Chơng I
Những cơ sở lý luận chung của doanh nghiệp
vừa và nhỏ
1. Khái niệm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhiu chuyờn gia kinh t v phỏp lut ca Vit Nam cho rng khỏi
nim doanh nghip va v nh v sau ú khỏi nim doanh nghip nh v
cc nh c du nhp t bờn ngoi vo Vit Nam. Vn tiờu chớ doanh
nghip va, nh v cc nh l trung tõm ca nhiu cuc tranh lun v s
phỏt trin ca khu vc ny trong nhiu nm qua. nh ngha v doanh
nghip nh v va, doanh nghip nh v cc nh rừ rng phi da trc tiờn
vo quy mụ doanh nghip. Thụng thng ú l tiờu chớ v s nhõn cụng, vn
ng kớ, doanh thu..., cỏc tiờu chớ ny thay i theo tng quc gia, tng
chng trỡnh phỏt trin khỏc nhau.
Vit Nam ó gii quyt vn nh ngha ny mt phn no. Cụng
vn s 681 /CP-KTN ban hnh ngy 20-6-1998 theo ú doanh nghip nh
v va l doanh nghip cú s cụng nhõn di 200 ngi v s vn kinh
doanh di 5 t ng (tng ng 378.000 USD - theo t giỏ gia VND v
USD ti thi im ban hnh cụng vn). Tiờu chớ ny t ra nhm xõy dng
mt bc tranh chung v cỏc doanh nghip va v nh Vit Nam phc v
cho vic hoch nh chớnh sỏch. Trờn thc t tiờu chớ ny khụng cho phộp
phõn bit cỏc doanh nghip va, nh v cc nh. Vỡ vy, tip theo ú Ngh
nh s 90/2001/N-CP a ra chớnh thc nh ngha doanh nghip nh v
va nh sau: Doanh nghip nh v va l c s sn xut, kinh doanh
c lp, ó ng ký kinh doanh theo phỏp lut hin hnh, cú vn ng
ký khụng quỏ 10 t ng hoc s lao ng trung bỡnh hng nm khụng
quỏ 300 ngi. Cỏc doanh nghip cc nh c quy nh l cú t 1 n 9
nhõn cụng, doanh nghip cú t 10 n 49 nhõn cụng c coi l doanh
nghip nh.
2.Tiªu chÝ ph©n lo¹i doanh nghiÖp võa vµ nhá
Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và
quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại doanh
ngành (I
b
) để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau.
Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy
mô doanh nghiệp cũng khác nhau. Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (I
a
) để
đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các
vùng khác nhau.
Bảng : Tham khảo về tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước
TÊN NƯỚC TIÊU CHÍ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
ÚC
- Sản xuất : dưới 100 LĐ
- Phi sản xuất: dưới 20 LĐ
MỸ
- Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ
- Doanh nghiệp vừa: 101-499 LĐ
NHẬT
- Sản xuất:dưới 300 LĐ hoặc dưới 100 triệu Yên
- Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên
CHLB ĐỨC - Dưới 500 LĐ
ĐÀI LOAN
- Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 LĐ
- Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 LĐ
- Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NT$ doanh thu,
dưới 50 LĐ
(Nguồn : tổng hợp từ dữ liệu sưu tầm được qua các trang web trên mạng)
Tính lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng
với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc
nhỏ. Như vậy trong việc xác định quy mô doanh nghiệp cần tính thêm hệ số
: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh
nghiệp;
S
a
: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế một
quốc gia, khu vực và toàn cầu. Các ưu thế và nhược điểm của loại hình
doanh nghiệp này sẽ được trình bày dưới đây nhằm đem lại một cái nhìn sâu
vào bản chất của loại hình này, cho phép ta định ra hướng đi rõ ràng trong
việc xác định hướng phát triển cho loại hình này.
3.Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng
thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh
hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình
thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các
nhu cầu và thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể bước
vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do
quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất,
những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn
không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng
lớn. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất
phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:
- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén
với thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các
điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản
phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ
dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng
thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ cảu nó, doanh nghiệp có
thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển
Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các
hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính
các lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của SMEs nằm trong chính đặc điểm
của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm
vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay
tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanh nghiệp
mà nó cung cấp sản phẩm.
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc
biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,
thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản
phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển,... nói cách khác là không
đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao
được năng suất và hiệu quả kinh doanh.
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trườngcác doanh nghiệp
vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường.
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, SMEs gặp khó khăn trong thiết lập
và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương
doanh nghiệp đó đang hoạt động.
- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, SMEs gặp khó khăn trong
thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường
5. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
a. Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương
pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải
quyết thất nghiệp hiệu quả nhất
Thứ nhất, do đặc tính phân bố rải rác của chúng. Các doanh nghiệp
Các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một lượng lớn lao động
và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá. Để có thêm sức cạnh
tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung
thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có
nhiều cơ hội được lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường
nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ.
c. Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh
Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốn
làm việc trong các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để tiện đường
vùng vẫy. Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ rất thích hợp đối với họ
trong việc thử sức của mình. Bên cạnh đó các công ty tư nhân lớn nói chung
đều xuất phát từ các công ty nhỏ đi lên. Tập đoàn Microsoft của tỷ phú Bill
Gates cũng do ông ta xây dựng dần lên. Ông ta vào lúc 20 tuổi vẫn còn là
một người chưa có nhiều tài sản, bỏ học đại học để mở doanh nghiệp riêng
của mình. Chưa đầy 30 năm sau đã trở thành người giàu nhất thế giới, là
một điển hình của người làm giàu dựa vào năng lực của mình.
Các công ty nhỏ là còn là nơi huấn luyện nguồn nhân lực cho các
công ty lớn. Các nhân viên sẽ học được những kỹ năng ban đầu về quản lý
rất cần thiết, được công ty lớn đánh giá cao như là:
Điều hành kinh doanh Quan hệ với khách hàng
Kiểm soát và quản lý nhân viên Quy định xuất nhập khẩu
Quản lý thời gian Công nghệ thông tin hiện đại
Điều hành văn phòng Các quy định về thuế
Hậu cần Hệ thống cung cấp và phân phối
Bán hàng và tiếp thị Luật lệ công ty
Xúc tiến sản phẩm và dịch vụ Bán hàng
Định giá và lợi nhuận Quan hệ với quan chức chính phủ
Đây là các kỹ năng cần thiết cho công việc ở các công ty lớn và việc đào
tạo chúng cho người lao động cần thời gian. Các doanh nghiệp nhỏ sẽ thực
hiện “hộ” khâu này. Nhân viên công ty nhỏ sau một thời gian có được kinh
nghiệp vừa và nhỏ thì chi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được,
xứng đáng với nguồn lợi thu lại. Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có
các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương.
h. Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản
sắc dân tộc
Trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá các ngành nghề truyền
thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa chế tạo sản phẩm thủ
công với sản xuất dây chuyền hàng loạt. Một ví dụ như: thợ đóng giày có
thể đóng những đôi giày rất bền dùng được hàng năm không hỏng . Nhưng
trong thời hiện đại phải đối mặt với các xí nghiệp sản xuất giày có sản phẩm
không bền lắm, đổi mới theo mùa và giá rẻ hơn so với giày thủ công. Một
thợ thủ công hay vài người thì không thể đương đầu được với các doanh
nghiệp lớn đó. Muốn tồn tại được các thợ thủ công phải hợp nhau lại thành
lập doanh nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng để tìm đến các khách hàng tiềm
năng của các sản phẩm thủ công. Trong xã hội luôn tồn tại nhu cầu đối với
các sản phẩm truyền thống, vấn đề là phải làm cho những khách hàng đó
biết đến sản phẩm của mình.
Loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nói là rất thích hợp cho sản
xuất thủ công. Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất,
kinh doanh, quảng cáo. Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp
cận vào các ngành nghề này. Và đó cũng là một điều cần phải xẩy ra trong
thời đại công nghiệp.
Cụ thể hơn ta hãy hình dung một cảnh như sau: một số thợ đóng giày hợp
nhau lại thành một doanh nghiệp. Trong thành phố địa phương của họ chỉ có
một số nhỏ khách hàng ưa thích loại giày đóng thủ công và sẵn sàng trả giá
(dù là cao) để đi loại giầy này cầu nhỏ. Doanh nghiệp đó đáp ứng được
nhu cầu đó. Sau đó doanh nghiệp tiến hành một chiến dịch quảng cáo trên
các phương tiện thông tin đại chúng và trên Internet. Sau một thời gian các
khách hàng có nhu cầu tương tự ở tại các thành phố khác trong cả nước liên
lạc đặt mua. Tiếp sau nữa là các khách hàng nước ngoài ưa thích kiểu dáng
3-1992 cho các hộ
kinh doanh cá thể
Luật Doanh nghiệp 1999 và Nghị định số
02/2000 hướng dẫn việc thực thi Luật
Doanh nghiệp, đưa ra khuôn khổ pháp lý
hiện đại đầu tiên cho tất cả các doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh trong nước:
Luật quy định việc thành lập các công ty
qua việc đăng ký kinh doanh tự giác, hơn là
thông qua phê chuẩn và cấp phép của chính
phủ.
Luật Phá sản Doanh
nghiệp (1993)
Luật quy định cơ sở để đánh giá các doanh
nghiệp bị phá sản, các thủ tục yêu cầu và
tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Luật Thuế giá trị gia
tăng
Luật Thuế doanh
thu
Luật này xác định mức thuế giá trị gia tăng,
là mức thuế tính trên giá trị hàng hoá và
dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông
và tiêu dùng.
Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp (1999)
Luật Thuế lợi tức Các đối tượng chịu thuế thu nhập của doanh
nghiệp được quy định bởi luật này là thu
nhập của tổ chức và cá nhân có hoạt động
sản xuất và kinh doanh. Tỷ lệ thuế thu nhập
vừa và nhỏ tại việt nam
I. Quá trình hình thành và phát triển các DNVVN tại Việt nam
Quá trình hình thành và phát triển các DNVVN ở Việt nam diễn ra từ
khá lâu, trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau, môi trờng
khác nhau mà nhìn chung là chịu sự ảnh hởng của hai nhóm nhân tố chính là
cuộc trờng kỳ kháng chiến kéo dài gần một thế kỷ và những quan điểm chính
trị thời kỳ hậu chiến tranh.
Giai đoạn trớc năm 1945, khi mà Việt nam còn nằm trong ách thống trị
của thực dân Pháp thì cũng đã tồn tại một số lợng đáng kể các doanh nghiệp
mà lúc đó là các cơ sở, các xởng sản xuất nhỏ chủ yếu tập trung vào các lĩnh
vực nông nghiệp, các nghề thủ công truyền thống. Các mặt hàng giai đoạn nay
phần lớn vẫn ở dạng nguyên sơ nhng cũng đáp ứng đợc nhu cầu củ nhân dân
trong hoàn cảnh rất đặc biệt của thời kỳ đô hộ, thậm chí nhiều hàng còn đợc
gửi đi triển lãm ở một số nớc phơng Tây thời bấy giờ.
Trong giai đoạn từ cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công và cả nớc
bớc vào giai đoạn kháng chiến chống pháp. Các DNVVN lúc này tồn tại cả ở
vùng ta và vùng địch, đáng chú ý là các DNVVN ở vùng căn cứ đã đóng góp
vai trò đáng kể, vừa phục vụ nhu cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp ứng
nhu cầu hậu cần cho kháng chiến lâu dài.
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy, cả miền bắc bắt tay vào xây dựng
lại đất nớc trên con đờng xây dựng CNXH. Các DNVVN ra đời rất nhanh và
nhiều trong giai đoạn này, lúc này chịu sự chi phối của đờng lối chính trị hình
thức hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh đợc khuyến khích phát triển, còn các
DNVVN dới hình thức sở hữu t nhân thì bị loại trừ, trong khi đó loại hình
DNVVN t nhân ở miền Nam lúc đó lại rất phát triển.
Sau khi thống nhất đất nớc năm 1975 và đến trớc đại hội VIII. Điểm
đáng lu ý trong các DNVVN ở giai đoạn này là ở Miền nam, kinh tế t nhân là
hình thức bị kỳ thị và các DNVVN dới hình thức sở hữu t nhân buộc phải quốc
hữu hoá, DNVVN của t nhân bị cải tạo, xoá bỏ, không khuyến khích phát
triển. Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại dới dạng khác nh dới hình thức hộ gia
Chơng trình phát triển dự án Mekong về DNVVN (MPDF). Bên cạnh đó,
Cũng có rất nhiều trung tâm ra đời với mục đích hỗ trợ các DNVVN, đó là
Trung tâm xúc tiến DNVVN thuộc Phòng Thơng mại và Công nghiệp Việt
nam (SME PC/VCCI) ở số 9 Đào Duy Anh, Trung tâm hỗ trợ DNVVN thuộc
Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lờng-Chất lợng (SMEDEC) ở số 8 Hoàng Quốc Việt,
Trung tâm dịch vụ và hỗ trợ DNVVN (BPSC) ở số 7 Nguyễn Thái Học, Câu
lạc bộ DNVVN Hà nội( HASMEC) ở số 418 Bạch Mai
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, DNVVN vẫn gặp không
ít những khó khăn, vớng mắc, và nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh
tế của đất nớc, chính phủ đã có Nghị định 90/2001/CP-ND ngày 23/11/2001
về chính sách trợ giúp, phát triển DNVVN trong đó quy định rõ khái niệm,
tiêu chí xác định DNVVN ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của
DNVVN trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc và các biện
pháp, các chính sách hỗ trợ DNVVN phát triển. Chính phủ còn giao cho MPI
đứng lên làm đầu mối phối hợp các Bộ, các ngành và địa phơng tiếp tục
nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo Chiến lợc và chính sách phát triển DNVVN,
đề xuất giải pháp thực hiện để chính phủ xem xét và phê duyệt .
Nghị định cũng quy định việc thành lập Cục Phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ trực thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu t, để giúp Bộ trởng Bộ Kế hoạch -
Đầu t thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc về xúc tiến phát triển DNVVN;
thành lập Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN làm nhiệm vụ t vấn
cho Thủ tớng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển
DNVVN; thành lập Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNVVN thuộc các cơ quan,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhằm thực hiện các
chơng trình trợ giúp một cách thiết thực và có hiệu quả; khuyến khích, tạo
điều kiện để các DNVVN tham gia các hiệp hội doanh nghiệp đã có và thành
lập các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp, nhằm triển khai các hoạt động kể cả
thu hút các nguồn lực từ nớc ngoài để trợ giúp một cách thiết thực, trực tiếp
cho DNVVN , các dịch vụ về thông tin, tiếp thị mở rộng thị trờng, đào tạo,
công nghệ... nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN.
Sè liÖu vÒ khu vùc kinh tÕ t nh©n
Ðvt
1996 1997 1998 1999 2000
1. Số lượng đơn vị
1.1.Doanh nghiệp của tư nhân DN
20.272 21.032 20.578 22.767 29.519
- Công nghiệp DN
5.832 6.073 5.927 6.049 6.979
- Thương nghiệp dịch vụ DN
12.695 13.010 12.494 14.234 17.506
- Các ngành khác DN
1.745 1.949 2.157 2.484 5.034
1.2. Hộ cá thể hộ
2.016.259 1.949.836 1.981.306 2.054.178 2.137.713
- Công nghiệp hộ
616.855 608.250 583.352 608.314 645.801
- Thương nghiệp dịch vụ hộ
1.102.619 1.022.385 1.058.542 1.088.606 1.109.293
- Các ngành khác hộ
296.785 319.201 339.412 357.258 382.619
2. Lao động
- Tổng số người
3.865.163 3.666.825 3.816.942 4.097.455 4.643.844
- Tỷ lệ so với tổng lao động xã
hội
% 11,2 10,3 10,3 10,9 12
2.1.Doanh nghiệp của tư nhân DN
354.328 395.705 435.907 539.533 841.787
- Công nghiệp DN
233.078 252.657 273.819 322.496 498.847
7,21 6,44 7,01 6,99 7,14
3.2 Cỏ th t ng
57.879 65.555 73.321 78.054 87.604
- Cụng nghip t ng 9.261 10.658 11.804 12.662 15.491
- Thng nghip dch v t ng 17.381 19.728 22.878 24.865 27.393
- Cỏc ngnh khỏc t ng 31.237 35.169 38.639 40.527 44.720
- T l trong tng GDP
%
21,28 20,90 20,31 19,52 19,72
4. Vn u t phỏt trin
- Tng s ton xó hi t ng 131.171 147.633
Trong ú: Doanh nghip ca t
nhõn v cỏ th
t ng 31.542 35.894
T l trng tng s ton xó hi
%
24,05 24,31
4.1 Doanh nghip ca t nhõn t ng 5.628 6.627
% Trong tng s ton xó hi
%
4.29 4.49
4.2. Cỏ th t ng 25.914 29.267
T l trong tng s ton xó hi % 19,76 19,82
Ngun: Tng cc Thng kờ
Bớc ngoặt thứ hai bắt đầu kể từ khi Luật doanh nghiệp đợc ban hành
vào1/1/2000. Trong vòng một năm kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực có
14.417 doanh nghiệp mới đợc thành lập với tổng vốn đăng ký đến hơn 24.000
tỷ (tơng đơng với 1,65 tỷ USD, trong đó 17.000 là vốn đăng ký mới và 7000
là vốn đăng ký bổ sung của các doanh nghiệp đang hoạt động, tức là tăng hơn
ba lần nếu xét về số lợng doanh nghiệp và hộ kinh doanh, và tăng hơn năm lần
Cty cổ phần
582 933 1.718 1.668 50 2.986 2.928 58
DNTN
18.751 22.794 28.719 27.277 1.442 33.925 32.459 1.466
Tổng số 28.708 37.577 51.468 49.200 2.268 66.071 63.743 2.328
Nguồn: Bộ Tài chính
Về cơ cấu của các DNVVN hiện nay, xuất phát từ điều kiện lịch sử
kinh tế xã hội, DNVVN ở Việt Nam có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế, trong
đó phần lớn tập trung trong ba lĩnh vực chính: các DNVVN trong lĩnh vực
công nghiệp, các DNVVN trong thơng mại dịch vụ và các DNVVN hoạt động
ở khu vực nông thôn. Sau đây sẽ nghiên cứu cụ thể các doanh nghiệp trong
từng lĩnh vực kể trên.
1. DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp
Từ sau năm 1986, do các chính sách khuyến khích kinh tế ngoài quốc
doanh trong lĩnh vực công nghiệp ra đời, các DNVVN lúc này tồn tại dới
nhiều hình thức khác nhau nh công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp
t nhân, kinh tế hộ gia đình, kinh tế quốc doanh. Số lợng DNVVN cũng tăng
dần.
Về cơ cấu phân bố theo vùng: Các DNVVN chủ yếu tập trung ỏ Miền
Nam Việt nam (81%), Số DNVVN tập trung ở miền Bắc chỉ chiếm 12,6%
tổng số các DNVVN trong công nghiệp.
Về ngành nghề kinh doanh: Các DNVVN trong công nghiệp tồn tại ở
4 nhóm ngành chính sau là
+ Nhóm ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống: ngành này trong thời
gian qua đã có những thay đổi mạnh mẽ, các giá trị công nghiệp và văn hóa đã
hình thành, những mặt hàng của ngành này đã trở thành một trong các mặt
hàng có thế mạnh của Việt nam. Tuy nhiên do góc độ truyền thống và văn
hóa, sự hội nhập của nhóm ngành này hạn chế bởi tính chất manh mún, quy
mô nhỏ, khác biệt văn hóa, cho nên thị trờng xuất khẩu rất khó khăn đòi hỏi
phải tìm đợc những phân đoạn thị trờng ngách.
công nghệ, đổi mới công nghệ thấp. Khả năng nghiên cứu triển khai tạo sản
phẩm mới cũng không tốt.
Về hiệu quả sản xuất kinh doanh: Toàn bộ các DNVVN ( cả Nhà nớc
cũng nh ngoài quốc doanh và kể các các doanh nghiệp có vốn đầu t nớ ngoài)
tạo ra khoảng 31% giá trị tổng sản lợng công nghiệp hàng năm. Trong đó, bộ
phận bộ phận DNVVN ngoài quốc doanh tạo ra 25% giá trị sản lợng công
nghiệp.
Bảng : Giá trị tổng sản lợng công nghiệp năm 1998
Doanh nghiệp trong công
nghiệp
Tổng số
(Tỷ đồng)
Ước tính phần của DNVVN trong
từng loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nớc
trong công nghiệp
69.588,4 20% 12.917,7
Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
33.148,2 60% 19.888,9
Doanh nghiệp có vốn nớc
ngoài
47.948,0 5% 2.397,4
Tổng 150.684,6 31% 46.712,04
Nguồn: Giải pháp phát triển các DNVVN tại Việt nam-GS-TS Nguyễn
Đình Hơng chủ biên-NXB chính trị quốc gia.
Trong 8 tháng đầu năm nay(năm 2002), tốc độ tăng trởng sản xuất công
nghiệp của khu vực ngoài quốc doanh đạt 19,2% so cùng kỳ năm trớc (tốc độ
tăng trởng công nghiệp chung đạt 14,5%) so với mức chung14%, khu vực nhà
nớc là 11,7%, khu vực nớc ngoài tăng 13,1%. Có thể thấy tình hình đóng góp
6212
3617
45846
23331
111.7
109.7
112.6
110.2
Khu vc ngoi quc
doanh
35846 5792 41638 119.6 119.2
Khu vc cú vn u t
nc ngoi
53575 8465 62040 114.2 113.1
Du m v khớ t 15402
2100 17502 87.7 96.1
Cỏc ngnh khỏc 38173
6365 44538 126.8 121.6
Nguồn
Về thị trờng: Một thị trờng nội địa đông dân với sức tiêu thụ lớn là cơ
hội rất tốt cho các DNVVN ở Việt nam. Tuy vậy, với tình hình nhập lậu tràn
lan nh hiện nay thì cơ hội cạnh tranh là rất khó cho các DNVVN nói chung và
các DNVVN trong công nghiệp nói riêng. Cạnh tranh xét cả theo nghĩa cạnh
tranh đối với hàng nhập lậu với giá rẻ, và cạnh tranh với cả doanh nghiệp lớn
trong nền kinh tế.Thêm vào đó là khả năng tiếp cận thị trờng cha cao, chất l-
ợng sản phẩm hạn chế .
Chính phủ cũng không ngừng có những bớc tiến tích cực trong việc tiếp
thu những kinh nghiệm quý báu từ bên ngoài nói chung và từ các quốc gia
đang phát triển nói riêng. Hoạt động hợp tác cùng phát triển, chia sẻ kinh
nghiệm giữa Việt nam và các nớc không ngừng đợc tăng cờng và củng cố.
DNVVN nói chung là thu hút nhiều lao động thì các DNVVN trong lĩnh vực
thơng mại dịch vụ lại không hoàn toàn nh vậy. Xuất phát từ tính đặc thù của
ngành thơng mại dịch vụ là ngành ít đòi hỏi lao động. Các DNVVN cha thực
sự góp phần quan trọng vào việc giải quyết lực lợng lao động d thừa nhiều ở n-
ớc ta hiện nay.
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của các DNVVN trong lĩnh vực thơng mại dịch vụ tuy cha phải là
cao nhng lại cao hơn hiệu quả hoạt động của các DNVVN trong lĩnh vực công
nghiệp. Theo thống kê của Tổng cục thống kê năm 1998 thì trong khi bình
quân một lao động trong các DNVVN công nghiệp tạo ra doanh thu 14,6 triệu
VND với mức lãi 0,4 triệu VND thì con số này tại các DNVVN thơng mại
dịch vụ là 75,8 triệu và 1,3 triệu tiền lãi, tức là bằng 407% và 125% so với
cách DNVVN công nghiệp. Hạn chế ỏ đây là mặc dù doanh thu rất cao nhng
lãi thì không hơn bao nhiêu so với các DNVVN công nghiệp.
Về cơ cấu: Các DNVVN thơng mại dịch vụ tập trung quá đông ở các
thành phố, đô thị và kinh doanh một số ngành nh nhau. Một số các công ty đi
sâu chuyên doanh mặt hàng ngành hàng nhng vẫn còn trùng lặp. Một số các
công ty thực hiện chuyên doanh ổn định, còn tuyệt đại đa số thì kinh doanh
tổng hợp.
Về kinh doanh:Thiếu sự hợp tác kinh doanh giữa các DNVVN, quản lí
chồng chéo không có sự đồng nhất theo đầu mối ngành nghề nên hiệu quả
kinh doanh thấp. Hoạt động của các DNVVN không mang tính bổ sung, hợp
tác mà mang tính cạnh tranh gay gắt do sự tập trung quá đông các DNVVN tại
cùng một địa điểm, cùng một lĩnh vực kinh doanh.
3. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn.
Với đặc trng là một nền kinh tế nông nghiệp đi lên thì hiển nhiên là
trong chiến lợc phát triển DNVVN để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
thì vai trò của các DNVVN ở khu vực nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng. Bộ
mặt của các DNVVN đã thay đổi phần nào qua dự án VIE/816 do UNDP tài
trợ trong vòng 4 năm từ 11/1997 đến 2001.Hiện nay, các ngành nghề nông
Một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự tồn tại và phát
triển của các DNVVN là vấn đề cơ chế chính sách, môi trờng hành lang pháp
lý cho hoạt động của các DNVVN. Dới đây là những nét chính khái quát về
ảnh hởng của một số chính sách vĩ mô đến hoạt động và phát triển của
DNVVN Việt nam.
1. Tác động của chính sách thơng mại
Trớc hết, về vấn đề khởi sự tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các DNVVN cũng đã đợc cởi trói qua quy định mới về việc tiến
hành đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp đợc quy định tại Luật doanh
nghiệp. Luật doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua ngày 20/6/1999, có hiệu
lực từ 1/1/2000 đã luật hoá các quy định thành lập doanh nghiệp theo hớng bãi
bỏ cơ chế xin phép thành lập, chủ đầu t chỉ đăng ký kinh doanh với hồ sơ hết
sức đơn giản, xoá bỏ mọi kiểm tra kiểm soát trớc khi thành lập, tạo điều kiện
cho phép chủ đầu t nhanh chóng tiếp cận thị trờng, việc giám sát kiểm tra của
nhà nớc chuyển sang giai đoạn sau đăng ký kinh doanh. Luật doanh nghiệp
cũng xoá bỏ vốn pháp định ở hầu hết các ngành nghề ( chỉ còn áp dụng đối
với một số ngành nghề nh Ngân hàng, Bảo hiểm..) đã tạo điều kiện cho các
DNVVN ra đời thuận lợi, giảm tối thiểu các chi phí cho việc thành lập doanh
nghiệp.
Kế đó, sự đổi mới chính sách thơng mại theo hớng mở cửa, không
ngừng đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, tăng cờng thu hút vốn
đầu t nớc ngoài với chiến lợc vốn đầu t trong nớc có vai trò quyết định, vốn
đầu t nớc ngoài có vai trò quan trọng đã là một trong những nhân tố quyết
định trong đổi mới kinh tế, đóng góp đáng kể vào tình hình đổi mới kinh tế ở
Việt nam trong những năm gần đây.
Chính sách thơng mại của Việt nam đã đạt đợc những tiến bộ đáng kể
trong suốt giai đoạn vừa qua, đặc biệt với sự ra đời của Luật Thơng mại có
hiệu lực từ 1-1-1998 và nghị định số 57/CP hớng dẫn thi hành Luật Thơng mại
ngày 31/7/1998 đã cải thiện đáng kể các điều kiện tiếp cận thơng mại quốc tế
của các DNVVN. Thêm vào đó là việc tham gia vào hàng loạt các tổ chức hợp