Lời nói đầu
Hiện nay,quá trình cổ phần hoá đang thật sự diễn ra mạnh mẽ ở nớc ta.Rất nhiều
doanh nghiệp chọn cách thức cổ phần hoá để đổi mới công ty mình,tạo nên tiềm lực
mạnh mẽ cho sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung.Nhận thức đợc những u điểm nổi bật, cũng nh tính tất yếu phải cổ phần
hoá,Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra chủ trơng đổi mới,sắp xếp,và phát triển doanh
nghiệp nhà nớc trong đó lấy cổ phần hoá làm giải pháp trọng tâm đã đợc đề ra và
thực hiện gần 20 năm qua.Trong thời gian đó, chúng ta đã đạt đợc khá nhiều thành
công,có nhiều thay đổi tích cực .Nhiều doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần hoá thành
công và làm ăn có hiệu quả hơn sau khi thực hiện cổ phần hoá , trong đó có cả
những doanh nghiệp lớn,giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nớc nhà.Tuy nhiên
những hạn chế ,thiếu sót vẫn còn tồn taị, cha có những biện pháp kịp thời ,đúng đắn
để tháo gỡ. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta hãy cùng điểm lại thực trạng và
đề ra những giải pháp,góp ý nhằm khắc phục phần nào những thiếu sót của công
cuộc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc hiện nay.
Tuy nhiên,do còn nhiều mới mẻ và trình độ còn hạn chế nên bài viết không thể
tránh đợc những sai sót, vì thế em rất mong đợc sự góp ý của thầy giáo để giúp cho
bài đề án đợc hoàn thiện hơn.
1
I/Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp nhà nớc và cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc:
1/Doanh nghiệp nhà nớc và vị trí của doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế
quốc dân
1.1Nhận thức và các quan niệm về doanh nghiệp nhànớc(DNNN)
Theo cách hiểu thông thờng DNNN là doanh nghiệp của nhà nớc,với t cách là chủ
sở hữu,Nhà nớc có thể bỏ vốn để đầu t thành lập DNNN,hoạt động theo luật
DNNN.Theo quy định của luật Doanh nghiệp nhà nớc năm 1995,DNNN là tổ chức
kinh tế do Nhà nớc đầu t 100% vốn,thành lập và tổ chức quản lý,hoạt động kinh
doanh hoặc hoạt động công ích,nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà
nớc giao.Xét về sở hữu,DNNN chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nớc và
DNNN cũng chỉ hoạt động theo luật DNNN.
nhân mà vốn do nhiều ngời đóng góp dới hình thức cổ phần, các cổ đông chỉ có
trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số tiền mà họ
đóng góp. Trong trờng hợp công ty bị phá sản thì họ chỉ mất số tiền đã đầu t vào
công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn nh hình thức kinh doanh một chủ
hoặc chung vốn. Bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu cho những ngời có vốn muốn
đầu t để gia tăng thu nhập, nó đã làm cho họ không e ngại những hậu quả tài chính
sẽ xảy ra với gia sản của mình. Xét về mặt huy động vốn: nó cho phép huy động
một số vốn lớn trong xã hội bằng cách có thể định giá cổ phiếu thấp để khai thác đ-
ợc cả những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng. Việc mua cổ phiếu không
những mang lại lợi tức cổ phần mà còn hứa hẹn những khoản thu nhờ việc gia tăng
giá trị cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Ngoài ra các cổ đông có quyền đợc
tham gia quản lý theo điều lệ của công ty và đợc pháp luật bảo đảm, điều đó làm
cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn, thêm nữa cổ
đông có quyền đợc u đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành trớc khi
chúng đợc đem bán rộng rãi cho công chúng.
Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần có Đại hội cổ đông - có quyền
quyết định tối cao: bầu hoặc bãi miễn Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị - có
trách nhiệm phân chia lợi nhuận, sửa đổi Điều lệ công ty, bảo toàn và phát triển giá
trị các khoản vốn đầu t của cổ đông... Ban giám đốc có trách nhiệm điều hành toàn
bộ hoạt động quản lý kinh doanh. Cổ đông cũng có thể bầu ra Ban kiểm soát thực
3
hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động của công ty để bảo vệ lợi ích cho những ngời
góp vốn.
Chính vì những u việt của mình về trách nhiệm pháp lý, cơ cấu tổ chức chặt
chẽ, rõ ràng... mà hình thái Công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh mẽ. Ngày
nay, hàng ngàn tập đoàn công ty khổng lồ đợc hình thành theo hình thái Công ty cổ
phần đã góp phần tạo nên sức mạnh kinh tế của một quốc gia (do biết áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật để nhanh chóng phát triển lực lợng sản xuất) và tham gia
đắc lực vào các qúa trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế
1.3/Tính tất yếu phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc:
đảm nhận kinh doanh trên những lĩnh vực ít lãi,phải đáp ứng những nhu cầu của xã
hội mà các doanh nghiệp t nhân không chịu đảm nhận,sở hữu nhà nớc thuần tuý
làm cho cơ chế quản lý DNNN trở nên rất phức tạp ..
_Thứ t,tính hệ thống,bao trùm của các DNNN là do lịch sử để lại.Hệ thống DNNN
ở nớc ta đợc xây dựng lâu dài theo quan niệm cũ,rộng khắp từ trung ơng đến địa
phơng,quản lý một lực lợng lao động rộng khắp,một nguồn vốn lớn với những điều
kiện thuận lợi nhng lại mang laị hiệu quả thấp.
Từ các tính chất của DNNN nh trên,ta thấy đợc rằng,trong nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa,cần phải có mặt DNNN với vai trò then chốt.Do đó yêu
cầu cấp thiết hiện nay là cần phải đổi mới lại DNNN trong đó việc cổ phần hoá
DNNN là một trong những nội dung quan trọng trong chủ trơng đổi mới DNNN
cuả Đảng và Nhà nớc ta.
1.3.2/Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một xu hớng tất yếu:
Nớc ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị ttrờng
nhiều thành phần phát triển theo định hớng XHCN dựa trên sự đa dạng hoá về các
loại hình sở hữu. Đó là một chủ trơng đúng đắn để khôi phục lại nền kinh tế nớc
nhà sau chiến tranh và sau những hậu quả mà cơ chế quản lý kinh tế cũ đem lại.
Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế và những kinh nghiệm
thu đợc qua quá trình chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xã định
đợc rằng cải cách doanh nghiệp Nhà nớc một cách triệt để - trong đó cổ phần hoá
một bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc là yêu cầu có tính quyết định để tăng cờng
động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy DNNN hoạt động có hiệu quả hơn.
Do đặc điểm nớc ta vừa thoát khỏi cơ chế bao cấp nên những ảnh hởng của nó
vẫn tồn tại ở đại bộ phận các doanh nghiệp. Vì thế, khi chuyển sang cơ chế mới các
DNNN thờng làm ăn kém hiệu quả, không có lãi. Lúc đó Nhà nớc buộc phải có
chính sách tài trợ, bao cấp. Tài trợ là một sách lợc luôn luôn cần thiết nhằm đảm
5