LUẬN VĂN:
Cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại và sự hình
thành nền kinh tế tri thức. Định
hướng của Việt Nam.
Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế, từ
kinh tế tự nhiên mang nặng tính chất tự cung tự cấp đến kinh tế thị trường với vai trò
chủ đạo của phân công lao động và trao đổi hàng hóa. Và trong những năm gần đây,
người ta lại nhắc nhiều đến thuật ngữ “kinh tế tri thức”, đó phải chăng là một bước
Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học đã từng bước đưa ngành trồng trọt chăn nuôi trở
thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên
nhiên. Đến giữa thế kỉ XVII, nền kinh tế công nghiệp bắt đầu được hình thành. Từ đó
đã có hai cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học
kĩ thuật, được đánh dấu bằng sự ra đời của máy hơi nước và máy phát điện. Và đặc
biệt, với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đầu thế kỉ XX, loài người đã đi sâu nghiên
cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất cả những sự vật nằm ngoài khả năng quan sát của
giác quan con người. Hàng loạt những phát kiến vĩ đại về phân tử, nguyên tử, hạt
nhân, các hạt cơ bản đến những hiểu biết về vũ trụ: các vì sao, thiên hà, đại thiên hà,
sự giãn nở của vũ trụ Người ta ước tính rằng trong thế kỉ XX toàn bộ lượng thông
tin, tri thức tăng thêm khoảng 1000 lần so với đầu thế kỉ và vượt trội tất cả các tri thức
mà loài người tích lũy được trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỉ XIX trở về trước.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về lực lượng
sản xuất mà ngày nay chúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
bắt đầu vào khoảng từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại được mở đầu bằng công nghệ
thông tin (CNTT). CNTT là nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất của sản xuất trong đó hàm lượng trí
tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm.
CNTT bao gồm từ phần cứng như chế tạo các mạch vi điện tử, các máy vi tính,
máy siêu tính các dây chuyền sản xuất tự động hóa, các thiết bị ngoại vi cho đến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống. Một phần quan trọng nữa trong
CNTT phải kể đến là các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu
dùng Mạng máy tính và internet đã và đang trở thành hệ thống huyết mạch quan
trọng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội. Năm 1993 đã có 1 triệu người nối
mạng, đến tháng 3 – 2000 số người dùng đã lên tới 280 triệu. Rõ ràng là mạng internet
không còn là một phương tiện kĩ thuật thuần túy mà đã thành một môi trường mới cho
mọi hoạt động của con người và có tác động rất lớn đến sự chuyển biến nhanh chóng
và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế
nhằm tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó
khoa học, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố hàng
đầu quyết định việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển.
Như vậy trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ ở việc tạo ra tri thức, mà
phải thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức. Kinh tế tri thức không chỉ bao hàm duy
nhất các lĩnh vực lao động với công nghệ cao, sử dụng lao động có tri thức và lao
động có kĩ năng cao là chính, mà còn quá trình tri thức xâm nhập và chi phối tất cả
mọi hoat động kinh tế. Nghĩa là không phải tất cả các ngành đều phải dựa trên nền
tảng công nghệ kĩ thuật cao, song điều chắc chắn là tất cả các ngành đều hoạt động
dưới sự chi phối của tri thức. Tóm lại, tri thức vừa là nội dung vừa lầ động lực của nền
kinh tế.
Có thể hình dung một cách cụ thể về nền kinh tế tri thức thông qua bảng so
sánh sau:
Stt
Hình thái
kinh tế Đặc
Hình thái thứ
nhất
Hình thái thứ hai
(Kinh tế tài
Hình thái thứ ba
(Kinh tế thị trưng
riêng biệt.
Phân công lao động
và trao đổi bị giới
hạn bởi các biên
giới địa phương,
quốc gia.
Phân công và
trao đổi phổ biến
thông qua mạng
kiên kết toàn cầu
không biên giới.
3 Lợi thế phát
triển chủ yếu
Tài nguyên thiên
nhiên
Công cụ kĩ thuật Tri thức của con
người (Khoa học
– Công nghệ), kĩ
năng lao động.
4 Tầm quan
trọng của
khoa học
Nhỏ Lớn Rất lớn 5 Tỷ lệ đóng
góp của khoa
học - công
Dưới 10% Trên 40 % Trên 70%
1% 5%
- Công nghệ
vật liệu mới
1% 5%
- Công nghệ
không gian
5% Công nghệ
mềm
5%
9 Vai trò của
truyền thống
Không lớn Lớn Rất lớn
10 Kết cấu sức
lao động:
- Nông
nghiệp
Trên 50% 10 – 20% Dưới 10%
- Công
nghiệp
Khoảng 15 -20% Trên 30% Dưới 20%
- Công nghệ
cao
10 -15% Trên 40%
11 Trình độ tổ
chức xã hội
Đơn giản Phức tạp Rất phức tạp
những hình thức hiện vật nhất định: bộ nhớ trong não, băng từ, đĩa
- Đối với sản phẩm thông thường, người mua có quyền sở hữu về nó,
nghĩa là có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Còn đối với sản phẩm tri thức,
người mua chỉ có quyền sở hữu vật mang nó và có quyền sử dụng đối với nội dung tri
thức. Đặc tính này có nguồn gốc sâu xa ở chỗ chỉ duy nhất con người mới có khả năng
tư duy. - Quá trình tiêu dùng sản phẩm tri thức dù là tiêu dùng sản xuất hay tiêu
dùng cho cá nhân, nói chung đều mang tính chất cuả một quá trình nghiên cứu, học
tập và trực tiếp hoàn thiện sản phẩm tri thức đó. Đôi khi người tiêu dùng còn phát hiện
ra tính năng mà chính tác giả của nó không ngờ tới.
- Việc sản xuất ra các loại sản phẩm tri thức thường tạo ra giá trị gia tăng
rất lớn. Đây là một đặc điểm tạo nên ưu thế vượt trội của sản phẩm tri thức so với các
sản phẩm thông thường khác. Chẳng hạn E. Sanchez và D. Mync sản xuất bộ phim “
Đồ án Blair Witch” bằng kĩ thuật số, phát hành trên internet, chỉ riêng trong nước Mĩ
đã thu được 140 triệu USD, và chỉ với chi phí 500.000 USD, nghĩa là có tỷ suất lợi
nhuận 280. Theo ước tính, trong ngành chế tạo thiết bị điện tử, tỷ suất giá trị gia tăng
trên giá trị đầu vào là khoảng 300, còn trong ngành công nghệ phần mềm tỷ suất đó
tiến tới vô hạn (!).
Nền kinh tế tri thức được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận và năng
động là tri thức nên phát triển nhanh và khả năng bền vững rất cao.
Công nhân tri thức
Phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế tri thức, bởi
đây là lực lượng trực tiếp tiếp thu tri thức, khoa học – công nghệ để tiến hành sản xuất
theo phương thức hiện đại. Sự ra đời của công nhân tri thức là tất yếu khách quan
cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức đồng thời cũng là sự phủ định có kế thừa
của giai cấp công nhân trong nền kĩ thuật - công nghệ hiện đại thế kỉ XX. Công nhân
tri thức có nhiều điểm tiến bộ so với công nhân trước đó, biểu hiện:
- Công nhân tri thức có sở hữu trí tuệ. Sở hữu này cho phép họ có thu
được định hình và tiếp tục phát triển. Nhưng ta có thể thấy điều cốt yếu trong kinh tế tri thức đó là việc thu thập, sử dụng và truyền bá các thông tin tri thức. Dưới đây là
một số đặc trưng của kinh tế tri thức:
- Tri thức, đặc biệt là khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Nhờ cuộc cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, hàng lọat các công nghệ
cao đã được phát minh và ứng dụng ngay vào quá trình sản xuất tạo nên sự thay đổi rõ
rệt cả về số lượng lẫn chất lượng. Các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất cũng như
giá trị của hàm lượng vật chất trong các sản phẩm ngày càng giảm để nhường chỗ cho
các yếu tố tri thức. Chính vì vậy trình độ khoa học-công nghệ và vốn con người trong
cuộc đua tranh, cạnh tranh phát triển.
- Sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang các ngành kinh tế tri thức: Nền kinh
tế nông nghiệp dựa trên sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp thì công
nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, còn trong nền kinh tế tri thức, các ngành kinh tế tri thức
sẽ chiếm vai trò thống trị, nhất là các dịch vụ trí tuệ (nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, tư
vấn thiết kế, y tế, tài chính, thông tin liên lạc ) sẽ trở thành họat động kinh tế chiếm
phần chủ yếu với số người tham gia nhiều nhất.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế mở cao, mang tính chất toàn cầu hóa. Với
sự phát triển cao của CNTT, các tri thức mới, đặc biệt là thành tựu khoa học-công
nghệ được phổ biến và ứng dụng một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Hoạt
động kinh tế và phân công lao động sẽ vượt ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành
hoạt động mang tính toàn cầu. Nền kinh tế thế giới sẽ trở thành một mạng lưới gồm
nhiều quan hệ đan xen giữa các nền kinh tế quỗc gia. Tuy nhiên, trong mạng kinh tế
toàn cầu đó, vẫn tồn tại những mảng, vùng có trình độ phát triển còn kém xa những
mảng, vùng khác. Việc tham gia vào mạng lưới này có thể giúp các quốc gia kém phát
triển tạo được sự bứt phá nhưng đồng thời cũng đưa đến những rủi ro tụt hậu rất lớn,
tùy thuộc vào khả năng của từng quốc gia.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế năng động với tốc độ biến đổi cực kì cao.
Nó thể hiện ở tốc độ sản sinh tri thức tăng theo cấp số nhân, ở tốc độ ứng dụng các
cầu hóa. - Quá trình phát triển kinh tế tri thức làm cho phân công lao động trở nên
sâu sắc và rộng khắp toàn cầu. Cùng với quá trình chuyển từ kinh tế công nghiệp sang
kinh tế tri thức, tri thức mà trước hết là khoa học và công nghệ sẽ phát triển nhanh
chóng, làm cho phân công lao động quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Bởi vì trong thời đại kinh tế này, khoa học-công nghệ và con người sẽ áp đảo các lợi
thế về đất đai, tài nguyên Một xu thế khác là sự phân công chuyên sâu trong hợp tác
quốc tế cũng được tăng cường theo hướng ngày càng có nhiều công ty đi chuyên sâu
vào sản xuất một mặt hàng, một chi tiết cụ thể nào đó của một sản phẩm hoặc chỉ cung
cấp một dịch vụ chuyên môn nhất định.
- Phát triển kinh tế tri thức sẽ làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế thế giới
và cấu trúc của quan hệ kinh tế quốc tế. Trong những năm 60, cơ cấu sản phẩm thế
giới với các ngành nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ có tỉ lệ là 10,4%-28,4%-
50,4% thì đến những năm 90, cơ cấu này đã có sự thay đổi mạnh mẽ với tỉ lệ 4,4%-
21%-62,4%. Chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu kinh tế thế giới là các
ngành kinh tế dựa vào tri thức. Sự thay đổi trong cơ cấu của kinh tế các nước và kinh
tế thế giới kéo theo sự biến đổi trong cấu trúc kinh tế quốc tế, thể hiện ở một số khía
cạnh sau:
+ Hàng hóa dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng chiếm vị trí chủ
chốt trong thương mại quốc tế. Năm 1990, trao đổi kinh tế và công nghiệp trao đổi
khoa học và công nghệ giữa các nước đạt 110 tỉ USD, năm 1995 là 250 tỉ USD và 500
tỉ USD năm 2000.
+ Thương mại điện tử là lĩnh vực phát triển nhanh nhất và sẽ đóng vai trò
hàng đầu trong thương mại thế giới. Thực tế cho thấy, từ năm 1997 đến năm 2002,
thương mại điện tử đã phát triển với tốc độ ghê gớm từ 17 tỉ USD đến gần 1000 tỉ
USD.
+ Tình trạng vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa các doanh nghiệp và tính
năng động, linh hoạt trên phạm vi quốc tế của chúng ngày càng tăng. Để tồn tại và
triển, trong đó có Việt Nam
Với những biểu hịên thay đổi như hiện nay của nền kinh tế thế giới, chúng ta có
thể thấy kinh tế tri thức đang dần trở thành xu thế phổ biến trên toàn cầu. ở những nền
kinh tế lớn trên thế giới, các ngành kinh tế tri thức chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong cơ
cấu GDP. Tỉ lệ này là 57,3% ở Xin-ga-po, 55,3% ở Mĩ, 53% ở Nhật Bản, 51% ở
Canađa và 48% ở Ô-xtrây-lia. Và một điều tất yếu là kinh tế tri thức phát triển sẽ cuốn
vào vòng xoáy của nó tất cả các nước đang phát triển và kém phát triển. Do kinh tế tri
thức có tốc độ biến đổi cực kì cao, thuộc tính tốc độ biến đổi nói lên rằng khả năng bắt
kịp các nước cũng như khả năng tụt hậu sẽ lớn. Kinh tế tri thức có thể là chiếc chìa
khóa vàng cho các nước nghèo, chậm phát mở lối đi tắt, đón đầu, vươn lên bằng trí tuệ
của mình. Việc gia nhập vào mạng toàn cầu hàm chứa khả năng phải chịu “rủi ro”.
Trình độ phát triển càng cách xa tiến độ phát triển chung của mạng thì độ “rủi ro”
càng lớn. Song kinh nghiệm cho thấy rằng, trong khi những “rủi ro” khi tham gia vào
mạng là tiềm ẩn thì những “rủi ro” do không tham gia vào mạng là chắc chắn và lớn
hơn bất kì “rủi ro” nào khi tham gia vào mạng.
Tuy nhiên, đối với các nước chậm phát triển, rất nhiều vấn đề còn tồn tại hạn
chế khả năng chuyển sang kinh tế tri thức. Những tồn tại đó là: lực lượng lao động ít
tri thức, thiếu kĩ năng chiếm tuyệt đại đa số làm cho bước quá độ diễn ra chậm; nguồn
lực tài chính khan hiếm; tiềm lực khoa học và công nghệ(tri thức) yếu và thấp kém
Những yếu tố này tự nó chứa đựng năng lực “nhập mạng” yếu, cản trở khả năng tiếp
cận với các cơ hội phát triển.
2. Thực trạng nền kinh tế nước ta và định hướng của Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam vốn đi lên từ một xuất phất điểm thấp: một nền nông
nghiệp lạc hậu, công nghiệp hầu như không có gì, đất nước sau chiến tranh bị tàn phá
nặng nề Trải qua chế độ quan liêu bao cấp, nền kinh tế đó càng thêm lạc hậu, què
quặt. Năm1986, Đảng và Nhà nước ta quyết định tiến hành đổi mới trên tất cả các lĩnh vực. Sau 15 năm đổi mới, chúng ta cũng đạt được một số thành tựu quan trọng.
Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm
nước nông nghiệp những năm 60, ngày nay đàng hoàng sánh vai cùng các nước tiên
tiến. Chúng ta có thể và nhất định sẽ thực hiện được điều đó, như tổng bí thư Lê Khả
Phiêu đã nói: “Nhân dân Việt Nam đã biết cầm đũa thì biết vót chông, đã biết vót
chông thì mười ngón tay ấy sẽ biết học tập, sử dụng máy vi tính, đi vào công nghệ
thông tin, cánh cửa của tri thức.” Tất nhiên đó không phải là một con đường bằng
phẳng mà sẽ vô cùng chông gai, vất vả đối với Việt Nam.
3. Những giải pháp đưa ra cho Việt Nam tiến vào nền kinh tế tri thức
a. Khái quát chung
Kinh tế tri thức là một tất yếu khách quan, đang diễn ra ráo riết, dù những
nước nghèo nhất cũng đang phải đương đầu với thách thức của nền kinh tế đang được
tri thức hóa, toàn cầu hóa. Vấn đề là chúng ta bước vào nền kinh tế tri thức như thế
nào?
Sau nhiều cuộc hội thảo, tranh luận khoa học, một hướng đi cơ bản đã được
vạch ra cho nền kinh tế Việt Nam. Con đường phát triển kinh tế tri thức trong tiến
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước ta cần thiết phải phát
triển theo mô hình “hai tốc độ song hành” (qui trình kép). Cùng với việc chăm lo phát
triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp cơ bản và then
chốt nhằm ổn định, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, chúng ta phải đồng thời
đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành kinh tế dựa vào tri thức, công nghệ cao để tăng
tốc quá trình hiện đại hóa, không ngừng nâng cao vị thế độc lập tự chủ và năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế nhằm giữ vững thế chủ động, hội nhập kinh tế thế giới. Để
thực hiện nhiệm vụ đó, chúng ta cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
-Tiến hành song song việc phát triển cơ chế thị trường và mở cửa hội
nhập.Thực tế cho thấy cơ chế thị trường là cơ chế phân phối nguồn lực tối ưu và
trong cơ chế này, cạnh tranh đóng vai trò động lực phát triển. Đối với nước ta hiện
nay cần đẩy nhanh quá trình cải cách thị trường, đẩy mạnh khu vực doanh nghiệp nhà
nước, khuyến khích khu vực tư nhân phát triển thông qua các chính sách thị
trường.Đối với vấn đề mở cửa hội nhập, cần quán triệt đây là cơ hội để phát triển.
cấp bách. Chỉ có trên cơ sở một cơ chế vận hành hiệu quả và hệ chính sách phù hợp,
nghĩa là một hành lang pháp lí tương ứng với nền kinh tế tri thức định hướng XHCN,
chúng ta mới có điều kiện đảm bảo thật sự giải phóng mọi lực lượng sản xuất trong xã
hội, phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi người, mỗi thành phần kinh tế nhằm phát
triển sản xuất, tiến tới chăm lo, phát triển toàn diện đời sống của các tầng lớp nhân dân
lao động, xây dựng một xã hội học tập lành mạnh. Điển hình như việc ban hành luật
khoa học và công nghệ. Luật có qui định điều chỉnh phù hợp, nhằm tạo lập môi trường
pháp lí thuận lợi, bình đẳng và các thiết chế dân chủ khác để phát huy tối đa sức sáng
tạo của các nhà khoa học và công nghệ, các tập thể khoa học- công nghệ và của toàn
dân. Đây sẽ là luồng sinh khí mới làm cho các hoạt động về khoa học- công nghệ phát
triển nhanh, rộng, phục vụ kịp thời các mục tiêu kinh tế xã hội.
b. ý kiến đề xuất của bản thân
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhiều đổi thay mạnh
mẽ, đặc biệt là xu thế hình thành và phổ biến rộng khắp của nền kinh tế tri thức. Đứng
trước bối cảnh đó, mỗi người dân Việt Nam cần phải tích cực tìm hiểu về nền kinh tế
tri thức, về vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế đó như thế nào, từ đó tìm ra giải
pháp góp phần đưa đất nước đi lên. Bản thân em cũng rất quan tâm đến vấn đề “Kinh
tế tri thức”. Trong phạm vi đề án này em xin đưa ra một số ý kiến:
- Trước hết, cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân
những kiến thức về kinh tế tri thức như: khái niệm, bản chất, đặc trưng, Phần lớn
người dân Việt Nam vẫn còn rất xa lạ với thuật ngữ mới này. Tiếp đó nâng cao ý thức
tự giác trong toàn xã hội vào nền kinh tế tri thức. Đối với học sinh, sinh viên không
ngừng tiếp thu những hiểu biết về khoa học- công nghệ, nâng cao trình độ ngoại ngữ,
tăng khả năng hội nhập trong hoàn cảnh mới. Đối với các nhà sản xuất kinh doanh
không ngừng cải tiến công cụ, qui trình sản xuất bằng cách áp dụng khoa học công
nghệ tiến bộ Với sự ý thức như vậy của từng cá nhân, dần dần sẽ đưa đất nước tiến
vào kinh tế tri thức.
- Giáo dục đào tạo phải gắn liền với thực tiễn. Thực tế hiện nay ở nước ta
công tác giáo dục đào tạo còn nhiều bất cập, cần phải khắc phục. Việc đào tạo quá
hội đó để đưa đất nước không những đuổi kịp mà còn vượt lên hàng đầu trong cuộc
chạy ma-ra-tông với các cường quốc kinh tế trên thế giới hay không? Đó là một câu
hỏi lớn mà cả dân tộc phải đưa ra lời giải đáp. Nó bắt đầu từ sự cố gắng nỗ lực của
mỗi cá nhân. Điều đó đòi hỏi mỗi người phải dày công nghiên cứu, tìm tòi nắm vững
kiến thức khoa học hiện đại, rèn luyện kỹ năng thực hành và vận dụng sáng tạo vào
hoàn cảnh đất nước và con người Việt Nam, trở thành những tài năng trẻ ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường. Vận mệnh dân tộc phụ thuộc vào sự cố gắng nỗ lực đó
của mỗi cá nhân.
Việt Nam đang dần có những biến chuyển tích cực trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, đặc biệt là trong kinh tế. Trong khi kinh tế thế giới có nhiều bất ổn,
nhiều nền kinh tế lớn có biểu hiện suy thoái thì nước ta lại giữ vững được mức tăng
trưởng khá cao 7%. Cả nước đang hăng hái thi đua, quyết tâm hoàn thành tốt các mục
tiêu mà Đảng và nhà nước đề ra, nhằm mục tiêu hoàn thành Công nghiệp hóa- Hiện
đại hóa đưa đất nước tiến vào kinh tế tri thức, thu hẹp dần khoảng cách với các nước
phát triển trong quá trình toàn cầu hóa.
tài liệu tham khảo 1. Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm Văn Đồng
2. Tạp chí cộng sản. Số 16/2000; 22/2000; 18/2001; 15/2001
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX.