Phân tích lợi nhuận và một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Thép Việt Nam. - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Với những điều kiện cụ thể khác nhau, cơ chế
vận hành hoạt động kinh doanh khác nhau thì kết quả lợi nhuận cũng khác nhau.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà
nước cấp phát vốn, cung ứng vật tư, nguyên vật liệu và bao tiêu sản phẩm, lãi
nộp Nhà nước, lỗ Nhà nước chịu. Lợi nhuận đó chưa phản ánh đầy đủ các chi
phí sản xuất và yêu cầu thực tế nghiêm khắc của thị trường, chưa kích thích
được tính chủ động sáng tạo của người quản lý và công nhân trực tiếp sản xuất.
Do đó có tình trạng lãi giả, lỗ thật. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ
kéo dài trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, gây lãng phí nguồn lực.
Thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà
nước ban hành các chế độ chính sách, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tạo điều
kiện để các doanh nghiệp chủ động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm lãi lỗ về các
hoạt động của mình. Từ khi có quyết định 90/TTg và 91/TTg ngày 07/03/1994
của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp được sắp xếp lại theo mô hình
Tổng công ty 90 và Tổng công ty 91, hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi tạo điều kiện
mở rộng và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động.
Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập theo mô hình Tổng công ty 91.
Nhiệm vụ chính yếu của Tổng công ty là sản xuất thép, lưu thông sản phẩm thép
trên thị trường trong cả nước, nhập khẩu một số sản phẩm thép trong nước chưa
sản xuất được, cân đối cung và cầu các mặt hàng sản phẩm thép cho nền kinh tế.
Từ khi được sắp xếp lại, nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tập trung vào
một đầu mối quản lý, mở rộng liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài và
1
1
trong nước, Tổng công ty đã từng bước ổn định sản xuất, đảm bảo cung cấp ổn
định các sản phẩm thép cho nền kinh tế, làm ăn có lãi.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Tổng công ty Thép Việt Nam, vận

a- Doanh nghiệp
Nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đang tiếp tục đổi mới cơ
chế chính sách để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
mang lại hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận cao.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp
nhân, hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở
hữu doanh nghiệp, tối đa hoá lợi nhuận và phát triển.
Ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động. Có thể phân
loại doanh nghiệp căn cứ vào ngành nghề, hình thức sở hữu. Dựa vào hình thức
sở hữu, các doanh nghiệp được chia thành:
- Doanh nghiệp Nhà nước
- Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
4
4
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp Nhà nước: Theo Điều 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước “Doanh
nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức
quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục
tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao cho. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách
pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”. Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động kinh doanh là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu
nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là Doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các
chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh.
Công ty (Công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần): là doanh nghiệp

- Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính để đảm bảo trạng thái
cân bằng tài chính.
- Quản lý hoạt động tài chính ngắn hạn để đưa ra các quyết định thu chi cho
phù hợp.
Các hoạt động trên nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận cao nhất, sản xuất kinh
doanh không ngừng tăng trưởng và phát triển.
6
6
c- Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước hiện nay
Trong thời kỳ nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, các xí nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước chiếm địa vị thống trị trên hầu hết
các lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
trong điều kiện được bao cấp của Nhà nước như:
- Mua vật tư theo giá hạ;
- Được cấp vốn, trang bị máy móc thiết bị và vay vốn theo lãi suất thấp;
- Được trả lương không đầy đủ cho người lao động, phần còn lại được Nhà
nước bao cấp ngoài lương;
- Được bao tiêu sản phẩm…
Do vậy, trên sổ sách lợi nhuận và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà
nước có thể có hoặc có thể rất lớn. Nhưng nếu tính đủ chi phí như tính đủ
nguyên giá tài sản cố định và khấu hao tài sản đủ tỷ lệ quy định; Tính đủ giá
nguyên vật liệu, động lực, ngoại tệ nhập khẩu; Tính đủ tiền lương không bao cấp
bằng hiện vật bằng bù lỗ bên ngoài của Ngân sách Nhà nước thì thực chất đó là
lãi giả, lỗ thật. Ngược lại, cũng có trường hợp đơn vị được Nhà nước bù lỗ, song
trên thực tế thì có lãi vì việc bù lỗ không căn cứ vào hoạt động xác thực của
doanh nghiệp mà căn cứ vào định mức được duyệt.
Thực hiện đường lối cải cách kinh tế, Đảng và Nhà nước đổi mới cơ chế,
chính sách, tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước tạo điều kiện để các
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu qủa. Doanh nghiệp Nhà nước là một
bộ phận quan trọng của nền kinh tế Nhà nước, phải giữ vai trò chủ đạo trong nền

8
+ Lợi nhuận: là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ
tiêu chất lượng tổng hợp đánh giá hiệu qủa kinh tế các hoạt động SXKD của
doanh nghiệp.
+ Thu nhập của doanh nghiệp hay chính là doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ
trừ đi toàn bộ chi phí sản xuất (chi phí về tiền thuê lao động, tiền lương, tiền
thuê nhà cửa, tiền mua vật tư ... ) thuế hàng hoá và các thứ thuế khác hầu như
còn lại được gọi là lợi nhuận. Có thể biểu diễn qua biểu sau :
Biểu 1 : Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí, thuế và lợi nhuận.

Doanh thu bán hàng và dịch vụ
Lãi gộp
Chi phí biến
đổi
Chi phí cố định Lợi nhuận trước thuế
Tổng chi phí sản xuất Thuế
Lợi nhuận
thuần túy
b- Các loại lợi nhuận của doanh nghiệp :
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại hình lợi nhuận khác nhau, ta có thể khái
quát thành các loại lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận trước thuế.
+ Lợi nhuận sau thuế.
1.1.2.2- Các nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp :
Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp rất
phong phú và đa dạng, do đó lợi nhuận đạt được từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cũng hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
Thứ nhất: Lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ là
khoản chênh lệch giữa doanh thu về tiêu thụ và chi phí của khối lượng sản
phẩm hàng hoá lao vụ thuộc các hoạt động sản xuất kinh doanh chính phụ của

NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
10
10
1.2.1- Các phương pháp xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp
Như ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh số lượng và chất lượng của
các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng mức
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó.
Ta có thể xác định được lợi nhuận theo công thức sau:
Tổng lợi
nhuận
trước
thuế
=
Tổng
doanh
thu
-
Tổng chi phí sản
xuất kinh doanh
Hay :
Tổng lợi
nhuận
trước
thuế
=
Tổng
doanh
thu
-
Chi phí


Chi
phí
biến
đổi
Các khoản thuế phải nộp bao gồm :
- Thuế doanh thu = Tổng doanh thu x tỷ lệ thuế doanh thu phải nộp
11
11
- Thuế tài
nguyên (nếu
có)
=

Giá thành khối
lượng sản phẩm
x
Tỷ lệ thuế tài
nguyên
phải nộp
- Thuế xuất
nhập khẩu
(nếu có)
=
Doanh thu xuất
nhập khẩu
x
Tỷ lệ thuế
xuất nhập khẩu
- Thuế vốn =

định số thuế lợi tức doanh nghiệp phải nộp.
Thuế lợi tức
phải nộp
=
Tổng số lợi
nhuận
x
Tỷ lệ thuế lợi tức
phải nộp
Số lợi nhuận còn lại sau khi đã trừ đi thuế lợi tức được gọi là lợi nhuận
thuần túy của doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết: Toàn bộ doanh thu, giá thành toàn bộ và thuế đều được
xác định dựa trên cơ sở khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá bán đơn vị, giá
12
12
thành đơn vị và mức thuế đơn vị sản phẩm tiêu thụ. Do đó tổng lợi nhuận tiêu
thụ còn có thể được tính theo công thức sau :
∑ln = [ ∑ (Qi x Gi ) - ( ∑ Zi + ∑Ti )]
∑ln : Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Qi : Sản lượng hàng hoá tiêu thụ
Gi : Giá bán hàng hoá loại i
Zi : Giá thành hàng hoá loại i
Ti : Thuế hàng hoá loại i tiêu thụ
n : Số loại hàng hoá
m : Số loại thuế
Qua công thức xác định lợi nhuận trên ta có thể thấy rõ được sự ảnh
hưởng của từng nhân tố sản lượng tiêu thụ, cơ cấu mặt hàng, giá thành sản
phẩm và các loại thuế đến tổng số lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Ta có
thể xét sự ảnh hưởng của các nhân tố trên qua việc phân tích dưới đây:
a- Nhân tố sản lượng sản phẩm tiêu thụ:

phẩm là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác việc
thay đổi giá bán cũng do tác động của quan hệ cung cầu, của cạnh tranh ...
đây là tác động của yếu tố khách quan.
d- Nhân tố giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản
phẩm cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật
tư kỹ thuật, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu như sản lượng sản xuất, giá cả, mức thuế không thay đổi thì việc giảm
giá thành sẽ là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp.
14
14
e- Nhân tố thuế nộp ngân sách:
Ảnh hưởng của thuế đối với lợi nhuận là không theo cùng một tỷ lệ. Việc
tăng giảm thuế là do yếu tố khách quan quyết định (chính sách, luật định của
nhà nước). Với mức thuế càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm
nhưng doanh nghiệp vẫn phải có nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.
1.2.2- Chế độ phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp :
Lợi nhuận tạo ra sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh một phần được trích
nộp vào ngân sách nhà nước, một phần để lại doanh nghiệp.
Phần trích nộp vào ngân sách nhà nước biểu hiện ở hình thức nộp thuế lợi tức
đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào (tỷ lệ nộp thuế lợi tức đối với các doanh
nghiệp sản xuất thường là 25% và 45% đối với các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ).
Phần để lại doanh nghiệp được trích vào 3 qũy đó là qũy khuyến khích phát
triển sản xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thưởng theo các tỷ lệ sau:
- Qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh > 35%.
- Qũy phúc lợi và khen thưởng < 65%.
Việc trích lợi nhuận vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh

Do vậy để đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thì phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận. Các
chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chính là các chỉ tiêu sinh lời kinh doanh biểu hiện
mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế hoặc với nguồn lực tài
chính để tạo ra lợi nhuận. Đồng thời cũng thể hiện trình độ năng lực kinh
doanh của nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó. Như vậy ngoài
chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng các chỉ tiêu tương đối là tỷ suất lợi
nhuận.
b- Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
16
16
* Tỷ suất lợi nhuận của vốn:
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao
gồm các vốn cố định và vốn lưu động.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
của vốn
=
Tổng số lợi nhuận
Tổng vốn sản xuất kinh doanh
Tổng số vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động đã
chi ra (trong đó vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số đã khấu
hao và vốn lưu động là vốn dự trữ sản xuất, vốn thành phẩm dở dang, vốn
thành phẩm).
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của vốn cho thấy hiệu quả sử dụng một đồng vốn
sản xuất tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Để nâng cao chỉ tiêu này đòi hỏi
doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm vốn trong các khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh.
* Tỷ suất lợi nhuận của giá thành :
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản

Tỷ suất lợi nhuận
theo lao động
=
Tổng số lợi nhuận
Tổng lao động sử dụng trong kỳ
1.3.2- Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp
Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận ở phần
trên ta có thể đưa ra một số biện pháp chính nhằm tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp như sau:
a- Tăng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu trong nước và quốc tế
trên cơ sở phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ:
Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng hay của thị trường rất đa dạng và
phong phú, dễ biến động. Trong điều kiện các nhân tố khác ổn định thì việc
18
18
tăng lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu thị trường sẽ làm tăng
lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn tăng được khối lượng sản phẩm tiêu thụ
cần chuẩn bị tốt các yếu tố và điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành thuận lợi, tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh một
cách cân đối nhịp nhàng và liên tục, khuyến khích người lao động tăng nhanh
năng suất lao động.
Phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ: Nhu cầu thị
trường đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ,
phấn đấu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm tiêu thụ
là điều kiện để tăng nhanh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp từ đó giúp
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm có hàm lượng chất
xám cao cho ta khả năng nâng cao giá trị và giá trị sử dụng nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thị trường. Nhưng để nâng cao được chất lượng sản phẩm đòi
hỏi bản thân doanh nghiệp phải nỗ lực cố gắng.
b- Tăng cường tiêu thụ những sản phẩm có tỷ trọng lợi nhuận cao:


Chỉ số
định mức
NVL
x
Ch

số
giá
cả
-
1
x
Chỉ số tỷ
trọng NVL
trong giá
thành sản
phẩm
- Biện pháp giảm chi phí tiền lương và tiền công trong giá thành sản phẩm:
Muốn giảm chi phí tiền lương và tiền công trong giá thành sản phẩm cần
tăng nhanh năng suất lao động bằng cách cải tiến công tác tổ chức sản xuất, tổ
chức lao động, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp, nâng cao
trình độ người lao động, có chế độ khuyến khích người lao động thích hợp
bằng cách áp dụng hình thức lương hưởng đúng mức.
Năng suất lao động tăng nhanh hơn chi phí về tiền lương bình quân sẽ cho
phép giảm chi phí trong giá thành sản phẩm. Do đó khoản mục chi phí và tiền
công trong giá thành sản phẩm sẽ giảm theo tỷ lệ với tỷ trọng tiền lương trong
giá thành sản phẩm.
Ảnh hưởng của việc giảm chi phí tiền lương sẽ được tính toán theo công
thức:

định
=
Chỉ số chi
phí cố định
-1
x

Chỉ số chi phí cố
định trong giá
thành sản phẩm
Chỉ số sản
lượng
Trên cơ sở tính toán được ảnh hưởng của các nhân tố trong giá thành sản
phẩm ta phải kết hợp các nhân tố để làm sao giảm được các chi phí ở mức tối
ưu (không nhất thiết là giảm càng nhiều càng tốt như vậy sẽ ảnh hưởng tới
chất lượng sản phẩm).
d- Tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm giảm chi
phí tiêu thụ:
Để thấy được hiệu quả rõ rệt của sản xuất kinh doanh thì nhất thiết phải làm
tốt khâu tiêu thụ sản phẩm. Dù cho sản phẩm có chất lượng tốt như thế nào,
21
21
công tác sản xuất có hiệu quả đến mấy mà sản phẩm không tiêu thụ được thì
sẽ không có lợi nhuận. Để thực hiện tốt công tác này cần có những biện pháp
xúc tiến bán hàng như quảng cao, khuyến mãi... các kênh tiêu thụ phân phối
hợp lý, làm tốt công tác dịch vụ sau bán hàng.
1.4- CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ TÍNH TẤT
YẾU CỦA VIỆC NÂNG CAO LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP
1.4.1- Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp và tổng hợp của tất

kiệm tạo khả năng tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nội dung của công tác chuẩn bị cho quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc
vào nhiệm vụ, tính chất sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Trước hết đó là chuẩn bị tốt về khâu thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất.
Thiết kế sản phẩm và công nghệ chế tạo hợp lý sẽ tạo điều kiện giảm thời
gian chế tạo, hạ giá thành, tạo lợi nhuận cho quá trình tiêu thụ.
Tiếp đó là chuẩn bị tốt các yếu tố vật chất cần thiết cho quá trình sản xuất như
lao động ( số lượng, chất lượng, cơ cấu ) máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất
được thuận lợi, nhịp nhàng và liên tục giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Cuối cùng là doanh nghiệp phải có phương án hợp lý về tổ chức điều hành
quá trình sản xuất (tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý).
c- Nhân tố về trình độ tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm:
Tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá và dịch vụ là quá trình thực
hiện sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố đầu vào như lao động, vật tư, kỹ thuật...để
chế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Qúa trình này tiến hành tốt hay xấu
ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra số lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, chất
lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, chi phí sử dụng các yếu tố để sản xuất ra
sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó.
23
23
Điều đó chứng tỏ rằng muốn tạo ra lợi nhuận cao cần phải có trình độ tổ
chức sản xuất sao cho tiết kiệm được chi phí ở mức tối đa mà không ảnh
hưởng đến chất lượng của sản phẩm tiêu thụ.
d- Nhân tố trình độ tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ :
Sau khi doanh nghiệp đã sản xuất được sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo
quyết định tối ưu về sản xuất thì khâu tiếp theo sẽ là phải tổ chức bán nhanh,
bán hết, bán với giá cao những hàng hoá và dịch vụ đó để thu được tiền về
cho quá trình tái sản xuất mở rộng tiếp theo.
Lợi nhuận của quá trình sản xuất kinh doanh chỉ có thể thu được sau khi thực
hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Do đó tổ chức tiêu

chính sách tiền tệ thay đổi có thể là mức lãi giảm đi hay tăng lên có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc vay vốn của doanh nghiệp.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp công nghiệp. Các nhân tố này được tiếp cận theo quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp, chúng có quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Việc nghiên cứu
các nhân tố này cho phép xác định các yêu tố chủ quan và khách quan ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xác định các biện pháp
nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước.
1.4.2- Tính tất yếu của việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp:
a- Vai trò của nâng cao lợi nhuận với sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường điều đầu
tiên mà họ quan tâm đó là lợi nhuận. Đây là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh, đồng thời đó còn là yếu tố sống
còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và hoạt động khi nó tạo ra lợi
25
25

Trích đoạn Tình hình sử dụng tài sản, nguồn vốn của Tổng công ty Tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status