mà chủ yếu là thị trường Mĩ chiếm 16, 67%. Chúng ta cả nước
mới có 20. 000 ha, với sản lượng không quá 10. 000 tấn vào thời gian này. Nhưng

hàng nông sản xuất khẩu và đã mang lại những thành công đánh kể, đặc biệt là
đối với mặt hàng xuất khẩu cà phê.
2. 1 Nhà nước đã lập quỹ hỗ trợ sản xuất, đây là một việc làm đúng, phù
hợp. Bởi vì trong điều kiện sản xuất ít thuận lợi, gặp sự thay đổi giá cả trên thị
trường khiến người nông dân lo ngại trong sản xuất cà phê, thậm chí chặt phá cà
phê. Do vậy lập quỹ này, không phải là biện pháp mang tính bao cấp, mà là biện
pháp cần có trong nền kinh tế thị trường, giúp họ an tâm sản xuất.
2. 2 Chính phủ đã phê duyệt dự án phát triển cà phê chè 40000 ha trong 5
năm (1997-2000) bằng vốn trong nước và vốn vay ưu đãi của quỹ phát triển Pháp
(CFD). Đây là một biện pháp nhằm mở rộng thêm diện tích cà phê chè ở Việt
Nam.
2. 3 Nhà nước đã ban hành nhiểu chủ trương chính sách để hỗ trợ nông dân
phát triển sản xuất. Đặc biệt phải kể đến là việc Nhà nước cho các hộ nông dân
vay trực tiếp vốn từ các ngân hàng nhà nước mà trước năm 1990 nông dân không
được tham gia ở các nguồn này. Chính những chủ trương trên của Nhà nước đã
thực sự giúp nông dân, tiếp thêm sức mạnh cho họ có vốn đầu tư vào sản xuất.
Và cuối năm 2000 đầu năm 2001, Chính phủ đã chỉ đạo cho các doanh
nghiệp được vay vốn ngân hàng 0% lãi suất để thu mua tạm trữ 60000 tấn cà phê,
tiếp đó lại quy định giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, và ngày 13-2-2001 Chính
phủ có quyết định 140, tiếp tục thu mua tạm trữ 90000 tấn nâng tổng số 150 000
tấn cà phê đưa ra khỏi lưu thông. Quyết định này đã giúp nông dân hạn chế bán cà
phê ra, gia cà phê trong nước đã vững lên và có phần tăng giá, giá chào bán cà
phê ổn định từ 440-450 USD/tấn FOB. Đây là việc làm cần thiết của Nhà nước,
giúp nông dân yên tâm, tin tưởng vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Ngành
ngân hàng cũng đã có những quy định khoanh nợ và tiếp tục cho nông dân cũng
như các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn. Đó cũng chính là biện pháp tiếp thêm
ngành năng lượng cho nguồn cà phê phát triển.

Chất lượng cà phê xuất khẩu ở nước ta đang chứa đựng nhiều bất cập, nên
trong mấy năm đổ lại đây hiệu quả kinh tế trong xuất khẩu cà phê bị giảm trầm
trọng, nhiều nơi đã phá cây cà phê để chuyển sang trồng loại cây khác có lợi ích
cao hơn. Tình trạng này được gây ra bởi nhiều yếu tố.
1. 1 Ngay từ khâu giống đã tồn tại nhiều bất cập. Giống cà phê ở nước ta từ
trước đến nay vẫn chủ yếu là do bà con nông dân tự chọn, ươm giống và trồng
nên không đảm bảo chất lượng. Cây phát triển kém, hạt nhỏ, tỷ lệ đồng đều giữa
các hạt thấp. Đầu tử trong lĩnh vực thuỷ lợi để tưới cho cà phê đạt thấp. Nhiều
vùng vào mùa khô hạn không đủ nước tưới ảnh hưởng xấu đến tình hình sinh
trưởng của cây. Thêm nữa ở nước ta vẫn thu hái theo kiểu tuốt cành là phổ biến,
quả xanh chín lẫn lộn, dẫn đến chất lượng cà phê chế biến thấp, tỷ lệ tổn thất sau
quy hoạch cũng cao.
1. 2 Trong khâu chế biến, nước ta hiện vẫn đang sử dụng hai phương pháp,
chế biến khô và chế biến ướt. ở nuớc ta phương pháp chế biến khô đang được
dùng phổ biến. Phương pháp này hương vị cà phê không bằng chế biến ướt. Mặt
khác, lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, tốn nhiều công phơi đảo, đòi hỏi
diện tích kho và sân phơi lớn. ở nước ta hiện nay chế biến cà phê vẫn chủ yếu ở
quy mô gia đình. Vì thế tính đồng bộ kém, thiết bị chế biến đơn giản, chủ yếu là
các máy xát nhỏ. Hiện cả nước mới có 50 dây chuyền chế biến công nghiệp, trong
đó có 14 dây chuyền nhập ngoại, số còn lại được chế tạo trong nước với tổng
công suất 100000 tấn nhân/năm.
Từ những thực tế trên đây, mặc dù chất lượng vốn có của cà phê vối trồng ở
nước ta được đánh gia cao, loại kích thước hạt 45-60% đạt tiêu chuẩn loại 1, chất
lượng thử nếm :có 35% rất tốt, 50% tốt, 10% ở mức trung bình và chỉ có 5% là
loại trung bình kém. Song trên thực tế, chất lượng cà phê nhân xuất khẩu của Việt
Nam lại không thể hiện được những chỉ tiêu trên. Mờy năm gần đây, tỷ lệ cà phê
xuất khẩu loại một của nước ta chỉ đạt ở mức 20%.

lành mạnh vẫn còn tình trạng tranh mua tranh bán nên chúng ta rất bị động trong
xuất khẩu mặt hàng cà phê, làm tổn thất cho lợi ích của cộng đồng những người
sản xuất, chế biến, xuất khẩu và lợi ích chung của xã hội.
2. 3 Chưa có kinh nghiệm thuê tàu buôn, chưa có nhiều kinh nghiệm trong
thương mại và giao dịch với thị trường cà phê thế giới, trình độ tiếp thị, quảng cáo
còn sơ đẳng. điều này giải thích tại sao chúng ta xuất khẩu vẫn phải thông qua thị
trường trung gian.
2. 4 Công nghệ chế biến có quy mô nhỏ, các cơ sở chế biến phần lớn trong
tình trạng sử dụng thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu. Thiết bị
chế biến chủ yếu phơi trên sân đất, phần lớn chưa có sân xi măng. Sản xuất cà phê
còn trong tình trạng tự phát, kĩ thuật chăm sóc kém. Bên cạnh đó còn có những hộ
gia đình pha trộn cà phê chè với cà phê vối nhằm kiếm lời. điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến uy tín của nhà xuất khẩu, một yếu tố rất quan trọng trong kinh
doanh xuất nhập khẩu.
2. 5 Chúng ta chưa có được hệ thống cơ sở hạ tầng vững mạnh để hỗ trợ cho
sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê, tái chế, dự trữ trong kho, để có nhiều mặt
hàng phong phú cho cà phê như cà phê tan, cà phê ở dạng uống giải khát, cà phê
rang, cà phê cô đặc…Hoặc sử dụng các sản phẩm phụ của quả cà phê như thịt quả
làm rượu vang, vỏ quả làm phân hữu cơ.
2. 6 Cần có tổ chức đủ mạnh, có đủ tư cách pháp nhân, có trách nhiệm khép
kín trong thu mua cà phê để xuất khẩu để quản lý ngành xuất khẩu.
2. 7 Tốc độ phát triển của các loại cà phê còn chưa được đồng đều. Cà phê
chè phát triển thua xa cà phê vối vì cà phê chè có chất lượng cao nhưng khó trồng
lại bị hạn chế do sâu bệnh và một số điều kiện khó khăn khác mà nay ta chưa
khắc phục được.
3. Những hạn chế trong sự điều tiết của Nhà nước.
Trong sự điều tiết của Nhà nước cũng tồn tại những hạn chế. Chẳng hạn như

công nghiệp chế biến cà phê, đầu tư xứng đáng mau chóng đối với công nghệ.
1. 3 Mở rộng thị trường toàn cầu, tăng uy tín và vị thế cà phê Việt Nam. Để
thực hiện điều này chúng ta cần phải triển khai nội dung sau cuảng cố thị trường
hiện có mở rộng vào các thị trường mới bằng nhiều hình thức như các kênh phân
phối gián tiếp, tổ chức hội chợ triển lãm thương mại quốc tế
1. 4 Tăng lượng cà phê tinh chế, giảm tỷ lệ cà phê nhân xuất khẩu, thực hiện
dấu hiệu hàng hoá thống nhất.
1. 5 Nhà nước quy định giá sàn và tăng cường hoạt động tạm trữ dưới nhiều
hình thức khác nhau thông qua tổng công ty hoặc công ty xuất nhập khẩu.
1. 6 Nhà nước nên giảm mức thuế đối với những sản phẩm cà phê trên thị
trường nội địa. Miễn thuế buôn cho các hộ kinh doanh trên thị trường nội địa
1. 6 Ngân hàng nên cho những người trồng cà phê vay vỗn trong thời gian
dài để hỗ trợ giữ được cây cà phê, tránh tình trạng chặt hết như cây ca cao. Chặt
hết, giá giảm đến khi giá phục hồi lại bắt đầu trồng mới gây lãng phí
2. Một số biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành cà phê Việt
Nam.
2. 1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giữ vững diện tích và sản lượng hợp lý
Có thể nói, thị trường cà phê thế giới đã đạt tới ngưỡng cung vượt cầu, vì vậy nên
hạn chế việc tiếp tục trồng mới. Nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi những loại
sản phẩm cà phê mới tốt hơn, ngon hơn, cà phê đặc biệt. Chính vì vậy, về phía
cung phải có được loại cà phê chất lưọng cao, ít sử dụng hoá chất trong sản xuất,
giá thành hạ để sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó chính là mục tiêu của một
nền sản xuất cà phê bền vững.
2. 2 Mục tiêu về sản lượng :Con số an toàn nhất là 10 triệu bao cà phê tức là
600000 tấn/năm. Về cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm cà phê chè và vối trên thế giới là 67-
70/40-30. Song với điều kiện tự nhiên của Việt Nam tỷ lệ này vẫn là 25:75, tức là
hàng năm sản xuất ra khoảng 150000 tấn cà phê chè và 450000 tấn cà phê vối.

dụng khi cần thiết nhằm giảm chi phí sản xuất, đảm bảo vườn cây phát triển bền
vững
- Cần xây dựng chính sách thu mua theo hướng kích thích người sản xuất tự
nâng cao chất lượng.
- Cần tổ chức lại các đầu mối làm nhiệm vụ xuất khẩu cà phê, khuyến khích
một số đơn vị có đủ về vỗn để đầu tư mua sắm tranh thiết bị nhằm tái chế tạo ra sản
phẩm ổn định, đồng thời có đủ vốn cố định để kịp thời thu mua, dự trữ sản phẩm cà
phê của dân, tránh tình trạng bị động, đối phó khi thị trường có sự biến động
2. 5 Đối với cây chè
- Chỉ mở rộng diện tích trồng mới ở khu vực có đủ điều kiện về môi trường
phù hợp với loại cây này. Như vậy đòi hỏi công tác quy hoạch, thử nghiệm các
vùng trồng mới phải được tiến hành trước một bước nhằm xác định cơ cấu giống
phù hợp, thực hành khuyến nông giúp cho nhân dân làm quen dần, tiến tới nắm
chắc các vấn đề kinh tế –kỹ thuật –công nghệ trong sản xuất cà phê chè
- Cần đầu tư và quan tâm thích đáng cho việc phát triển cây cà phê chè ở các
tỉnh miền núi, chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc, nhằm góp phần khắc phục tình
trạng phát triển không đều ở các vùng cà phê trong cả nước.
3. Một số giải pháp tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước
3. 1, Về sự ra đời của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu và phát triển thời gian qua đã có
những tác dụng không thể phủ nhận. Tuy nhiên cũng cần có sự tổng kết, đánh giá
thực tiễn của các quỹ này từ sau khi vận dụng để có những điều chỉnh kịp thời
nhằm phát huy có hiệu quả hơn trong việc sử dụng quỹ
3. 2, Thúc đẩy nhanh việc xây dựng và phát triển quỹ bảo hiểm cà phê, có
như vậy mới đủ khả năng mua hàng, dự trữ hàng, khi có biến cố thất thường xảy
ra như giá cà phê thế giới xuống thấp …Và đó cũng là cái cốt vật chất để tập hợp
các nhà kinh doanh cà phê. Đồng thời, Nhà nước cần quan tâm hỗ trợ sản xuất và
đời sống của người dân trồng cà phê hơn, có như vậy mới tạo được tâm lý yên

Kết luận

Với những điều kiện thuận lợi và nỗ lực phát triển, Việt Nam đến nay đã trở
thành một trong những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới không chỉ về số
lượng mà chất lượng cũng ngày càng được nâng cao. Nhưng để có thể duy trì
được vị trí hiện nay và tiến tới những mục tiêu cao hơn trong tương lai thì không
phải là điều dễ dàng vì trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì
các đối thủ cạnh tranh sẽ gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn, trở ngại. Vì vậy,
chúng ta cần phải tiếp tục phát huy những thế mạnh của mình đồng thời nâng cao
hơn nữa chất lượng các loại cà phê, tiến hành những biện pháp tìm hiểu thị
trường, cập nhập thông tin để đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của thị trường cũng
như cần mở rộng khai thác sang các thị trường mới, tìm một chỗ đứng riêng cho
mình Tài liệu tham khảo

Quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc tế.
Báo ngoại thương số 23-8-2003
Internet : hppt:\\vnexpress. net
Nghiên cứu ngoại thương số 308 tháng 1-2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status