Bài tiểu luận số 2.
Đề tài: Đặc điểm kinh tế của nước Nhật Bản trong những năm 1945-1973.
I. Mở đầu.
Nhật Bản là một nước được ví như con rồng của Châu Á với lịch
sử hình thành và phát triển trải qua rất nhiều giai đoạn thăng trầm
của chính trị, xã hội cũng như nền kinh tế. Vốn nổi tiếng là một nước
khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên, lại thường xuyên xảy ra những
thiên tai động đất, sóng thần. Nhưng cho đến nay nhờ biết điều
hành nền kinh tế, áp dụng các phương tiện khoa học kĩ thuật hiện
đại….mà Nhật Bản đã vươn lên trở thành một cương quốc đứng
hàng thứ hai trên thế giới.
Điểm lại quá trình phát triển của nền kinh tế Nhật Bản, trong bài
tiểu luận này ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu lịch sử kinh tế của Nhật
Bản giai đoạn 1945-1973-Một giai đoạn được mệnh danh là “phát
triển thần kì”.
II. Giai đoạn khôi phục kinh tế từ năm 1946-1951.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, nền kinh tế Nhật
Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng: năng lượng
thiếu, lạm phát nặng nề, 13,1 triệu người không có việc làm. Đất
nước Nhật Bản bị quân đội Mỹ chiếm đóng.
Ngay trong những năm đầu sau chiến tranh, dưới sự kiểm soát
của Mỹ, một số cải cách lớn về xã hội của Nhật Bản được thực hiện:
-Giải thể các nhóm Saibatsu nhằm tiêu diệt sức mạnh quân sự
của Nhật Bản, xóa bỏ kiềm quyển soát kinh tế đối với một số công ty
lớn ở Nhật Bản, cải tổ các công ty theo hướng phi tập trung hóa.
Biện pháp này tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với ngành công
nghiệp và thúc đẩy cơ câu hoạt động thị trường mạnh , tự do hóa
thương mại
- Cải cách ruộng đất, quy định địa chủ chỉ được nắm một phần
đó, và chỉ bằng khoảng 10% trước mức chiến tranh (1934-1936), nước Nhật
chìm trong khủng hoảng về nhiều mặt. Nhưng đó chỉ là tiền đề cho một nước
Nhật khác hẳn hoàn toàn ra đời.
Nhật Bản đã có những biến đổi thần kỳ về kinh tế trong nước cũng như
trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, những biến đổi này có tính liên tục và
2
tăng nhanh về lượng. Từ năm 1952 đến năm1958, tổng sản phẩm quốc dân
dã tăng với tốc độ 6,9% bình quân hằng năm. năm 1959, khi tốc độ tăng
trưởng vượt 10%, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa gây được sự chú ý của thế
giới. Những năm sau, khi tốc độ tăng trưởng vượt tốc độ của những năm
trước thì thế giới bắt đầu kinh ngạc và gọi đó là Sự Thần Kì Về Kinh Tế. Tốc
độ cao này được duy trì suốt những năm 1960 với tổng sản phẩm quốc dân
tăng trung bình hằng năm là 10%. Trong những năm 1970 - 1973 tốc độ tăng
trưởng trung bình hơi giảm đi còn 7,8% nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn quốc
tế (Bảng 1 ).Nhân tố hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế của NB thời kì này
là sự phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp chế tạo. Chỉ số sản xuất
công nghiệp (1934 –1936:= 100) tăng từ 160 năm 1955 lên 1345 năm 1970.
Sự giảm bớt sức lao động trong nông nghiệp và lâm nghiệp cũng rất đáng chú
ý: Nó giảm từ 16 triệu năm 1955 xuống 8,4 triệu năm 1970 và phần của nó
trong tổng lực lượng lao động giảm từ 38,3% xuống 17,4% trong cùng thời
kì.
Bảng 1: Tăng trưởng GDP của Nhật Bản từ 1951-1972.
Năm tài chính Theo giá hiện hành % Theo giá bất biến của năm
1965 (%)
1951 38,8 13,0
1952 16,3 13,0
1953 18,1 7,9
1954 4,0 2,3
1955 13,3 11,4
tạo)
26,0 56,9 100 218,5
(Nguồn: Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế.)
Trong các ngành công nghiệp khu vực II, sự phát triển của các ngành
công nghiệp nặng và hóa chất (máy móc, kim khí, hóa chất) là nổi bật nhất
như ta đã thấy ở bảng 2. Sự phát triển của công nghiệp cơ khí là đáng chú ý vì
chỉ số của nó (1965=100) tăng 14,6 năm 1955 lên 291,6 năm 1970, hơn 20
lần trong vòng 20 năm. Tuy vậy, chỉ số của ngành công nghiệp dệt chỉ tăng
tương đối nhỏ: từ 42,2 năm 1955 lên 154,0 năm 1970. Kết quả của sự phát
triển nói trên có sự góp phần rất nhiều của các nghành công nghiệp nặng và
hóa chất trong tổng sản lượng chế tạo công nghiệp chế tạo đạt tới 57% năm
1970, cao hơn phần tương ứng ở Tây Đức hoặc Mỹ.
Quá trình tăng trưởng này không phải là sự phát triển nhẹ nhàng,
không gấp khúc. Trong thời gian này Nhật Bản đã trải qua những bước thăng
trầm rõ rệt, chia ra thành những chu kì dài khoảng hơn 3 năm, 2 năm, đôi khi
là 5 năm. Những sự lên xuống này diễn biến một cách có hệ thống và phần lớn
theo một lề lối nhất định. Tính từ năm 1951 đến năm 1973 có tất cả 7 lần
phồn thịnh và 8 lần suy thoái. Những lần suy thoái của chu kì này chỉ biểu
hiện ở tốc độ tăng trưởng chậm lại chứ không phải là giảm sút tuyệt đối.
2. Một số thành tựu đạt được
4
+) Về công nghiệp:
Nhật Bản rất chú trọng vào phát triển công nghiệp. Khoảng hơn hai
thập kỷ sau chiến tranh từ năm 1952 – 1973 là thời gian mà Nhật Bản đạt
được sự gia tăng mạnh mẽ nhất về công nghiệp. Điểm nổi bật nhất trong công
nghiệp Nhật Bản thời kì này là sự tăng trưởng cao của nghành công nghiệp
chế tạo. Năng suất và sản lượng của ngành này đã liên tục gia tăng trong khi
đó các ngành khác lại bị giảm sút.
Bảng 3: Sản phẩm quốc dân thuần túy của từng ngành sản xuất (thể
884
1008
5137
22,6
3,1
24,3
3,9
8,8
16,3
21,0
100,0
1941
213
3891
733
1224
2154
3141
13293
14,6
1,6
29,3
5,5
9,2
16,2
23,6
100,0
4167
291
122832
Sản phẩm từ dầu mỏ
Sản phẩm than đá
Đồ gồm, sản phẩm từ đá
Gang thép
Sản phẩm kim loại
Máy thông dụng
Máy điện
Máy vận tải
Máy chính xác
Bình quân toàn ngành
công nghiệp chế tạo
4,2
16,8
18,3
18,1
27,3
3,3
15,0
11,7
13,5
25,3
30,4
22,0
18,7
14,6
10,1
15,7
15,5
14,3
17,3
loại máy tính lớn cũng được sản xuất trong thời kì này.
Riêng về đồ điện gia dụng, ngoài vô tuyến truyền hình, vào giữa những
năm 50 người ta đã chứng kiến sự khởi đầu của việc sản xuất hàng loạt các
đồ dùng gia đình khác.
Một lĩnh khác là ngành sản xuất ô tô. Trước chiến tranh nó hầu như
không hề tồn tại, tuy nhiên trong thời kỳ này đã thực hiện “bước nhảy” phi
thường.
Mức gia tăng sản lượng xe hơi của Nhật Bản (triệu chiếc)
Năm 1960 1965 1970 1975 1980
Sản xuât
Xuất khẩu
0,2
0,0
0,70
0,50
3,0
0,8
4,0
1,8
7,0
4,0
6
Tỉ lệ sản xuất công nghiệp của Nhật Bản trong thế giới Tư bản chủ
nghĩa
Tên nước Nhật Bản Mỹ Tây Âu
1938
1950
1960
1971
43.719
13.128
47.633
10.857
52.110
9.334
Ngành nông nghiệp Nhật Bản thời kỳ này phát triển khá đa dạng và
phong phú, nhưng sản xuất chính vẫn là lúa gạo. Nhờ áp dụng được máy móc
hiện đại và các loại phân bón tốt nên sản lượng lúa đã không ngừng gia tăng.
Sự biến đổi sản lượng lúa nước
Năm Diện tích canh tác
(ngàn ha)
Thu hoạch trên
diện tích 10 ha
Sản lượng (nghìn
tấn)
1950
1955
1960
1965
1966
1967
1968
2877
3045
3124
3129
3149
3171
10782
11776
Tiến bộ nhất trong nông nghiệp thời kỳ này là chính là việc ứng dụng các
loại máy móc vào sản xuất, nhất là các loại máy lớn. Đồng thời hệ thống tổ
chức thí nghiệm và nghiên cứu cơ giới hóa nông nghiệp, được cải tiến và mở
rộng. Cho đến năm 1955 hầu như các loại máy nông nghiệp đã được triển
khai rộng khắp. Năm 1955 có 2 triệu máy tuốt hạt, đến năm 1965 lên tới gần
3 triệu máy.Còn máy làm đất, năm 1955 có 90000 máy, đến năm 1960 vọt lên
2526000 máy.
Tóm lại, thời kỳ 1952-1973, nông nghiệp Nhật Bản đã có bước tiến khá
mạnh theo hướng thâm canh với trình độ cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi
hóa và điện khí hóa rất cao. Từ tình trạng thiếu lương thực gay gắt sau chiến
tranh thế giới thứ hai, giờ đây nhân dân có thể tự túc về nông nghiệp, sản
lượng lương thực đã đủ cung cấp cho 80% nhu cầu trong nước, ngành chăn
nuôi giải quyết 2/3 nhu cầu thịt sữa, ngành đánh cá chỉ đứng sau Peru với
sản lượng cá tính theo đầu người hàng năm là 86kg. Tính chung về sản lượng
nông – lâm – ngư nghiệp cho đến đầu những năm 1970 Nhật Bản đã đạt trên
9 tỷ đô la.
+) Về thương nghiệp:
Là một nước có lãnh thổ hạn hẹn, dân số đông và tài nguyên thiên nhiên
khan hiếm, để phát triển đất nước Nhật Bản không còn cách nào hơn là phải
nhập khẩu nguyên liệu và thực phẩm. Từ đó một nhiệm vụ quan trọng trong
quá trình tăng trưởng kinh tế là phải xuất khẩu thu ngoại tệ để duy trùy nhập
khẩu.
Đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế của Nhật Bản là sự
tác động mạnh của mức dự trữ ngoại tệ. Nhu vậy mức dự trữ ngoại tệ là yếu
tố quan trọng hàng đầu đối với sự tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản. Năm
1949 Nhật tái tham gia vào nền kinh tế thế giới với tỷ suất hối đoái là 360 yên
ăn 1 đô la. Nhờ vậy, sức cạnh tranh của Nhật Bản gia tăng mạnh mẽ. Tổng kết
42,2
36,3
30,8
4,8
19,4
18,9
14,3
9,8
15,8
45,3
37,4
30
Mức xuất khẩu của các cường quốc thương mại
Các nước 1955 1964 1955—1964
Hoa Kỳ
CHLB Đức
Anh
Pháp
Nhật
Canada
Ý
Ấn Độ
15,38
6,14
8,47
4,85
2,01
4,42
1,86
1,28
100,0
17,2
100,0
17,3
9
Nguyên liệu công nghiệp
Hàng tư bản
Hàng tiêu dùng mau
hỏng
Hàng tiêu dùng lâu bền
Các loại khác
68,2
14,0
0,3
0,7
0,6
67,3
8,8
0,6
1,3
0,5
70,2
9,7
0,8
1,4
0,7
66,5
11,7
1,2
2,1
của tổ chức mình, phân chia gianh giới giữa tư bản và kinh doanh, nhằm thực
hiện chủ nghĩa tư bản xét lại trong đó dựa vào sự thoả hiệp giữa chủ và thợ.
Những người kinh doanh xí nghiệp ở NB sau chiến tranh có thể phân
thành ba loại :
-Loại 1: Những nhà kinh doanh trẻ được đề bạt với tư cách là người thay thế
các nhà lãnh đạo các xí nghiệp hàng đầu đã bị buộc phải rời khỏi chức vụ theo
luật giải tán các tập đoàn tài phiệt. Tiêu biểu là các ông Chikara Kurata (hãng
chế tạo Hitachi), Kikuo Ssoyama(hãng Toyo Rayon).
- Loại 2:Những nhà kinh doanh lập nghiệp sau chiến tranh, tức là trước chiến
tranh chỉ là các xí nghiệp trung tiểu, sau chiến tranh phát triển nhảy vọt. Tiêu
biểu là Konosuke Mastu(công ty điện Mastu Shita), Sazo Idemitsu (Idemitsu
Hunsan).
- Loại 3: các nhà doanh nghiệp nổi lên sâu chiến tranh. Đại diện là Ohibuka, A
Kio morita (Sony), Shoi chiro honda(hãng nghiên cứu kỹ thuật Honda).
+) Lực lượng lao động ưu tú:
Nhật Bản có một lợi thế lớn là có một nguồn lao động dồi dào. Sau chiến
tranh một lực lượng lớn người rút ra từ các thuộc địa của NB về giải ngũ ra
từ quân đội. Nguồn cung cấp lao động lúc đó là quá thừa và họ sẵn sàng làm
việc với đồng lương rẻ mạt. Nói theo thuật ngữ kinh tế học của Mác thì lao
động tạo ra giá trị thặng dư và có khả năng tích luỹ tư bản. Dù đồng lương
thấp đến mức nào, nhưng vì chất lượng lao động tồi, năng suất lao động thấp
thì cũng không phát sinh giá trị thặng dư. Nhưng phần lớn lao động ở NB có
trình độ giáo dục cao và được đào tạo về kỹ năng lao động. ảnh hưởng của
chủ nghĩa Mac đã phát triển rất nhanh chóng nhưng chủ yếu ở trong một bộ
phận trí thức và công nhân ở các thành phố, còn phần lớn công nhân vẫn còn
tiếp tục theo quan niệm có từ trước chiến tranh là trung thành vơí các xí
nghiệp.
Từ năm 1947 đến năm 1949 là những năm sau chiến tranh, số trẻ sơ sinh
tăng vọt. Trong 3 năm đó, tỷ lệ sinh rất cao đạt 3,4% năm. Người ta lo rằng
hoạch phát triển kinh tế và ngành trong tương lai. Về điểm này, cơ quan có
sự chuyển biến rõ rệt nhất là Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế. Những kế
hoạch có tính định hướng này sớm chỉ ra cho nền kinh tế NB, phải chuyển
biến theo hướng phát triển kinh tế có sử dụng nhiều chất xám, đồng thời tác
động ít nhiều đến cách tư duy của từng ngành.
+) Đổi mới kỹ thuật:
Nguồn gốc của cuộc cách mạng kỹ thuật thì lại từ nước Mỹ. Các kỹ thuật
tiên tiến nhanh chóng được đưa vào NB. Những mặt hàng mới lần đầu tiên
xuất hiện ở thị trường NB như nilon, sợi Polieste, penicilin, nguyên tử năng,
bán dẫn, vô tuyến truyền hình, máy tính có những mặt hàng xưa cũng đã sản
xuất, nhưng nay nhờ có kỹ thuật mới mà phương pháp sản xuất thay đổi hẳn.
NB đã du nhập phương thức sản xuất sắt thép liên hoàn, lò quay, phương
12
pháp phân giải dầu mỏ, phương thức đóng tầu theo khối lớn, phương thức
sản xuất xe hơi hàng loạt.
Sau chiến tranh, ngay trên nước Mỹ cũng đã đạt được những tiến bộ khoa
học kỹ thuật rất lớn. Nhờ những kỹ thuật tiên tiến phát minh ở Mỹ trước và
sau chiến tranh được đưa vào NB trong thập kỷ 50 mà tốc độ tiến bộ kỹ thuật
ở NB cũng nhanh đến mức chưa từng có trong lịch sử NB.
Bước vào thập kỷ 60 tiến bộ kỹ thuật phổ biến diễn ra dưới hình thức kết
hợp với những kỹ thuật đã có. Trong số các chuyên gia kỹ thuật, có người nói
rằng tiến bộ kỹ thuật do sự kết hợp như vậy không hẳn là cách mạng kỹ
thuật. Đó là quan điểm của các nhà khoa học tự nhiên. Trong kinh tế học thì
khác, chính sự “ kết hợp mới” với những kỹ thuật sẵn có là cách mạng kỹ
thuật có ý nghĩa về mặt kinh tế. Những đổi mới kỹ thuật mang tính chất như
vậy là phổ biến trong thập kỷ 60. Và cũng chính trong thời gian này xuất hiện
các liên hiệp hoá dầu, liên hợp gang thép, phương thức bán hàng tự động các
siêu thị.
*/ Năm lĩnh vực lớn của cách mạng kỹ thuật:
• Lĩnh vực điện tử
tích cực của ngân hàng đã tạo nên khả năng tích luỹ vốn cần thiết cho nền
kinh tế NB tăng trưởng với tốc độ cao.
+) Môi trường quốc tế hoà bình:
Sau chiến tranh thế giới thứ II, trên thế giới đã nổ ra nhiều cuộc chiến
tranh khu vực, cục bộ, nhưng không có những cuộc chiến tranh lớn trên quy
mô toàn thế giới. Trong khuân khổ IMF và GATT, thể chế mậu dịch tự do được
duy trì là điều rất may mắn đối với NB. Nếu thương mại được tự do hoạt
động, thì một nước không có tài nguyên cũng không lo ngại về sự bất lợi
trong phát triển kinh tế. NB có thể mua than đá, dầu hoả và các nguyên liệu
dưới dạng quặng từ những khu vực nào đó có giá rẻ nhất trên thế giới nên có
lợi thế trong cạnh tranh quốc tế hơn nước Anh và Đức, phải dùng than trong
nước có giá thành cao. Tất nhiên hoà bình thế giới là điều kiện cơ bản cho sự
phát triển của NB. Nhưng đôi khi sự rối loạn lại có lợi cho NB.
Thứ nhất là sau năm 1947, cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô bắt
đầu nổ ra. Trong chiến tranh thế giới lần II, Mỹ – Liên Xô bắt tay với nhau.
Nhưng chiến tranh vừa kết thúc, quan hệ hai nước trở nên xấu đi.Trong tình
hình đó, Mỹ đã nhanh chóng thay đổi chính sách đối với NB. Cụ thể là: Mỹ đã
cho kế hoạch ban đầu phi quân sự hoá NB sang xây dựng một nước NB tự lập,
biến NB thành tuyến phát triển của các lực lượng cộng sản ở Châu Á. Nếu
không có chiến tranh lạnh lúc đó chắc là Mỹ đã tìm cách kiềm chế sự phát
triển kinh tế của NB.
Hai là cuộc chiến tranh Triều Tiên. Ngày 25 tháng 06 năm 1950, quân
đội Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38, xâm nhập Nam Triều Tiên, bắt đầu
cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã giúp Hàn Quốc, Liên Hợp Quốc cũng quyết
định trừng phạt Bắc Triều Tiên. NB đã trở thành căn cứ của quân đội Mỹ
14
trong cuộc chiến tranh đó, đã thu được những khoản ngoại tệ lớn, tuy lúc đó
không có viện trợ nhưng NB đã cân bằng được cán cân thanh toán quốc tế.
xuất truyền thống, kinh doanh nhỏ trong suốt quá trình hiện đại hoá nước
NB, và sự tồn tại rất phổ biến của loại hình sản xuất, kinh doanh nhỏ (bảng 3)
và khả năng thích ứng của nó khi NB đã đạt trình độ hiện đại hoá cao. ở đây,
Ta chỉ đi sâu vào sự đóng góp của nó, vào sự tăng trưởng sau chiến tranh.
+) Chính sách mở cửa và phát triển khoa học kỹ thuật:
Sự tiếp nhận các tri thức, thành tựu khoa học kỹ thuật phương tây được
phân tích kỹ lưỡng thận trọng và có chọn lọc. Các tri thức này đem lại kết quả
thiết thực cho phát triển kinh tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất
nước.Những tri thức du nhập này được vận dụng sáng tạo trong điều kiện
kinh tế – xã hội của NB. Việc nhập khẩu kỹ thuật nước ngoài để đổi mới kỹ
thuật trong nước diễn ra hết sức mạnh mẽ trong suốt 40 năm sau chiến
tranh. Đó là một nguyên nhân quyết định, giúp nền kinh tế NB tăng trưởng
với tốc độ chưa từng thấy.
+) Tính cách của nhân dân Nhật Bản:
• Tôn trọng truyền thống
• Tinh thần cộng đồng
• Lòng trung thành
• Tính hiếu học
• Sáng tạo.
• Ham mê lao động
IV. Mặt trái của sự “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản.
Sau chiến tranh, với ý chí xây dựng một quốc gia vững mạnh, nhân dân
Nhật Bản đã cùng bắt tay nhau vào lao động sản xuất, làm việc quên mình và
đạt được tốc độ phát triển chưa từng có. Với một nền kinh tế phát triển vùn
vụt theo qui mô của một siêu cường trên một diện tích nhỏ hẹp, Nhật Bản
đang biến môi trường của mình thành một kho rác thải. Đằng sau nhiều tỷ đô
la lợi nhuận là bầu không khí không trong lành lẫn nguồn nước sạch đứng
trước nguy cơ bị hủy hoại. Còn người dân đang bị chịu sự tra tấn hàng ngày
bởi tiếng máy chạy hết công suất, của xe cộ và rất nhiều thứ gây ồn khác mà
Do giá đất quá đắt nên người ta đã tận dụng hết những gì có thể, không muốn
dùng đất để làm vỉa hè. Dự tính nếu cứ phát triển như nhịp độ hiện nay thì các
vụ tai nạn giao thông sẽ làm từ 20 đến 25 triệu người Nhật bị thương trong
vòng 15 năm tới, tức khoảng 1/5 dân số sẽ gặp rủi ro do tai nạn xe cộ, làm
cho nhà sản xuất bị thiệt hại mỗi năm số lượng tài sản không nhỏ.
Cái giá quá đắt cho sự tăng trưởng trên là nguyên nhân dẫn đến sự hoài
nghi và bất bình của dân chúng đối với Chính phủ. Phong trào đấu tranh của
quần chúng lao động, sự nổi dậy của sinh viên là những biểu hiện tập trung
của sự bất bình đó.
Những năm 1968-1969 biểu tình của sinh viên nổ ra trên khắp nước Nhật,
với mong muốn xã hội sẽ có tình người hơn, tự do hơn. Còn với nhân dân do
mức sống được cải thiện nên họ hướng sự chú ý sang những điều khiếm
17
khuyết và nhận ra những khía cạnh “kém hoàn hảo” của sự tăng trưởng. Làn
sóng phẫn nộ ngày càng dâng cao trong quần chúng.
Mâu thuẫn kinh tế xã hội dâng lên gay gắt và người ta thấy rằng cần
phải nhanh chóng có những chính sách để thay đổi tình hình, chính sách đó
không chỉ quan tâm đến sự phát triển kinh tế mà còn chú trọng các giá trị
khác của sự phát triển.
V. Ý nghĩa của sự phát triển kinh tế đối với Nhật Bản.
Sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1952-1973 đã đưa
đất nước Nhật Bả thoát khỏi tình trạng kiệt quệ do những hậu quả của cuộc
chiến tranh thế giới thứ 2. Nhật Bản đã phục hồi nhanh chóng và phát triển
mạnh mẽ , vươn lên trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 sau Mỹ.
Kinh tế được phục hồi và phát triển kéo theo tình hình chính trị xã hội
cũng ổn định. Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản kiệt quệ, tình hình chính trị
mất ổn định, xã hội rối loạn. Nhờ có những chính sách khôi phục, phát triển
kinh tê kịp thời đã đưa Nhật Bản trở lại ổn định.
-Tiềm năng chủ yếu của Việt Nam là nguồn lao động rồi dào và giá
rẻ. Tài nguyên thiên nhiên cũng đều ít ỏi, hạn chế về trữ lượng,
không đủ để phát triển mộ ngành công nghiệp khai thác đóng vai
trò chủ lực trong tích lũy cho công nghiệp hóa quốc gia.
- Việt Nam trải qua thời kì dài trong quá khứ là nước thuộc địa phụ
thuộc, trình độ phát triển thấp, nghèo nàn lạc hậu là phổ biến, bị
chiến tranh khốc liệt tàn phá nặng nề.
- Nền kinh tế Việt Nam mang tính chất nông nghiệp là chủ yếu, lại ở
trình độ thô sơ về kĩ thuật, phương tiện sản xuất, dân số đông, diện
tích đấtđại canh tác trên đầu người quá nhỏ, điều kiện thời tiết
không thuận hòa, quy mô đất dai manh mún không đủ để tổ chức
sản xuất lớn đạt hiệu quả cao … Trong khi đó, các ngành công
nghiệp địa phương chỉ thỏa mãn nhu cầu nội địa nên không có khả
năng cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới. Điều đó đã tác động
xấu đến tích lũy và tái sản xuất mở rộng, cán cân thanh toán không
được cải thiện, kìm hãm sự phát triển và mở rộng kĩ thuật dẫ đến
kìm hãm sự sản xuất. Tóm lại nền kinh tế Việt Nam trong tình trạnh
trì trệ.
2. Những biện pháp.
- Tăn trưởng kinh tế là biểu hiện cao nhất của nền kinh tế năng
động, là kết quả tổng hợp của các nhân tố trông quá trình sản xuất
xã hội. Do vậy mốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì phải
19
có đủ các yếu tố và kết hợp chúng một cách hài hòa. Thế mạnh là
lao động nhưng nếu không có chính sách vĩ mô và vi mô phù hợp để
khai thác thế mạnh thì không đạt được thế mạnh mong muốn. Tất
cả các nguồn lực phải được phân bổ hợp lý, đem lai hiệu quả tối đa,
người lao động được đóng góp và hưởng thụ đúng như phần đóng
góp của mình. Một cơ cấu hài hòa cân đối sẽ làm cho nền kinh tế
tăng trưởng. Do vậy chiến lược tăng trưởng nhan sẽ là cầu nối để
vì thế mà thay đổi định hướng lâu dài của mình.
- Công nghiệp hóa gắn liền với sự hình thành cơ cấu công nghiệp và
kinh tế xã hội mới trong đó năng suất lao động cao hơn. Để đạ được
mục tiên này căn cứ để lựa chọn kỹ thuật công nghệ không thể dựa
trên nền tảng nào khác là nó phải phù hợp với trình độ dân trí, kỹ
thuật thích hợp cần được coi trọng không kém việc quy định vốn lớn
và sức lao động dồi dào. Trong nhiều trường hợp,rõ ràng là bí quyết
công nghệ đóng vai trò qua trọng hơn vốn, nó quyết định khả năng
cạnh tranh và tốc độ tăng trưởng. Mở cửa và hội nhập quốc tế,
tranh thủ điều kiện thuận lợi của quốc tế để phát triển đất nước
thông qua các chính sách thương mại và đầu tư.
-Xóa bỏ cơ cấu kinh tế tập trung chống độc quyuền trong kinh
doanh.
-thực hiện giao đất cho nông thôn. Việc giao đất cho nông dân đã
chuyển sở hữu ruộng đất trực tiếp cho nông dân trực tiếp canh tác,
kích thích sản xuất đầu tư, áp dụng khoa học kĩ thuật trong nông
nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Trong tập trung phát triển công nghiệp. Đầu tư lớn vào các ngành
công nghiệp nặng và các ngành sử dụng cường độ lao động cao.
-Trình độ công nghiệp phải hiện đại. Mô hình quản lí xí nghiệp
tương đối hoàn chỉnh, chi phí ít, năng suất lao động cao, chất lượng
tốt để sức cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế
giới cao.
-Chính sách của Việt Nam hướng về xuất khẩu, vừa thay thế nhập
khẩu nhằm khai thác lợi thế so sánh.
-Nhanh chóng hoàn thành thời kì tự do hóa thương mại và đầu tư.
-Phải tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.
-Đổi mới và đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, giao quyền nhiều hơn
cho các cơ quan có liên quan đến xét duyệt dự án đầu tư đồng thời
giao quyền chủ tịch UBND Tỉnh, Thành, Phố các khu công nghiệp
các nước khác vấp phải đồng thời học hỏi được những cái hay để từ
đó có thể áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh
đất nước.
22