Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
Mục lục Trang
Lời nói đầu 2
Phần I: Những vấn đề về cơ sở lý luận 4
1. Lực lợng sản xuất 4
2. Quan hệ sản xuất 6
Phần II: Vai trò của lực lợng sản xuất đối với sự phát
triển xã hội. 6
1. Lực lợng sản xuất là phơng tiện để tiến hành
sản xuất vật chất cho xã hội 6
a. Vai trò của nhân tố con ngời đối với sự phát
triển xã hội 6
b. Vai trò nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ
đối với xã hội 8
2. Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX làm
cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này
lên hình thái xã hội khác cao hơn 10
Phần III: Vấn đề phát triển LLSX ở Việt Nam hiện nay 12
1. Thực trạng lực lợng sản xuất ở Việt Nam 12
a. Thực trạng phát triển và phân bố nguồn nhân lực 12
b. Thực trạng khoa học - công nghệ 14
2. Phơng hớng phát triển LLSX ở Việt Nam 17
a. Phơng hớng phát triển và đẩy mạnh nền kinh
tế tri thức 17
b. Nâng cao chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam 20
c. Xây dựng QHSX phù hợp LLSX nhằm thúc đẩy
LLSX phát triển 23
tàn phá nặng nề sau chiến tranh, vì vậy phát triển lực lợng sản xuất nhằm xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề trọng tâm hiện nay. Trong hơn 15 năm
đổi mới, chúng ta đã sai lầm khi phát triển lực lợng sản xuất trên cơ sở quan hệ
sản xuất vợt quá xa. Điều đó không những không thúc đẩy mà còn kìm hãm sự
phát triển của lực lợng sản xuất khiến nền kinh tế bị trì trệ trong một thời gian
dài. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, xác định rõ nguyên
nhân, xem xét lại cả về nhận thức, phơng pháp tiến hành xây dựng, phát triển
lực lợng sản xuất và đề ra đờng lối đúng đắn cho công cuộc phát triển lực lợng
sản xuất trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay. Vai trò của lực lợng sản xuất
ra sao, sự phát triển lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay nh thế nào là những
vấn đề sẽ đợc đề cập trong bài viết này. Kết cấu của tiểu luận gồm ba phần:
Phần I : Những vấn đề về cơ sở lý luận.
2
Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
Phần II : Vai trò của lực lợng sản xuất đối với sự phát triển xã hội.
Phần III: Vấn đề phát triển lực lợng sản xuất ở Việt Nam hiện nay.
Do trình độ kiến thức còn hạn chế nên trong bài viết này không tránh
khỏi những sai sót nhất định. Em mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo để bài viết đợc hoàn chỉnh hơn. Qua đây, em xin chân thành
cảm ơn thầy giáo - PGS. TS. Đoàn Quang Thọ, cô giáo - Th.s Nguyễn Vân Hà
đã giúp em hoàn thành bài viết này.
Nội dung
3
Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
I. những vấn đề về Cơ sở lý luận
1. Lực lợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên.
thành một thể thống nhất, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra các phơng
pháp sản xuất mới. Khoa học cũng đã phát hiện và đề ra những phơng pháp
khai thác những nguồn năng lợng mới mạnh hơn, dồi dào hơn và chế tạo hàng
loạt những vật liệu nhân tạo thay thế cho những vật liệu lấy từ thiên nhiên với
những tính năng và ứng dụng hơn hẳn. Khoa học lại tạo ta hàng loạt phơng
tiện kỹ thuật và quá trình công nghệ mới về chất lợng trong sản xuất. Nếu nh
trớc kia khoa học chủ yếu là tổng kết từ thực nghiệm và sản xuất trực tiếp thì
4
Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
ngày nay việc nghiên cứu khoa học lại tạo ra kỹ thuật sản xuất; ngợc lại muốn
giải quyết những vấn đề về kỹ thuật sản xuất thì phải dựa trên cơ sở nghiên
cứu khoa học. Cha bao giờ tri thức khoa học đợc vật hoá, kết tinh và thâm
nhập vào các yếu tố của lực lợng sản xuất - từ trong đối tợng lao động , công
cụ lao động, kỹ thuật và quá trình công nghệ - và cả quan hệ sản xuất nhanh
nh hiện nay. Tri thức khoa học bao hàm trực tiếp trong hoạt động của ngời lao
động sản xuất, dần dần chiếm vị trí chỉ đạo thay cho thói quen và kinh nghiệm
truyền thống. Ngời lao động tiến lên vận dụng tri thức khoa học để điều khiển,
kiểm tra quá trình sản xuất (tự động hoá) nhằm tổ chức hoạt động của mình
một cách có hiệu quả nhất. Từ đây chức năng của con ngời có những biễn đổi
to lớn, con ngời không phải trực tiếp tiến hành những thao tác trong hệ thống
kỹ thuật mà chủ yếu là sáng tạo và điều khiển quá trình đó. Khoa học không
còn là lý thuyết đứng ngoài quá trình sản xuất vật chất mà trở thành bộ phận
bên trong không thểv thiếu của hệ thống sản xuất trong cả lực lợng sản xuất
lẫn quan hệ sản xuất.
Trong các yếu tố hợp thành lực lợng sản xuất, ngời lao động giữ vị trí
hàng đầu. Chính con ngời chế tạo ra t liệu lao động, luôn luôn cải tiến và sử
dụng nó để tiến hành sản xuất. T liệu lao động, dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu
nhng nếu không đợc con ngời tác dụng thì không thể trở thành lực lợng sản
xuất có ích đợc. Sự tiến bộ của t liệu lao động thể hiện năng lực sáng tạo của
con ngời trong thực tiễn.
Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tơng đối trong bản chất xã hội và
mang tính phong phú, đa dạng trong hình thức biểu hiện.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất trong một
phơng thức sản xuất.
II. Vai trò của lực lợng sản xuất đối với sự phát triển x hộiã
1. Lực lợng sản xuất là phơng tiện để tiến hành sản xuất vật chất cho
xã hội
Để thoả mãn những nhu cầu đầu tiên, cơ bản của con ngời, Mác thấy con
ngời phải chế tạo ra công cụ lao động, cái mà sau này Mác gọi bằng những
khái niệm rộng hơn và chính xác hơn là t liệu lao động, t liệu sản xuất, lực l-
ợng sản xuất. Nh vậy loài ngời tồn tại và phát triển trên thế giới này, không
phải do phép màu của một lực lợng huyyền bí hay ý chí của bậc vĩ nhân mà do
sự tồn tại và phát triển của những phơng thức kế tiếp nhau trong lịch sử.
a) Vai trò của yếu tố con ngời đối với sự phát triển của xã hội
Phải ý thức đợc rằng nhân tố hàng đầu trong lực lợng sản xuất là con ng-
ời, là ngời lao động. Sự phát triển của lực lợng sản xuất xuất phát chủ yếu từ
con ngời, chính con ngời làm nên những cuộc cách mạng to lớn trên tất cả mọi
lĩnh vực kinh tế , văn hóa, chính trị; tạo nên sự biến đổi không ngừng xã hội
loài ngời.
Từ khi loài ngời xuất hiện, lao động là không thể thiếu trong sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài ngời. Trong những bớc đi chập chững đầu tiên, loài
ngời đã biết dùng những công cụ thô sơ nhất để tác động vào tự nhiên làm ra
sản phẩm nuôi sống bản thân. Chính nhờ có lao động và ngôn ngữ, con ngời
trở thành loài động vật cao cấp nhất trong giới tự nhiên, biết dùng ý chí của
mình để biến đổi thế giới. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, công cụ
lao động đã dần dần đợc phát triển từ những công cụ thô sơ nhất nh đồ đá,
cung tên đến những công cụ bằng kim loại và ngày nay là máy móc vô cùng
hiện đại. Tất cả những sự biến đổi lớn lao đó là do con ngời tạo ra. Dù cho
khoa học kỹ thuật có phát triển đến mức độ nào, công cụ lao động có hiện đại
đến đâu thì vai trò của con ngời là không thể phủ nhận. Con ngời vẫn luôn là
kể. Thành công vang dội của Singapore có phần nhờ chủ nghĩa nhân tài do
ông Lý Quang Diệu đề ra và thực thi, với nội dung: tài nguyên duy nhất của
Singapore là con ngời; không đào tạo và sử dụng nhân tài thì đất nớc sẽ suy
vong. Còn trong Báo cáo chính trị tại đại hội XV Đảng Cộng Sản Trung Quốc
viết: Nhân tài là nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong phát triển kinh tế xã
hội. Các nớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng hoàn toàn có
thể dựa vào biện pháp phát triển nguồn tài nguyên con ngời của mình để từng
bớc phát triển xã hội.
b) Vai trò của nền kinh tế tri thức, khoa học-công nghệ đối với xã hội
Kinh tế tri thức là một khái niệm mới đang đợc nhiều quốc gia và các
tổ chức quốc tế bàn luận. Tuy ý kiến còn khác nhau về cách định nghĩa, nhng
đều thống nhất rằng: kinh tế tri thức lấy yếu tố tri thức hiện đại của khoa học,
công nghệ và quản lý làm nền tảng (với tỷ lệ đóng góp của yếu tố tri thức này
trong tăng trởng kinh tế, trong sản xuất các sản phẩm và dịch vụ khoảng từ
70% trở lên). Với sự phát triển của kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ
7
Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
thực sự trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp làm ra sản phẩm ở hầu hết các
ngành, các lĩnh vực. Sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức gắn chặt
với những bớc nhảy vọt về chất của cuộc cách mạng và công nghệ hiện nay,
đặc biệt công nghệ thông tin (kỹ thuật số...), công nghệ sinh học (công nghệ
gien...), công nghệ vật liệu mới (công nghệ Nanô...). Công nghệ có vai trò đặc
biệt trong nền kinh tế tri thức và phát triển nhanh chóng, nhất là công nghệ
thông tin. Trong lịch sử khoa học công nghệ, cho tới nay, cha có một lĩnh vực
nào, phát minh khoa học nào lại có tác động vào đời sống kinh tế, xã hội,
chính trị và văn hoá lớn lao nh công nghệ thông tin. Bởi vì công nghệ đó tạo ra
năng lực sản xuất mới, các loại dịch vụ mới, tạo ra tri thức mới và kinh tế mới.
Khái niệm kinh tế tri thức đợc Liên hợp quốc chính thức sử dụng vào
những năm cuối thập kỷ 90. Đó là nền kinh tế chủ yếu dựa vào khoa học và
tri thức, cốt lõi của nền kinh tế tri thức chính là công nghệ cao.
công nghệ mang lại. Trong nền kinh tế mới, tăng trởng kinh tế chủ yếu do quá
trình chuyển hoá từ tiêu hao của cải vật chất sang tiêu hao trí thức và giá trị
sản phẩm hàng hoá do trí thức tạo ra không ngừng tăng lên. Rất nhiều ngành
trong nông nghiệp, công nghiệp đang trở thành những ngành hoạt động cần có
tri thức. Do đó phần đông lao động trong các nớc công nghiệp có trình độ
chuyên môn và nghề nghiệp cao. Nếu nh trớc đây các nền kinh tế cố gắng duy
trì các ngành nghề truyền thống thì nền kinh tế tri thức hớng đến tạo ra các
nghề mới ứng dụng tri thức và công nghệ. Do đó tri thức đợc đề cao và xếp
đúng vị trí của nó. Công nghệ thông tin là sản phẩm kỳ diệu của tri thức. Với
mạng Internet, công nghệ thông tin đã làm cho không gian trở nên nhỏ bé. Tri
thức, công nghệ, vốn, hàng hoá, lao động, cách quản lý... không bị bó buộc
trong biên giới một quốc gia, giúp cho hoạt động kinh tế mang tính toàn cầu,
rút ngắn khoảng cách giữa những ngời sản xuất với nhau và với ngời tiêu
dùng. Mặc dù các khâu trung gian giảm nhng hiệu quả sản xuất vẫn đợc nâng
lên.
Các nớc đang phát triển, nhờ nền kinh tế tri thức mà có những cơ hội to
lớn hơn để tăng trởng nhanh và có thể đuổi kịp các nớc công nghiệp. Điều cơ
bản là những nớc này phải có ý tởng mới, biết nắm bắt lợi ích của công nghệ
hiện đại. Kết quả nghiên cứu nền kinh tế các nớc Đông á cho thấy có thể thu
hẹp khoảng cách về tri thức trong khoảng thời gian ngắn hơn so với việc thu
hẹp khoảng cách về nguồn vốn vật chất. Nhờ có sự đầu t hợp lý về vốn vật chất
để hỗ trợ cho vốn tri thức mà khoảng cách về vốn và khoảng cách về tri thức
đều đợc thu hẹp lại.
Những nớc không khuyến khích đầu t vào việc sử dụng tri thức có hiệu
quả vào trong các ngành kinh tế sẽ bị tụt hậu xa hơn so với những nớc thành
công trong việc biết khuyến khích đầu t để sử dụng nó.
Thứ ba, tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trờng.
Đằng sau sự thịnh vợng của các nớc đang phát triển là hiểm họa ô nhiễm môi
trờng. May thay, nhiều nớc đang phát triển đã nhận thức đợc ngững sai lầm
nghiêm trọng do không có chính sách bảo vệ môi trờng. Hiện nay, mọi quốc
và biến đổi theo sao cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất. Sự phù hợp đó làm cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Khi lực l-
ợng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn
phù hợp, tất yếu sinh ra mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng thức sản
xuất. Kết quả là quan hệ sản xuất cũ bị xoá bỏ và đợc thay thế bằng quan hệ
sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất đã thay
đổi, mở đờng cho lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển. Việc xoá bỏ quan hệ
sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới chính là sự diệt vong của
phơng thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phơng thức sản xuất mới.
C. Mác viết: Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lợng sản xuất
vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... mà
trong đó từ trớc đễn nay, các lực lợng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là
hình thức phát triển của lực lợng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng
xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách
mạng xã hội .( C. Mác, Ph. Ăng-ghen: Tuyển tập, tập I )
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu sản xuất và của lao
động. Trong các chế độ xã hội trớc chủ nghĩa t bản công cụ sản xuất nh búa,
rìu, cày, bừa... đều do một ngời sử dụng, không cần tới lao động tập thể. Đến
khi máy móc ra đời, phân công lao động xuất hiện và phát triển, lực lợng sản
xuất mới mang tính chất xã hội hoá. Do t liệu sản xuất có tính chất cá nhân
chuyển sang tính chất xã hội nên cần nhiều ngời cùng làm mới sử dụng đợc.
Nh vậy để làm ra một sản phẩm cần phải có sự hợp tác của nhiều ngời có sự
phân công lao động rõ ràng.
10
Lê Thị Nhật Phơng Kinh tế Phát triển 44A
Trình độ của lực lợng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao
động, của kỹ thuât, kỹ năng lao động của con ngời, trình độ phân công lao
động trong xã hội... Trình độ phân công lao động xã hội là cơ sở phản ánh rõ
ràng nhất trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Trình độ lực lợng sản xuất
càng cao thì sự phân công lao động xã hội càng chi tiết.
sang phơng thức sản xuất khác, hình thành các hình thái kinh tế-xã hội khác
nhau.
C. Mác viết: Do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay đổi
phơng thức sản xuất của mình, và do thay đổi phơng thức sản xuất, cách làm
ăn của mình, loài ngời đã thay đổi tất cả những mối quan hệ của mình .
( Triết học xã hội - Tập II - A. G. Xpi-Rkin )
11