TIỂU LUẬN:
Những cơ sở lý luận chung về nội dung của
quy luật lượng- chất, ý nghĩa thực tiễn của
việc nhận thức quy luật này, sự vận dụng
quy luật này để phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt nam Mở đầu
Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con
người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện
tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật”. Với tư cách là phạm trù của lý luận
nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học, phản ánh sự liên hệ
của các sự vật và tính chỉnh thể của chúng.
Phần I
Những vấn đề lý luận của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay
đổi về chất và ngược lại
Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại là một
trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này chỉ rõ tính
chất và cách thức của sự phát triển.
1- Các khái niệm
1.1- Khái niệm về chất
Chất là tính quy định vốn có của sự vật hiện tượng được biểu hiện thông qua các
thuộc tính và đặc điểm cấu trúc của sự vật. Tính quy định là cái vốn có của sự vật,
điểm nút gọi là đường nút.
1-5-Bước nhảy
Sự thay đổi căn bản về chất, cái cũ mất đi cái mới ra đời phải thông qua bước
nhảy.
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự biến đổi căn bản từ chất sự
vật này sang chất của sự vật khác.
+ Bước nhảy đốt biến là bước nhảy xảy ra trong thời gian ngắn làm thay đổi bản
chất của sự vật. Bước nhảy này diễn ra bằng một sự bùng nổ mãnh liệt. VD cách mạng
tháng Mười Nga là một bước nhảy đột biến.
+ Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện bằng việc loại bỏ dần những
yếu tố, những bộ phận chất cũ xảy ra trong một thời gian dài mới loại bỏ hoàn toàn
chất cũ thành chất mới.
2- Nội dung quy luật từ những thay đổi dần về lượng dấn đến sự thay đổi về
chất và ngược lại.
Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội cũng như sự phát
triển nhận thức tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng được tích luỹ lại
khi vượt quá giới hạn độ tới điểm nút thì thì gây nên sự thay đổi căn bản về chất. Sự
vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế.
Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt đối lập vốn có của sự vật hiện tượng.
Lượng thì thường xuyên biến đổi, còn chất tương đối ổn định. Do đó sự phát triển của
lượng tới một lúc nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ. Khi chất cũ kìm hãm thì qua đó
nảy sinh yêu cầu tất yếu phải phá vỡ chất cũ, mở ra một độ mới để mở đường cho
lượng phát triển. Sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi
vê chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Quy luật này còn có chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến
thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời do sự biến đổi về lượng gây nên thì chất đó
lại quy định sự biến đổi về lượng, ảnh hởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô,
lượng mới. Cho nên khi chất mới ra đời phải biết xác định tốc độ, quy mô phát triển về
lượng cho thích hợp, không được bảo thủ, dừng lại
-Cần phải chống quan điểm tả khuynh, hữu khuynh. Tả khuynh là phủ nhận tích
luỹ về lượng muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là thì ngược lạikhi
lượng biến đổi đã tới vượt quá độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về
chất. Phần II
Vận dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCn ở Việt
nam
1-Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường định hướng CNXH ở nước
ta
Kinh tế thị trường định hướng XHCNthực chất là phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN nhưng được diến đạt gọn hơn, nói rõ được mô hình hinh tế
tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ.
Nói nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế của chúng
ta không phải là kinh tế hiện vật, tự cấp, tự túc, quản lý theo kiểu tập trung, quan liêu,
bao cấp. Nhưng đó cũng không phải là nền kinh tế thị trường tự do theo cách nói của
tư bản, tức là không phải nền kinh tế thị trường TBCN, và cũng chưa hoàn toàn là kinh
tế thị trường XHCN, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có lại
vừa chưa có đầy đủ các yếu tố CNXH.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là một tất yếu khách
quan. Bởi vì.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kết quả của sự nhận thức và vận dụng
đổi về chất và ngược lại. Điều đó có nghĩa là khi chúng cha chưa tích luỹ được đầy đủ
những điều kiện vật chất cho CNXH thì chúng ta chưa thể nóng vội xây dựng quan hệ
sản xuất XHCN ngay như trước năm 1986 chúng ta đã làm, mà chúng ta phải tiến
hành dần dần, hay nói cách khác, chúng ta phải có một thời kỳ quá độ.
2-Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được sau 15 năm đổi mới.
Sau năm 1975 khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta đã
nóng vội và nhất loạt xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần dựa trên cơ sở công
hữu XHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần kinh tế khác bị coi là bộ phận đối lập
với kinh tế XHCN, vì vậy nằm trong diện phải cải tạo, xoá bỏ, làm như vậy là chúng ta
đã đẩy quan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo
ra mâu thuẫn giữa một bên là lực lượng sản xuất thấp kém với một bên là quan hệ sản
xuất được xã hội hoá giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất,
hay nói cách khác khi lực lượng sản xuất của chúng ta còn quá thấp kém chưa tích luỹ
đủ về lượng (tính chất và trình độ) đã vội vã thay đổi chất (quan hệ sản xuất XHCN)
làm cho đất nước lâm vào tình trang khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Từ đại hội VI của đảng cộng sản Việt nam đến nay, khắc phục sai lầm trên chúng
ta thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xuất phát từ tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất nước ta là đa dạng, không đồng đều và chưa cao.
Thực tiễn sau 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ trương xây dựng kinh tế nhiều
thành phần là phù họp với phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta. Nó đã thực sự giải
phóng , phát triển và khơi dậy các tiềm năng của sản xuất. Khơi dậy năng lực sáng tạo
chủ động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng
hoảng kinh tế- xã hội.
2. Nghị quyết đại hội Đảng lần 8 - 9
3. Vận dụng nghị quyết 9.
4. Tạp chí cộng sản.