A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuối thế kỉ XX, trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế-xã hội, các nước
XHCN đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Dù với phương thức chuyển đổi khác nha, những bước đi và mức độ thành công khác
nhau nhưng thực tế cho thấy những kết quả tốt hơn so với trước khi chuyển đổi. Đó là sự
ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, phục hồi và bước đầu tăng trưởng kinh tế; các
thể chế của nền kinh tế thị trường đã dâầndần hình tha nhf và phát huy tác dụng tích cực
song song với việc chuyển đổi hệ thống pháp luật và thiết chế Nhà nước; từ nội dung đén
phương thức quản lí kinh tế ở các nước đã được chuyển đổi. Tuy không phải tất cả các
nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều
giữ định hướng XHCN nhưng từ thực tiễn của công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị
truờng ở một số nước, có thể rút ra được những vấn đề chung như sau:
Một là không thể có một mô thức đồng nhất và giản đơn cho mọi nước trong
chuyển đổi. Hai là Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng và tích cực trong quá trình cải
cách chuyển đổi. Có thể khẳng định rằng chất lượng của chính sách Nhà nước cũng như
sự điều tiết có hiệu quả của Nhà nước mới có ý nghĩa quyết định sự thành công của công
cuộc chuyển đổi (Xem: Nguyễn Minh Tú, Về mô hình chuyển đổi kinh tế của một số
nước và định hướng vận dụng ở VIệt Nam,Nxb Chính trị Quốc gia,h.1997,tr.24, 49-50).
Ba là quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự đồng bộ không phải chỉ
trong các chính sách kinh tế mà còn cả hệ thống thể chế, cơ cấu xã hội, những thiết chế
Nhà nước và hệ thống lập pháp (Xem Mười vấn đề lớn về kinh tế hiện đại, Viện
NCQLTƯ, H.1995,tr.66).
Như vậy, với những quan niệm về vai trò kinh tế của Nhà nước trên thế giới như đã
nêu trên, có thể thấy cuộc tìm kiếm mô hình kinh tế hợp lí và chức năng đích thực của
Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế ở các nước từ xưa đến nay vẫn đang tiếp tục. Mỗi mô
hình kinh tế cũng như mỗi lí thuyết kinh tế ở các nước đều có những yếu tố hợp lí và
những giá trị tham khảo nhất định; đặc biệt là vấn đề chức năng tổ chức, quản lí của Nhà
nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại và chức năng của Nhà nước XHCN trong quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị truờng là
những vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Đó cũng chính là cơ sở lí luận và thực tiễn trong lịch sử quốc tế cho việc nhận thức
Nhà nước cũng được phân chia thành các chức năng khác nhau. Trên cơ sở sự phân chia
đời sống xã hội thành hai lĩnh vực lớn là chính trị, kinh tế-xã hội, ta có thể nhận thức
chức năng kinh tế của Nhà nước nói chung là hoạt động của Nhà nước thể hiện vai trò
của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế. Như vậy, từ phạm trù chức năng của
Nhà nước với ý nghĩa là hoạt động của Nhà nước thể hiện vai trò của Nhà nước đối với
đời sống xã hội, có thể hình thành trên phạm trù chức năng kinh tế của Nhà nước nói
chung như là bộ phận của khái niệm chức năng Nhà nước.Chức năng kinh tế của Nhà
nước cũng là thể thống nhất giữa các dấu hiệu phản ánh nhu cầu khách quan của đời
sống kinh tế, năng lực thực tế của bộ máy nhà nước và phạm vi hoạt động hợp pháp của
Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế.
Tổ chức quản lí kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt của bất kì Nhà
nước XHCN nào. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lí kinh tế của Nhà nước
XHCN rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết, trong đó công
tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN và cơ chế quản lí là
những vấn đề then chốt.
Vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương hướng (hay
phương diện, mặt) hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu nhiệm
vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng XHCN.
Vai trò của nhà nước rất quan trọng và không thể thiếu vắng trong mỗi mô hình
kinh tế nhưng vấn đề đặt ra ở đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn về vai trò kinh tế
của Nhà nước trong bước chuyển từ nền kinh tế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam cần phải được làm sáng tỏ từ mối quan hệ giữa Nhà
nước và kinh tế thông qua phạm trù chức năng kinh tế của Nhà nước XHCN. Chức năng
kinh tế của nhà nước XHCN nói chung là hoạt động của nhà nước thể hiện vai trò của
nhà nước đối với nền kinh tế xã hội .Chúng ta có thể khái quát những vấn đề thuộc về lí
luận chức năng kinh tế của nhà nước XHCN Việt Nam thành những điểm nhận xét sau:
1.Lịch sử kinh tế cũng như lịch sử nhà nước ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam
qua những thời địa với những mô hình kinh tế khác nhau là lịch sử xác định vai trò kinh
tế của nhà nước đồng thời cũng là lịch sử tìm kiếm sự tối ưu trong các chính sách kinh tế
của nhà nước .Dựa trên cơ sở kinh tế chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhà nước
hiện ở sự thay đổi căn bản về vai trò kinh tế của Nhà nước. Đặc trưng của mô hình kinh
tế ấy đã quy định những vai trò kinh tế tương ứng của Nhà nước Việt Nam. Nền kinh tế
quốc dân của Việt Nam ngày nay là nền sản xuất hàng hóa có nhiều thành phần tham gia
theo cơ chế thị trường.Trong cơ chế thị trường, trên nguyên tắc tự do kinh doanh, các
doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh độc lập về tài sản, nhân danh chính mình tham gia
vào các quan hệ kinh tế một cách bình đẳng theo nguyên tắc tự định đoạt. Mặt khác, nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.Việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không chỉ nhằm mục đích đơn
thuần về tăng trưởng kinh tế mà phải lấy sự tăng trưởng kinh tế làm cơ sở, làm điều kiện
để phát triển hài hòa, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội, phát triển con người toàn
diện.
Những đặc điểm trên đã quyết định sự thay đổi vai trò kinh tế của Nhà nước khi
chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Trong cơ chế kinh tế hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò lãnh đạo thống nhất
toàn bộ nền kinh tế quốc dân đồng thời cũng vừa là người điều hành, tổ chức các hoạt
động kinh tế. Còn trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ tư cách
của Nhà nước là người quản lí nền kinh tế quốc dân trên tầm vĩ mô.Hoạt động kinh tế và
quản lí sản xuất kinh doanh là quyền của chủ thể hoạt động kinh tế. Nhà nước tác động,
điều chỉnh các hoạt động kinh tế với tư cách là cơ quan công quyền mà không can thiệp
một cách trực tiếp vào các quan hệ thị trường.
Phạm vi và nội dung hoạt động thể hiện vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh
tế thị trường đã có những thay đổi cơ bản. Xét trên tổng thể, Nhà nước quản lí kinh tế
chính là nhà nước trực tiếp tổ chức hoạt động kinh tế trên các lĩnh vực khác nhau
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc trưng vai trò kinh tế của Nhà
nước được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
-Nhà nước bằng pháp luật quy định tư cách chủ thể, tạo ra khung pháp lí cho các
hoạt động kinh tế;
-Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi về quốc phòng, an ninh, chính trị, xã hội,
ngoại giao cho hoạt động kinh tế;
-Nhà nước bằng pháp luật ngăn ngừa và phòn chống các yếu tố phản thị trường,
phải là hình thức biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước mà là hình thức của nền kinh
tế công hữu phục vụ cho lợi ích của nhân dân trong đó Nhà nước là người đại diện.Vì thế
thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN là vấn đề thực tiễn và lí luận mới ở Việt Nam hiện nay. Về mặt nhận thức cần
thấy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là “sản
phẩm” của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế phát triển theo định hướng XHCN; nếu
không có sự phân công, phối hợp tốt vai trò của các thành phần kinh tế thì cũng không có
đựơc vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
Vai trò của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
đwocj thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
-Kinh tế nhà nước là cơ sở vật chất cho việc thực hiện chức năng kinh tế của nhà
nước; là công cụ để hướng dẫn, điều tiết các thành phần kinh tế phát triển theo định
hướng XHCN;
-Kinh tế nhà nước là công cụ hỗ trợ và phục vụ cho các thành phần kinh tế, tạo điều
kiện và thúc đẩy các thành phần kinh tế đều phát triển;
-Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân.
Với vai trò của nền kinh tế nhà nước như trên thì việc đổi mới cơ cấu kinh tế nhà
nước cũng như quản lí nhà nước đối với kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và
năng lực cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như trênthị trường quốc tế của các chủ
thể kinh tế nhà nước đã và đang là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính
sách kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay (theo Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia,H.1996,tr93-94)
3.Thực trạng tổ chức, quản lí kinh tế của nhà nước Cộnghòa XHCN Việt Nam hiện
nay
3.1.Khái quát về thành tựu đạt được trong việc tổ chức, quản lí kinh tế của nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Bằng chính sách, pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác, qua gần hai thập kỉ
dổi mới đất nước, Nhà nước ta thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp
tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; vôốnhỗ trợ phát
triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội.
Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư
ra nước ngoài
*Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới
Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Nhaànước
đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp, Luật ngân hàng và
các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam(sửa
đổi), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật lao động, Luật kinh doanh bảo hiểm,
Luật khoa học và công nghệ … Nhiều loại thị trường hàng hóa dịch vụ như thị trường
vốn, tiền tệ, tài chính, lao động, bất động sản, khoa học và công nghệ đã được thừa nhận
và bước đầu được tạo lập khuôn khổ pháp lí. Cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô của nhà nước
đã được định hình; hành lang pháp lí cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động
của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế dã đựoc xác lập. Các thủ tục hành chínhđã giảm
bớt, tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới một bước quan
trọng theo các yêu cầu của việc đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh. Chính sách chủ
động hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực đang được tăng cường trên cơ sở phát
huy năng lực của nền kinh tế đất nước.
Đánh giá tình hình chung sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế-xã hội 1991-2000, Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng, đó là tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp
đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền
kinh tế từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các
nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế .
Đặc biệt là nhà nước đã kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao
cấp, chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; cơ cấu nền kinh tế quốc dân
từ chỗ chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nay đã huyển
sang nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần trong đó nền kinh tế nhà nước giữ vai trò
hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, tình trạng phân hóa
giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn còn cao..
(theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”,Cải cách kinh tế, tài chính Việt Nam&
Trung Quốc và thành tựu và triển vọng, Nxb. Tài chính,tác giả Nguyễn Công Nghiệp, H,
tr.14)
Trong gần 20 năm đổi mới đất nước, bên cạnh những kết quả đã đạt được, về xây
dựng hệ thống pháp luật cũng như hoạt động thi hành pháp luật và giáo dục nâng cao ý
thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục để phát
triển kinh tế-xã hội theo chiều sâu của sự nghiệp đổi mới đất nước. So với nhu cầu của
đất nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội hiên nay thì có thể thấy hệ thống pháp
luật còn những khuyết điểm như sau :