LUẬN VĂN:
Xuất khẩu quế ở Công ty XNK
tổng hợp 1-Bộ thương mại: Thực
trạng và giải pháp
Lời mở đầu
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ xu hướng toàn cầu hoá đời sống kinh tế, các
quốc gia đang tham gia ngày một tích cực vào quan hệ kinh tế quốc tế. Hoạt động kinh
doanh quốc tế với các hình thức đa dạng và phong phú đang trở thành một trong những
nội dung quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trong đó hình thức xuất nhập khẩu
được coi là “chiếc chìa khoá” mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế cho mỗi một quốc
gia, tạo ra nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho nước đó khi tham gia vào các hoạt động
kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu sẽ có ý nghĩa chiến lược trong sự
nghiệp CNH- HĐH, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế cất cánh trong thiên niên kỷ
mới. Vì vậy, Đảng và Nhà Nước đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác
xuất nhập khẩu và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn phải thực hiện.
- Phần 3: Thực trạng hoạt động xuất khẩu Quế của Công Ty XNK tổng hợp 1.
- Phần 4: Một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu quế của Công Ty XNK tổng hợp 1
– Bộ thương mại.
Phần 1
Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu
1.1- Khái niệm xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác
trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện so sánh. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối
với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia
và phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi,
các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Thực tế cũng cho thấy nếu
một quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của mình, áp dụng phương thức tự cung tự cấp
thì không bao giờ có cơ hội vươn lên để khẳng định vị trí của mình và nâng cao đời
sống nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ rất
lâu đời và ngày càng phát triển. Hình thức đầu tiên của hoạt động xuất khẩu là trao đổi
hàng hoá giữa các nước cho đến nay xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gia công, xuất khẩu uỷ thác, buôn bán
đối lưu, xuất khẩu theo nghị định thư, gia công quốc tế, xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập tái
xuất.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế từ xuất
khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị đơn
giản cho đến những máy móc công nghệ cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều
nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời
gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài
nhiều năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay của nhiều
quốc gia khác nhau.
Thi
ếu
v
ốn
Công nghệ lạc
h
ậuNguồn vốn huy động từ bên ngoài là vô cùng quan trọng, song để huy động được
nguồn vốn này doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Mọi cơ hội để doanh nghiệp
được đầu tư hay vay nợ chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được
khả năng trả nợ của công ty, trong đó họ rất chú ý đến hoạt động xuất khẩu. Và cuối
cùng, thì bằng cách này hay cách khác doanh nghiệp cũng phải hoàn lại vốn cho đối
tác. Như vậy, nguồn vốn quan trọng nhất chỉ có thể trông chờ vào xuất khẩu.
Với đặc điểm của đồng tiền thanh toán phần lớn là ngoại tệ đối với một bên
hoặc hai bên, xuất khẩu làm tăng ngoại tệ cho doanh nghiệp, tạo vốn để đổi mới máy
móc thiết bị nhập công nghệ mới hiện đại từ các nước phát triển nhằm hiện đại hóa và
tạo năng lực sản xuất mới. Vì vậy, xuất khẩu thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển làm
tăng giá trị máy móc thiết bị và làm giảm giá trị lao động cấu thành trong giá trị của
hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu tư bản. Từ đó, xuất khẩu tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và giúp doanh nghiệp tăng khả năng khai thác lợi
thế so sánh của quốc gia. Có thể nói, xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng
trưởng nhập khẩu của doanh nghiệp. Tóm lại, xuất khẩu là phương tiện quan trọng thu
hút lượng ngoại tệ, tạo vốn giúp doanh nghiệp thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất
không những về chiều rộng mà còn về chiều sâu.
Thứ hai, xuất khẩu là bước quan trọng để doanh nghiệp xâm nhập và hội nhập
vào thị trường thế giới, một thị trường rộng lớn và đa nhu cầu, một thị trường nhiều
trùm của mình là tăng lợi nhuận bằng việc giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tăng
doanh số bán, hạn chế rủi ro.
Thứ ba, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia
vào cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới (về giá cả, uy tín, chất lượng). Để
tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình,
hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường, tạo ra những sản phẩm được
tiêu chuẩn hoá cao nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng cao của thị trường quốc
tế. Thực hiện Marketing quốc tế với những nỗ lực về chính sách giá cả, phân phối, xúc
tiến bán hàng, mở rộng thị trường nhằm tăng khả năng thâm nhập vào các thị trường
lớn đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh với giá thị trường của nước mình
nhằm tăng khả năng phát triển sản phẩm của mình trên thị trường thế giới cũng là
những biện pháp cần thiết để từ đó tái đầu tư phát triển sản xuất đặc biệt. Xuất khẩu
cũng buộc các doanh nghiệp luôn phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh
doanh, đây là một yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Cuối cùng, một vai trò đặc biệt quan trọng nữa của hoạt động xuất khẩu đó là
thông qua xuất khẩu doanh nghiệp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của mình. Con
người luôn là chủ thể trong các quan hệ kinh tế xã hội, vì vậy doanh nghiệp muốn hoạt
động có hiệu quả, nhất thiết phải có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đặt ra trong kinh
doanh. Hoạt động xuất khẩu giúp thu hút nhiều lao động, từ đó có thể tuyển lựa được
một đội ngũ lao động có khả năng đáp ứng được nhu cầu công việc, có chất lượng và
hiệu quả. Đặc biệt doanh nghiệp tham gia xuất khẩu còn nâng cao đời sống của mọi cá
nhân trong doanh nghiệp. Đây chính là động lực để người lao động làm việc có chất
lượng và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Hơn nữa, do các
điều kiện tiếp xúc với thị trường mới, phương thức quản lý mới, khoa học công nghệ
hiện đại nếu trình độ của người lao động của toàn doanh nghiệp nói chung và trình độ
nghiệp vụ của cán bộ quản lý nói riêng được nâng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu của
thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, song song với cơ hội cũng là những thách thức mà doanh nghiệp
phải đối mặt. Những thách thức này không thể làm nản lòng và hạn chế sự phát triển
hàng kinh doanh của mình trên thị trường nước ngoài đó như: Dung lượng thị trường,
tập quán và thị hiếu tiêu dùng, những kênh tiêu thụ, sự biến động giá cả…
* Lựa chọn khách hàng
Việc nghiên cứu tình hình thị trường giúp cho đơn vị kinh doanh có thể lựa
chọn thị trường, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao
dịch thích hợp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn
phụ thuộc vào khách hàng. Trong cùng những điều kiện như nhau, việc giao dịch với
khách hàng cụ thể này thì thành công với khách hàng khác thì bất lợi. Vì vậy, một
nhiệm vụ quan trọng của các đơn vị kinh doanh trong giai đoạn chuẩn bị là lựa chọn
khách hàng. Việc lựa chọn khách hàng thường không căn cứ vào những lời quảng cáo,
tự giới thiệu mà cần tìm hiểu khách hàng, về thái độ chính trị của thương nhân, khả
năng tài chính, lĩnh vực kinh doanh và uy tín của họ trên trường quốc tế.
1.3.2 - Nghiên cứu nguồn hàng và tổ chức thu mua xuất khẩu
Có hai phương pháp nghiên cứu nguồn hàng: lấy mặt hàng làm đối tượng
nghiên cứu và lấy đơn vị sản xuất kinh doanh làm cơ sở nghiên cứu.
*Lấy mặt hàng làm đối tượng nghiên cứu: Theo phương pháp này người ta
nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ của từng mặt hàng. Nhờ đó có thể biết được
tình hình chung và khả năng sản xuất cũng như nhu cầu xuất khẩu của từng mặt hàng.
* Lấy đơn vị sản xuất kinh doanh làm cơ sở nghiên cứu: Theo phương pháp
này người ta theo dõi năng lực sản xuất và cung ứng của từng cơ sơ sản xuất. Năng lực
sản xuất này thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
+ Số lượng, chất lượng hàng hoá cung ứng.
+ Giá thành
+ Trình độ công nhân
+ Trang thiết bị, máy móc
Phương pháp lấy đơn vị sản xuất kinh doanh làm cơ sở nghiên cứu giúp nắm
bắt được tình hình cung ứng của từng xí nghiệp, địa phương nhưng lại không nắm bắt
được tình hình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng nên thông thường các đơn vị kinh doanh
+ Hoàn giá: Khi nhận đựơc lời chào hàng và không chấp nhận giá chào hàng đó
đồng thời đưa ra những đề nghị gọi là chào hoàn giá.
+ Xác nhận: Là việc xác nhận lại điều kiện mà hai bên đã thoả thuận trước đó.
Việc này đồng nghĩa với việc kí kết hợp đồng.
+ Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện chào hàng mà bên kia
đưa ra.
Khi kí kết hợp đồng cần chú ý:
* Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng, sạch đẹp, nội dung phải phản ánh đúng,
đầy đủ các vấn đề đã thoả thuận.
* Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng phải là ngôn ngữ phổ biến và là ngôn ngữ mà
cả hai bên cùng thông thạo.
* Người kí kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền kí kết.
* Hợp đồng phải đề cập rõ vấn đề khiếu nại, trọng tài để giải quyết các vấn đề
tranh chấp phát sinh nếu có tránh tình trạng tranh cãi, kiện tụng kéo dài thời gian và
chi phí tốn kém.
1.3.5 - Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương doanh nghiệp xuất khẩu, với tư
cách là một bên kí kết, phải thực hiện hợp đồng đó. Việc này đòi hỏi phải có sự tuân
thủ những quy định của luật quốc gia và luật quốc tế, cũng như các tập quán quốc tế.
Đồng thời, phải bảo đảm được quyền lợi của quốc gia cũng như quyền lợi và uy tín
của doanh nghiệp. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để
thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp xuất khẩu cần có sự cố gắng tiết kiệm chi phí lưu
thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch.
Các bước tiến hành để thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
+ Xin giấy phép xuất khẩu.
+ Giục mở L/C và kiểm tra L/C
+ Chuẩn bị hàng để xuất khẩu
+ Kiểm tra hàng hoá
+ Thuê tàu hoặc uỷ thác thuê tàu
nghiệp kinh doanh xuất khẩu tự kiểm nghiệm mà không làm đúng chức năng của
mình. Việc kiểm tra có thể tiến hành ở cửa khẩu hoặc tại cơ sở, tuỳ thuộc vào đặc điểm
của từng loại hàng hoá.
1.3.5.4 - Thuê tàu
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, người có hàng
nhưng lại không có công cụ, phương tiện vận tải biển để chuyên chở cho nên khi giành
được “quyền thuê tàu” họ phải đi thuê các tổ chức vận tải biển để chuyên chở hàng
hoá xuất nhập khẩu. Vì vậy nảy sinh nghiệp vụ thuê tàu. Việc thuê tàu chở hàng dựa
vào các căn cứ sau:
+ Những điều khoản hợp đồng mua bán
+ Điều kiện vận tải.
Tuỳ theo điều kiện hàng đối lưu, người ta có thể thuê khứ hồi hoặc chuyên chở
liên tục. Nếu hàng hoá không có khối lượng lớn thì người ta thường đăng kí (lưu cước)
chỗ của một tàu trọ để chở hàng. Thông thường, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho một công ty vận tải:
Letfracht, Transimex
1.3.5.5 - Mua bảo hiểm:
Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì
vậy, trong kinh doanh quốc tế, bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ
biến nhất. Căn cứ vào các điều khoản, phương thức vận chuyển mà nhà xuất khẩu hay
nhập khẩu tiến hành mua bảo hiểm hay không. Hợp đồng bảo hiểm có thể chia thành:
+ Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm một chuyến hàng từ nơi
này đến nơi khác ghi trên hợp đồng bảo hiểm. Trách nhiệm của người bảo hiểm bắt
đầu và kết thúc theo điều khoản “từ kho đến kho”.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến thể hiện bằng đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận
bảo hiểm do công ty bảo hiểm cấp. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm có giá
trị pháp lý như nhau.
+ Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm nhiều chuyến hàng trong một
thời gian nhất định, thường là một năm. Đối với các chủ hàng có khối lượng hàng hoá
đồng thời nó được chuyển về bộ phận kế toán để làm chứng từ thanh toán.
1.3.5.7 - Thanh toán hợp đồng:
Thanh toán là khâu trọng tâm, là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch
trong kinh doanh nên thủ tục này thường rất phức tạp.
Có nhiều phương thức thanh toán nhưng trong xuất khẩu người ta chủ yếu sử
dụng các phương thức sau:
+ Thanh toán bằng hình thức chuyển tiền .
+ Thanh toán bằng thư tín dụng ( L/C), đây là một loại giấy mà ngân hàng hứa
bảo đảm hoặc hứa trả tiền. Thanh toán bằng L/C là phương thức đảm bảo hợp lý, thuận
tiện, an toàn và hạn chế rủi ro cho cả hai bên đặc biệt là bên bán.
+ Thanh toán bằng phương thức nhờ thu. Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định
thanh toán bằng phương thức này sau khi giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thành
việc lập chứng từ cho ngân hàng để uỷ thác.
1.3.5.8 - Giải quyết tranh chấp:
Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, hai bên nên tìm cách hoà giải, khắc
phục trong sự hợp tác thiện chí, giúp đỡ lẫn nhau. Nếu không tự giải quyết được thì hai
bên phải giải quyết tranh chấp của mình thông qua Trọng tài Quốc tế.
Phần 2
Tình hình hoạt động xuất khẩu Quế ở Việt Nam
2.1 - Vài nét về thị trường xuất khẩu quế trên thế giới
2.1.1 - Nhu cầu về sản phẩm quế trên thế giới
Sản phẩm quế được ưa chuộng và buôn bán trên thị trường thế giới từ rất xa
xưa. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sản phẩm quế ngày càng được sử dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như trong sản xuất mỹ phẩm, trong công nghiệp dược
phẩm, trong công nghiệp thực phẩm Theo tài liệu “Plantation Crops”, thị trường của
sản phẩm quế hiện nay bao gồm cả Châu Mỹ, Châu á và một phần Châu Phi. Nước tiêu
thụ sản phẩm quế nhiều nhất là Mỹ, mỗi năm có nhu cầu 20 - 22 ngàn tấn, nhưng chỉ
mua được 12-15 ngàn tấn, Nhật Bản có nhu cầu khoảng 8.000 tấn/năm, nhưng thường
quy mô sản xuất gặp nhiều khó khăn, vì nói chung hiện nay hầu hết các nước có khả
năng sản xuất quế thường là những nước kinh tế đang phát triển. Những vùng có tập
quán sản xuất quế lại thường ở vùng trung du miền núi, phần nhiều thuộc các dân tộc ít
người với phương thức canh tác còn lạc hậu. Cho nên, cho đến nay, khả năng sản xuất
quế vẫn ngày càng cách xa nhu cầu.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những lý do khác nữa khiến cho nhu cầu về sản
phẩm quế lớn trong khi khối lượng nhập lại hạn chế. Đó là:
- Sự đa dạng hoá thị trường xuất khẩu của các nước sản xuất quế chính. Trong
nền kinh tế toàn cầu ngày nay, thị trường không còn bó hẹp hạn chế như trước kia,
trước năm 1990 khi thế giới còn chia làm hai cực: các nước tư bản chủ nghĩa và các
nước xã hội chủ nghĩa. Các nước sản xuất quế chính mở rộng thị trường, mở rộng bạn
hàng của mình với nhiều quốc gia khác nhau cho nên lượng quế xuất khẩu bị phân tán.
- Theo quy luật cung cầu về giá nhu cầu lớn trong khi lượng cung cấp không
tăng không đáp ứng ngay được nên giá của sản phẩm tất yếu sẽ tăng lên. Với mức giá
này nhiều nước có nhu cầu lớn song lại không có khả năng mua với khối lượng lớn.
Cho nên họ chỉ mua được ở một khối lượng nhất định nhằm đáp ứng phần nào phục vụ
cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng sản phẩm quế trong nước.
2.1.2 – Tình hình cung cấp sản phẩm quế trên thị trường thế giới
Trong những năm gần đây khối lượng sản phẩm quế trên thế giới không ngừng
gia tăng về số lượng xuất khẩu, bình quân mỗi năm trên dưới 30 ngàn tấn. Những nước
tiêu dùng nhiều quế lại chính là những nước không tự sản xuất được quế vì thiếu những
điều kiện tự nhiên và môi trường. Do đó, điều kiện này chính là yếu tố quyết định, là
lợi thế lớn cho những nước sản xuất và xuất khẩu sản phẩm quế chính trên thế giới.
Cây quế sinh trưởng và phát triển ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần
trên, ở những nơi này quế cũng chỉ phát triển tốt và thích hợp ở một số vùng. Cung cấp
sản phẩm quế trên thị trường thế giới chủ yếu là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam và
quần đảo Xrilanca. Trong đó nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất là Indonesia
(chiếm khoảng 42% tổng khối lượng xuất khẩu của toàn thế giới), tiếp đó là Trung
Quốc (40%), trong đó Việt Nam chỉ chiếm một phần rất nhỏ (10%) mặc dù nước ta
đơn (còn gọi là quế Trung Quốc).
2.2.1.1 - Quế thanh ( quế quỷ )
Loại quế này có tên khoa học là Cinnaomon Loreirli Gare EBI. Loại quế này có
thân cao từ 12-20 mét, cành non vuông nhẵn, lá cây gần như bầu dục, thuôn lại ở hai
đầu gần như mọc đối, mũi nhọn, ba gân rõ. Hoa quế họp thành chuỳ, quả hình trứng,
non có màu lục, khi chín có mầu nâu tím, sáng bóng. Quả đựng trong đấu có bao hoa
tồn tại dưới quả, thuỳ cắt cụt gần đỉnh. Đây là giống quế thuộc dòng Cinnamon. Quế
Thanh có giá trị dược liệu cao, nhân dân ta thường dùng để chữa nhiều loại bệnh và
bồi bổ sức khoẻ.
2.2.1.2 - Quế quan ( quế Srilanca )
Loại này có tên khoa học là cinamunon Zeylanicum Gare EXBI. Loại
này có thân cao khoảng 20-25 mét, cành non vuông, có lông ngắn và rải rác.
Lá quế quan mọc đối, dài, hình bầu dục, nhẵn bóng hơi nhọn ở gốc, tù ở hai
đầu. Hoa mọc thành chuỳ, quả mọng hình bầu dục có bao hoa tồn tại, thuỳ cắt
cụt ở giữa. Loại quế này cũng thuộc dòng Cinnamon. Loại Quế này được
trồng chủ yếu ở một số nơi: Thanh Hoá, Nghệ An, Vũng Tàu, Tây Ninh So
với hai loại quế trên, đây là loại quế không được ưa chuộng bằng trên thị
trường thế giới. Do giống cây nhỏ và lượng tinh dầu cũng ít hơn. Có thể nói,
đây là giống quế kém năng suất hơn hai loại quế đơn và quế thanh.
2.2.1.3 - Quế đơn (quế Trung Quốc)
Đây là loại quế có tên khoa học là Cinnamon Cassa Nees EXBI. Thân cao 12-
17 mét, lá quế mọc cách, dai, sáng bóng và hoa mọc thành chuỳ. Quả hình bầu dục
đựng trong đấu nguyên hoặc hơi chia thuỳ. Loại quế này thuộc dòng Cassia. Loại Quế
này trồng ở Quảng Ninh, Yên Bái, Quảng Nam-Đà Nẵng, chủ yếu để làm gia vị thực
phẩm. Đây là loại quế tốt, loại quế đặc biệt, các nước thường mua với giá rất cao để
làm dược liệu chữa bệnh và làm thuốc bổ.
Hiện nay, ở Việt Nam loại quế thanh và quế quan tuy cũng có nhưng số liệu
không nhiều như quế đơn. Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu là xuất
khẩu quế đơn. Như vậy có thể nói rằng nước ta có ưu thế về giống quế đơn. Trong
chất lượng, đồng thời yêu cầu kinh doanh cũng đem lại hiệu quả cao.
2.2.2.2 - Gỗ và tinh dầu
Trong sản xuất kinh doanh quế, ngoài vỏ - sản phẩm chính - còn thu được một
sản lượng gỗ, tinh dầu chưng cất ở lá, cành non, rễ. Giá trị các sản phẩm này đem lại
cũng tương đối lớn và có công dụng không kém phần quan trọng. Sau khi lột vỏ, quế
cho 8-10 m
3
gỗ/ha/năm. Ngoài ra bình quân mỗi hecta quế còn cho đến 5-8 ste củi,
cành, ngọn. Quế có giá trị sử dụng nhiều mặt, vì thời gian sản xuất dài nên gỗ có thể
đáp ứng cho nhiều nhu cầu: xây dựng, gia công đồ mộc, làm gỗ trụ mỏ. Cây quế được
trồng trong khoảng 10 năm với mật độ thích hợp đem lại năng suất vỏ cũng như sản
lượng gỗ cao, đáp ứng yêu cầu chất lượng cả về vỏ lẫn gỗ. Năng suất gỗ nói trên tương
đương với năng suất gỗ của rừng trồng thuần loại như bồ đề, bạch đàn, mỡ , và cao
hơn 2-3 lần rừng tự nhiên hiện đang khai thác. Như vậy, chỉ trong khoảng 10 năm,
ngành sản xuất quế đáp ứng được 2 loại nhu cầu: vỏ và gỗ với năng suất cao. Hơn nữa,
gỗ quế thẳng và cứng, có tinh dầu nên ít bị mối, mọt, dùng làm trụ mỏ vừa đạt yêu cầu
kỹ thuật (phù hợp với kích cỡ gỗ trụ mỏ 15-20 cm) vừa bền hơn các loại gỗ khác. Do
đó, có thể coi kinh doanh sản xuất gỗ quế - bên cạnh sản phẩm chính là vỏ - cũng là
một hướng quan trọng để giải quyết yêu cầu gỗ trụ mỏ công nghiệp địa phương và nhu
cầu gỗ dân dụng, chất đốt.
Ngoài ra, quế còn thu được tinh dầu khá lớn ở lá, cành non và rễ. Chẳng hạn
tinh dầu ở lá, hoa và rễ có thể thu được của quế trồng ở Quảng Ninh, Quảng Nam - Đà
Nẵng khoảng 30-60 kg/ha/năm, quế trồng ở Yên Bái: 30-50kg/ha/năm. Đó chưa kể nếu
dùng các cành nhỏ, mầm non để chưng cất tinh dầu cũng có thể cho sản lượng 20-
30kg/ha. Nói về tinh dầu quế ở trên thế giới, nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất là
Xrilanca và Trung Quốc. Xrilanca là nước lớn nhất và có lẽ là duy nhất xuất khẩu loại
tinh dầu Quế Cinamomum zeylanicum. Việt Nam , Indonesia và Đài Loan cũng có sản
xuất tinh dầu Quế song lượng xuất khẩu nhỏ, không đáng kể, chủ yếu để tiêu dùng
trong nước.
1994
1996
1997
1999
2002
T
ổng diện tích
10.590
10.800
11.260
11.400
11.700
12.000
Yên Bái
5.260
5.500
2.200
2.240
2.300
2.400
2.400
2.500
(Nguồn: Tài liệu thống kê của Cục quản lý lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn)
Từ năm 1993 đến 2002, tổng diện tích trồng quế ở 3 vùng trồng quế chính ở
nước ta tăng liên tục. Tuy mức độ tăng chưa nhiều nhưng đây cũng là một tín hiệu
đáng mừng. Điều này có được có thể do người nông dân đã bước đầu nhận thức được
giá trị to lớn của quế, Nhà nước cũng đã có những biện pháp hỗ trợ kịp thời cho người
trồng quế, …
Yên Bái là vùng sản xuất quế lớn chiếm 47,5% diện tích trồng của cả nước. Đạt
được điều này, một phần do Yên Bái có điều kiện tự nhiên thích hợp, đồi núi nhiều,
hơn nữa lại được sự quan tâm của chính quyền sở tại, coi sản xuất quế là ngành mũi