TIỂU LUẬN:
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG ĐƯỜNG LỐI
TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẢNG
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những luận chứng để làm rõ rằng, chủ trương
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức là bước
phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về đường lối tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm đúng đắn này
được chính thức khởi đầu tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII)
và được bổ sung, hoàn thiện trong các kỳ Đại hội sau đó của Đảng. Theo tác giả,
việc tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước cũng như chủ động và
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng
ta đã khẳng định: "phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ
trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,
không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân"(3).
Có thể nói, trong Cương lĩnh này, mặc dù đã khẳng định đường lối tiến hành "công
nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại", nhưng Đảng ta còn chưa chỉ rõ những nội
dung cụ thể của đường lối đó, chưa chỉ rõ vì sao chúng ta phải gắn kết chặt chẽ công
nghiệp hoá với hiện đại hoá trong một chỉnh thể thống nhất. Chỉ sau đó, tại Hội nghị
đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1-1994), khi nhận thức rõ rằng,
tuy nền kinh tế nước ta đã có những bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có bước
chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, nhưng chất lượng, hiệu quả, tính
cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tốc độ đổi mới chậm, sự tăng trưởng dựa chủ
yếu vào vốn, tài nguyên, ít dựa vào tiến bộ khoa học – công nghệ, tiềm năng trí tuệ
chưa được phát huy…, Đảng ta mới khẳng định công nghiệp hoá phải gắn liền với
hiện đại hoá, chủ trương "thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hoá"(4).
Theo quan điểm của Đảng, trong thời đại ngày nay, những tiến bộ về kinh tế, xã hội
cùng với sự mở rộng và tăng cường hợp tác phát triển với các nước và các tổ chức
quốc tế là cơ sở để chúng ta đẩy tới một bước công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Xác định công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm, có tầm quan trọng hàng
đầu, là con đường duy nhất giúp chúng ta không chỉ thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày
càng xa hơn so với các nước trong khu vực Đông – Nam Á và trên thế giới, mà còn
giữ được ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền quốc gia và định
hướng phát triển xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, cho đến thời điểm mà lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra quan điểm gắn kết công
hoá đất nước, Đảng ta vẫn chưa nói đến vấn đề gắn kết công nghiệp hoá, hiện đại hoá
với kinh tế tri thức. Như chúng ta đã biết, vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ
XX, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là
những thành tựu trong bốn lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công
nghệ năng lượng và công nghệ thông tin, đã tạo nên những biến đổi to lớn trong đời
sống kinh tế – xã hội của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Sự phát triển
vượt bậc của khoa học, công nghệ hiện đại đã dẫn đến sự ra đời của ngành kinh tế tri
thức. Điều đó có nghĩa là, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta đang diễn ra trong điều kiện kinh tế tri thức đã trở thành một xu hướng phát triển
mới của các nước trên thế giới. Có thể nói, sự xuất hiện của kinh tế tri thức là vận hội
chưa từng có để Việt Nam đi tắt đón đầu, từng bước đuổi kịp các nước tiên tiến trên
thế giới. Từ chỗ cho rằng, "kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá
trình phát triển lực lượng sản xuất", Đảng ta đã chủ động đưa ra quan điểm về sự gắn
kết công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức. Tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001), với nhận định rằng, sự phát triển của kinh
tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá đã đem lại lợi thế cho các nước đi sau, trong
đó, trong đó có nước ta, giúp chúng ta có thể và cần thiết không phải trải qua các
bước tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế
tri thức, Đảng ta đã xác định "con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước
tacần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt.
Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công
nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng
dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về
khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí
tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá"(7).
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày
phải được gắn liền với phát triển kinh tế tri thức.
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức là hai nội
dung của một quá trình thống nhất và diễn ra đồng thời. Đảng ta đã xác định rõ rằng,
việc thực hiện các nội dung chiến lược đó ở nước ta hiện nay cần phải dựa vào tri
thức. Xuất phát từ một trình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật, để có thể đi nhanh và
phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, chúng ta không có con đường nào khác
ngoài con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội
chủ nghĩa với phương thức "rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có
bước nhảy vọt". Chúng ta cần phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền
kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sang
kinh tế tri thức. Điều đó có nghĩa là, một mặt, chúng ta phải phát triển nông nghiệp
và các ngành công nghiệp cơ bản, mặt khác, phải phát triển các ngành kinh tế dựa
nhiều vào tri thức và công nghệ cao. Nói cách khác, gắn đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức theo những bước đi và hình thức thích hợp với
điều kiện nước ta hiện nay không chỉ là quá trình mang tính tất yếu, khách quan, mà còn
là con đường duy nhất giúp chúng ta "rút ngắn thời gian" để có thể trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như Đảng ta đã xác định.
Không chỉ khẳng định sự cần thiết, tất yếu phải gắn việc đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức, lấy kinh tế tri thức làm yếu tố cấu thành
quan trọng của nền kinh tế, Đảng ta còn chỉ rõ nội dung chủ yếu của quá trình này là:
Thứ nhất, phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng mạnh các ngành, các lĩnh vực và
những sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp có hiệu
quả việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với những tri thức mới
nhất của nhân loại.
Thứ hai, không chỉ coi trọng số lượng, mà còn phải coi trọng cả chất lượng tăng
trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương
và trong mỗi dự án phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ ba, xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh
thổ.
thức "rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt" để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Văn
kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "trong 5 năm tới, chúng ta chủ trương tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức”(10). Cơ sở để thực hiện đồng thời và có hiệu quả hai quá trình này là tích cực phát huy nội lực, kết hợp
hữu hiệu việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới
nhất của nhân loại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đưa công
cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển mạnh mẽ,
toàn diện và đồng bộ hơn.
Bước vào thế kỷ XXI, các nước trong khu vực và trên thế giới đang nỗ lực theo đuổi
những chiến lược phát triển của mình để vươn tới nền kinh tế tri thức. “Trung Quốc
tiếp tục thúc đẩy chính sách chiêu đãi hiền tài; Ấn Độ tăng tốc với kế hoạch nghiên
cứu và phát triển, Singapore đang đứng đầu châu Á về công nghệ sinh học. Toàn
cảnh một không khí hừng hực đầu tư cho nền kinh tế tri thức đang bùng nổ khắp
châu Á”(11). Việt Nam cũng đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời, mở rộng
quan hệ với các nước trên tinh thần hợp tác và phát triển (biểu hiện rõ rệt nhất là đã
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới). Đó là những cơ sở để chúng
ta, một mặt, khẳng định tính đúng đắn và khoa học trong quan điểm của Đảng về đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; mặt khác,
hiện thực hoá đường lối phát triển đó trong thực tiễn.r
(*) Thạc sĩ triết học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.23.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 87-88.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
điểm đó của Đảng ta, tác giả đã khẳng định: Quan điểm đúng đắn này của Đảng
không chỉ là sự giải phóng về mặt tư tưởng cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện
nay, mà trên thực tế, còn tạo điều kiện cho họ phát triển về đội ngũ, trưởng thành về
năng lực, thực sự đảm đương vai trò tiên phong trong phát triển kinh tế, tạo động lực
và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta
đang tạo dựng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc". “Công việc
thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Tính chân lý trong những câu
nói đó không chỉ đúng trong cuộc cách mạng chính trị, mà còn đúng trong sự
nghiệp cách tân kinh tế. Thực tế phát triển kinh tế hiện nay ở các nước đã chứng tỏ
rằng, doanh nhân là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của các doanh
nghiệp, của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ở nước ta, cho đến gần đây, tầm quan
trọng của giới doanh nhân mới được thừa nhận. Dấu ấn cho sự thừa nhận này là năm 2005, Nhà nước ta đã ra quyết định lấy ngày 13 – 10 hàng năm là Ngày Doanh
nhân Việt Nam. Mới đây, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã
khẳng định chủ trương “thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp.
Xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam nhiều về số lượng, có sức cạnh
tranh cao, có thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa
trên hình thức cổ phần. Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu
quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường; bồi dưỡng, đào tạo và tôn vinh các
doanh nhân có tài, có đức và thành đạt"
(1)
.
Để thấy rõ tầm quan trọng của tư tưởng coi trọng doanh nghiệp đa thành phần, coi
trọng giới doanh nhân và tính đúng đắn của quyết định cho phép đảng viên làm kinh
tế tư nhân, chúng ta hãy lùi lại lịch sử để đánh giá và xem xét.
Trong nền kinh tế thị trường, chúng ta đều thừa nhận hệ thống doanh nghiệp và đội
ngũ lãnh đạo, quản lý hệ thống đó – giới doanh nhân – đóng vai trò quan trọng
ngoại giao. Trong bối cảnh đó, giới doanh nhân Việt Nam đã từng bước hình thành
và phát triển. Đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam thành công trong kinh doanh
trong nước và ở nước ngoài. Giới kinh doanh người Việt Nam đã tăng nhanh về số
lượng và tích luỹ được nguồn vốn tương đối nhiều trong 20 năm thử sức trên
thương trường. Tuy nhiên, một số doanh nhân Việt Nam dường như vẫn chưa thật
sự tận tâm, tận lực cho công cuộc phát triển nền kinh tế quốc dân. Đâu đó vẫn còn
tâm lý e ngại, chưa muốn bỏ vốn ra kinh doanh, hoặc có bỏ vốn kinh doanh thì cũng
cầm chừng, trong khi vốn tích trữ dưới dạng bất động sản, vàng bạc, tiền gửi trong
ngân hàng không phải là nhỏ. Nguy hiểm hơn nữa là, có những thời kỳ, vốn trong
ngân hàng cũng không cho vay được vì thiếu người đi vay biết cách làm ăn, cũng
như thiếu dự án hiệu quả. Phải chăng người Việt Nam không có khả năng, không có
sự ham mê kinh doanh? Những cuộc phỏng vấn được tiến hành đối với giới trẻ,
nhất là sinh viên Việt Nam trong những năm gần đây không đưa lại câu trả lời đồng
tình với quan điểm đó. Hơn nữa, người Việt Nam ở nước ngoài rất ham muốn kinh
doanh và cũng đã có nhiều người thành đạt. Người Việt Nam ở trong nước cũng
đang có xu hướng lựa chọn nghề kinh doanh (kết quả điều tra của dự án “Nhận thức
và thái độ của dân cư đối với thị trường và kinh doanh” do Khoa Quản lý kinh tế,
Ban nghiên cứu Thủ tướng Chính phủ và Quỹ Ford tiến hành đã chứng minh rằng,
người Việt Nam có khả năng và thích kinh doanh). Trước đây, ở nước ta cũng đã có
nhiều doanh nhân nổi danh, như Bạch Thái Bưởi, Nguyên Vũ,
Vậy, nguyên nhân nào làm cho đa số người Việt Nam vẫn đứng ngoài kinh doanh và sử dụng vốn đã tích luỹ được không bằng phương thức kinh doanh. Theo chúng
tôi, nguyên nhân chính vẫn là ở chỗ, giới doanh nhân Việt Nam vẫn chưa nhận
được sự cổ vũ xứng đáng của Đảng và Nhà nước ta. Để chứng minh cho nhận định
này, chúng ta phải xem xét lại một cách có hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta đối với giới doanh nhân Việt Nam.
Cho đến nay, giới doanh nhân, nhất là những người kinh doanh tư nhân, vẫn còn
mang tâm lý e ngại đối với quá khứ cải tạo trước kia. Bởi lẽ, do nhận thức sai lầm
hai thập niên qua, giúp nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng vào những năm 80 của
thế kỷ XX, giúp thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước và cải thiện đời sống của nhân
dân. Nhưng, xét về phía doanh nhân Việt Nam, thì làn sóng đầu tư nước ngoài và
xu hướng hội nhập nhanh trong những năm qua đã làm cho quá trình phát triển của
họ càng thêm gian nan. Họ không những phải cạnh tranh ở tư thế quá bất lợi và thua
thiệt so với giới doanh nhân nước ngoài, mà còn bị phân biệt đối xử bằng trăm
nghìn cách khác nhau. Chẳng hạn, bị giới doanh nhân nước ngoài phong toả thị
trường theo các luật chơi có lợi cho doanh nhân của nước phát triển, bị các hiệp hội
doanh nhân nước ngoài và quốc tế chèn ép,… Ngoài ra, do không có mối quan hệ
truyền thống với các đối tác ở các nước tư bản chủ nghĩa, không có thị phần, không
có khách hàng quen, không có tiềm lực tài chính mạnh, không có kinh nghiệm kinh
doanh, không có sự liên kết với nhau bằng các hiệp hội đủ mạnh…, nên doanh nhân
Việt Nam rất yếu thế trên thị trường nước ngoài. Trong khi đó thì thị trường trong
nước vẫn còn ở tình trạng sơ khai, dung lượng thị trường cho các sản phẩm truyền
thống của Việt Nam không lớn Ở thị trường nước ngoài, doanh nhân Việt Nam bị
phân biệt đối xử đã đành; ở trong nước, họ cũng bị phân biệt đối xử. Nhiều khía
cạnh của sự phân biệt đối xử rất tinh tế, khó nhận biết. Chẳng hạn, các khu công
nghiệp không cấm doanh nghiệp trong nước thuê đất, nhưng với số tiền vốn quá
nhỏ, nếu thuê đất trong khu công nghiệp thì các doanh nghiệp của tư nhân trong
nước hoặc không đủ sức thuê, hoặc có thuê được thì cũng không còn vốn kinh
doanh. Chế độ thuê đất, chế độ sử dụng đất ở của nước ta trong những năm qua có
quá nhiều thay đổi và bất hợp lý đến nỗi doanh nhân trong nước kinh doanh bất
động sản theo kiểu đầu cơ thì lãi to, còn dùng đất để kinh doanh sản xuất thì không
chịu được chi phí. Các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân thường rất khó tiếp cận
tín dụng chính thức giá rẻ do mức tín nhiệm thấp. Việc cải thiện mức tín dụng cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta là cả một quá trình lâu dài, bản thân giới
doanh nhân trong nước không thể hoá giải được nếu không có sự trợ giúp của Nhà nước…
và ở nước ngoài; giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng sản
phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hoá Việt Nam"(2), và vì thế, họ xứng
đáng được “bồi dưỡng, đào tạo và tôn vinh”.
Xét về phía quyền lợi của doanh nhân, có thể coi quan điểm này của Đảng ta là một
cuộc cách mạng trong chính sách giai cấp và tầng lớp xã hội của Đảng. Cuộc cách
mạng này đạt tới đỉnh cao trong quyết định của Đảng cho phép đảng viên được làm
kinh tế tư nhân. Về mặt lý luận, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân và việc giữ
vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng còn phải được tiếp tục nghiên cứu,
tranh luận. Nhưng, về thực tiễn, quyết định này của Đại hội X là hết sức sáng suốt.
Bởi lẽ, kinh doanh là một nghề, doanh nhân là những người lao động, kể cả doanh
nhân kinh doanh dưới hình thức bỏ vốn kinh doanh. Hơn nữa, nghề kinh doanh đòi
hỏi ở con người không chỉ tri thức khoa học, kỹ năng, nghiệp vụ thành thạo, mà cả
ý chí, nghị lực và đạo đức trong kinh doanh. Doanh nhân chân chính là những
người biết cách làm giàu chính đáng, đúng luật và giữ uy tín với khách hàng. Do đó,
doanh nhân không đồng nghĩa với bóc lột, họ thuộc tầng lớp người lao động. Tuy
nhiên, doanh nhân hoạt động dựa trên động lực là làm giàu, làm giàu bằng lao động,
bằng vốn, bằng sử dụng hiệu quả nguồn tài sản của doanh nghiệp. Nền kinh tế thị
trường đòi hỏi phải tôn trọng động lực đó của giới doanh nhân và doanh nghiệp. Do
đó, sự giàu có một cách chính đáng phải được xã hội tôn vinh chứ không nên khinh
bỉ và quy cho họ là người bóc lột. Đây là một điểm mốc nữa về mặt quan điểm mà
Đại hội X của Đảng đã dũng cảm vượt qua.
Cả thực tiễn và lý luận phát triển kinh tế đều cho thấy rằng, mô hình kinh tế thị
trường là mô hình cho phép giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa phân công lao
động ngày càng chuyên môn hoá sâu không chỉ ở phạm vi quốc gia, mà còn mở
rộng ra phạm vi thế giới, với tính tổ chức cao và quyền tự do sáng tạo của con
người. Đương nhiên, kinh tế thị trường cũng không hoàn hảo, nên cần có cơ chế
quản lý bổ sung của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, động cơ hành động của
giới doanh nhân là làm cho giá trị tài sản gia tăng. Bản thân hành động hướng tới
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 84.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.119.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., 133.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO THỜI KỲ LÝ – TRẦN
DOÃN CHÍNH (*)
PHẠM THỊ LOAN (**)
Để làm rõ quá trình phát triển của Nho giáo với tư cách học thuyết chính trị– đạo
đức trong thời kỳ Lý – Trần, trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra và luận giải:
1. Những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, giáo dục ở thời kỳ Lý –
Trần; 2. Quan niệm của vua, quan thời Lý – Trần về đạo trị nước, yên dân của Nho
giáo; 3. Tư tưởng về “Trời” và “mệnh Trời” của Hán Nho và ảnh hưởng của nó
trong đời sống xã hội Việt Nam thời Lý –Trần; 4. Các Nho sĩ Việt Nam thời Lý –
Trần vận dụng các phạm trù đạo đức Nho giáo trong lĩnh vực chính trị và xây
dựng các chuẩn mực đạo đức; 5. Quá trình hình thành, phát triển và vị trí chủ đạo
của giáo dục Nho học trong nền giáo dục đất nước thời Lý – Trần.
Triều đại Lý – Trần được coi là thời đại hưng thịnh và vẻ vang trong lịch sử Việt
Nam với những thành tựu phát triển về mọi mặt, nhất là văn hoá tinh thần và tư
tưởng. Trong thời kỳ này, Phật giáo chiếm địa vị chủ đạo trong đời sống xã hội, có
ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh, văn hoá của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó,
Nho giáo với tư cách học thuyết chính trị – đạo đức cũng đã dần khẳng định ưu thế
của mình trong việc tổ chức bộ máy nhà nước, quản lý xã hội và có ảnh hưởng ngày
càng sâu rộng trong xã hội phong kiến tập quyền Việt Nam.
Ở nước ta, từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIII (từ thời Đinh đến giữa thời Trần), chế
đạo trị nước. Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Cho dù bên Ấn Độ, bên Trung Quốc
có những nhà sư làm quân sư đắc lực cho một số nhà vua, đó là sáng kiến của
những nhà sư ấy theo tinh thần Phật giáo, chớ giáo lý Phật giáo không bàn về chính
trị”
(2)
. Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo mang tính nhập thế, tích cực, nhưng bản thân
nó, với toàn bộ hệ thống giáo lý của mình, không có sự giải đáp thích đáng nào về
các vấn đề có liên quan đến việc củng cố nhà nước phong kiến, như vấn đề quân
quyền, quy định các điều chương, lễ chế và cơ cấu hành chính từ triều đình cho đến
địa phương, không chú ý đến việc củng cố gia đình, dòng họ, không đề ra những
biện pháp trị nước, yên dân… những vấn đề mà giai cấp phong kiến thống trị hết
sức quan tâm. Còn Nho giáo, du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công
nguyên, bằng con đường đi theo vó ngựa quân xâm lược của các triều đại phong
kiến Trung Quốc, trước hết được coi là công cụ của giai cấp thống trị nhà Hán trong âm mưu đồng hoá dân tộc ta. Vì thế, nhân dân ta đã phản ứng lại Nho giáo nhằm
khẳng định nền độc lập và chủ quyền đất nước, bảo tồn nòi giống, tín ngưỡng,
phong tục và di sản văn hoá cổ truyền của dân tộc và do vậy, trong suốt thời kỳ Bắc
thuộc và ngay cả ở các triều đại đầu tiên của nhà nước phong kiến dân tộc độc lập,
Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng kể trong đời sống chính trị, tinh thần của xã
hội Việt Nam. Tuy nhiên, khi nền tảng và cơ cấu xã hội Việt Nam thay đổi với sự
thiết lập chế độ phong kiến trung ương tập quyền mà ít nhiều, chịu ảnh hưởng của
thiết chế xã hội phong kiến phương Bắc thì Nho giáo lại tỏ ra thích hợp, trở thành
một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng mà người trong nước cần phải tiếp thu. Là
một học thuyết chính trị – đạo đức, Nho giáo chủ trương quyền hành phải thống
nhất, tập trung vào thiên tử, bảo vệ sự chính thống mà trên thực tế là bảo vệ các
vương triều với quyền lợi của dòng họ thống trị và các địa vị tôn quý của nó. Đồng
thời, nó còn đưa ra những chuẩn mực đạo đức cho hành vi ứng xử của con người,
những yêu cầu đối với các mối quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, đối với
sau, Phật giáo lui dần, còn Nho giáo, với ưu thế trong việc củng cố nhà nước quân
chủ tập quyền và trật tự của xã hội phong kiến đã dần vươn lên, phát triển khá mạnh
mẽ. Sự phát triển đó tuy chậm chạp, nhưng chắc chắn. Bởi vì, cùng với yêu cầu về
tổ chức quản lý xã hội và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, sự phát triển của
Nho giáo còn gắn liền với nhu cầu phát triển văn hoá, giáo dục.
Khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu ổn định và triển khai theo quy mô lớn
thì yêu cầu về việc xây dựng và phát triển một nền văn hoá và giáo dục độc lập, tự
chủ được đặt ra. Để nắm quyền quản lý đất nước, các triều đại Lý – Trần đã quan
tâm đến việc nâng cao tri thức. Đồng thời, do yêu cầu củng cố và phát triển của nhà
nước phong kiến, nên việc bổ nhiệm quan lại bằng con đường cũ – con đường
“nhiệm tướng” và “thủ sĩ” không đáp ứng được, mà cần phải có một phương thức
đào tạo và tuyển lựa quan lại mới để bổ sung vào đó. Điều này chỉ thực hiện được
bằng việc phát triển một nền giáo dục mới, với chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài.
Thực tế cho thấy, hệ thống giáo lý Phật giáo không thể đáp ứng được yêu cầu này,
mà chỉ có Nho giáo, với hệ thống lý thuyết đầy đủ về giáo dục và khoa cử, mới có
thể đảm đương được nhiệm vụ lịch sử đó. Từ đây, Nho giáo có cơ hội bám rễ sâu
vào đời sống chính trị – xã hội của nước ta. Bởi lẽ, theo con đường phát triển của
giáo dục khoa cử, Nho giáo không những tác động trực tiếp vào sự hình thành đội
ngũ trí thức của dân tộc và sự tuyển lựa nhân tài cho bộ máy nhà nước, mà nó còn
tác động đến thế giới quan, đến những quy phạm chính trị và những chuẩn mực đạo
đức của con người. Hơn thế nữa, nó còn dẫn đến những biến đổi căn bản trong
phong cách tư duy, trong sáng tác văn học, nghệ thuật và ngay cả trong nhu cầu, thị
hiếu của xã hội.
Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu và vào năm 1075 thì mở khoa thi Nho giáo đầu tiên với tên gọi “Thi minh kinh bác học” và “Nho học tam trường”, chính
thức khai sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài ở nước ta(5). Năm 1076, nhà Lý
đã cho lập Quốc tử giám ngay giữa kinh thành và “chọn quan viên văn chức, người
nào biết chữ cho vào Quốc tử giám”(6). Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức
vào đầu Trần, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn chi phối mọi mặt sinh hoạt của xã hội,
trong đó có giáo dục, thi cử, nhưng càng về cuối Trần, Nho giáo càng nâng cao vị
thế của mình thông qua con đường học tập, khoa cử. Có thể thấy điều đó qua việc
nhà Trần cho lập Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh
(Mạnh Tử), vẽ tranh 72 người hiền để thờ, và còn "xuống chiếu vời nho sĩ trong
nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư lục kinh”(9) năm 1253, hay việc vua Trần
Thánh Tông "xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm tư
nghiệp Quốc tử giám, tìm người có thể giảng bàn ý nghĩa của Tứ thư ngũ kinh sung
vào hầu nơi vua đọc sách”(10) vào năm 1272. Đặc biệt, vào năm 1304, nhà Trần
còn quy định nội dung thi Thái học sinh: "Về phép thi: trước thi ám tả thiên Y
quốc và truyện Mục thiên tử để loại bớt. Thứ đến kinh nghi, kinh nghĩa, đề thơ
(tức thể cổ thi ngũ ngôn trường thiên) hỏi về "vương độ khoan mãnh ", theo luật
"tài nan xạ trĩ ", về phú thì dùng thể 8 vần "đế đức hiếu sinh, hiệp vụ dân tâm ". Kỳ
thứ ba thi chế, chiếu, biểu. Kỳ thứ tư thi đối sách”(11). Cuối Trần, khi Hồ Quý Ly
lên nắm quyền bính, đã chú trọng phát triển giáo dục Nho học. Ông đã sửa đổi về
thi cử cho phù hợp yêu cầu thực tế, như đưa môn tính và viết vào thi Hương,
khuyến khích việc dùng chữ Nôm, cho dịch kinh Thư ra chữ Nôm để dễ học tập. Có
thể thấy, đến thời Trần, Nho học đã thực sự phát triển, chi phối giáo dục, khoa cử
phong kiến, tạo nên đội ngũ trí thức Nho sĩ đông đảo, thúc đẩy sự phát triển của học
vấn nước nhà, tạo ra nền văn hóa mang dấu ấn Nho giáo.
Cùng với việc mở rộng giáo dục thi cử, chế độ phong kiến trên con đường đi lên đòi
hỏi phải phát triển các lĩnh vực tri thức để xây dựng một nền văn hóa với bản sắc
riêng của mình, để có thể đứng vững trước mọi mưu đồ của kẻ thù xâm lược từ bên
ngoài và âm mưu đồng hóa của chúng. Kể từ thời Lý trở đi, sự phát triển tri thức
khoa học và sáng tạo nghệ thuật của đất nước ta đã có một bước tiến rõ rệt, biểu
hiện trên các lĩnh vực lý luận chính trị và pháp quyền, sáng tác văn học và quốc sử.
Nho giáo với tư cách một học thuyết chính trị - đạo đức lấy văn để chở đạo, lấy sử
ký để giáo hóa con người và quan tâm đến các lĩnh vực thiên văn, địa lý, nhân sự,…
đã từng bước thâm nhập vào lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong đời sống xã hội, tạo ra
những tiền đề cần thiết để tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới thời Trần và các thế kỷ
được. Ngày nay gặp biến, mới biết Phụng Hiểu còn trung dũng hơn Kính Đức
nhiều”
(15)
. Đời Trần, xuất phát từ thực tiễn của công cuộc dựng nước và giữ nước
lúc bấy giờ, trung nghĩa được nhấn mạnh như một yêu cầu quan trọng đối với các binh, tướng trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước, bảo vệ an nguy cho triều đình.
Trần Quốc Tuấn - người được đánh giá là "có tài mưu lược anh hùng, lại một lòng
giữ gìn trung nghĩa”
(16)
, trong bài Hịch tướng sĩ, đã lấy những tấm gương trung liệt
trong lịch sử Trung Quốc, như Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng để giáo dục các tì
tướng của mình, kêu gọi lòng trung thành của họ với triều đình, với đất nước
(17)
.
Nhìn chung, nội dung tư tưởng Nho giáo thời kỳ Lý - Trần chủ yếu là xoay quanh
tư tưởng chính trị - xã hội với những vấn đề về mẫu hình lý tưởng của xã hội phong
kiến Việt Nam, về đường lối cai trị, xây dựng bộ máy chính quyền phong kiến, về
đạo đức, tiết tháo của bậc trung thần, nghĩa sĩ… Đó là những vấn đề có quan hệ mật
thiết với sự phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, chuyên chế ở
Việt Nam đương thời, góp phần củng cố sự thống nhất của xã hội, tạo ra một trật tự
xã hội theo lễ và pháp, phục vụ cho yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặc dù
vậy, ở thời Trần, Nho giáo chưa phải là nhân tố quyết định sự phát triển và nội dung
của tư tưởng chính trị - xã hội, mà chính thực tiễn phong phú và hào hùng của công
cuộc dựng nước, giữ nước của nhân dân ta mới đóng vai trò quyết định. Những khái
niệm của Nho giáo được vua quan và Nho sĩ thời kỳ Lý - Trần sử dụng cũng chứa
đựng những nội dung thiết thực và gần gũi với công cuộc đấu tranh của dân tộc.
Tuy nhiên, vì Nho giáo là hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, gắn với yêu cầu
củng cố địa vị của giai cấp thống trị, nên cùng với sự phát triển của nó, Nho giáo