KTNN và vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN việt nam - Pdf 10

Phần mở đầu
Sau năm 1991 cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nớc xã
hội chủ nghĩa(XHCN) ở Đông Âu, nền kinh tế chính trị thế giới đã
chuyển từ trạng thái hai cực đối đầu sang nền kinh tế chính trị đa cực, đa ph-
ơng hoá, đa dạng hoá theo xu hớng hoà bình, đối thoại, hợp tác phát triển
cùng có lợi.
Trong bối cảnh đó, từ việc nhận thức đúng đắn trong thực tiễn và lý
luận với mục tiêu đa nớc ta phát triển hội nhập với khu vực và thế giới. Ngay
từ đại hội Đảng VI, Đảng ta đã xác định Chuyển đổi mô hình kinh tế chỉ
huy mang nặng tính bảo thủ trì trệ sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần và vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng XHCN . Hiện nay nền kinh tế nớc ta bao gồm 6 thành phần kinh tế
trong đó thành phần kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, cùng với các thành
phần kinh tế tập thể tạo nên một nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc
dân.
Sau 17 năm đổi mới, nớc ta đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, nền
kinh tế hàng hoá phát triển rất sôi động mở ra cho nớc ta nhiều vận hội mới,
đồng thời cũng phát sinh không ít khó khăn và thách thức. Trên cơ sở những
thành tựu đã đạt đợc và những khó khăn trớc mắt. Báo cáo chính trị đại hội
Đảng IV một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà Nớc ta thực
hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và nói rõ
thêm Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò
chủ đạo.
Là những nhà kinh tế, là những cán bộ quản lý kinh tế trong tơng lai
thì việc sinh viên kinh tế tìm hiểu về kinh tế Nhà nớc (KTNN) và vai trò chủ
đạo của nó trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam là hết
sức quan trọng và cần thiết bởi qua đó sẽ nâng cao đợc trình độ và nhận thức
về KTNN đồng thời tạo hành trang vững chắc cho những t duy và hoạt động
kinh tế của mình sau này.

vực KTNN bao gồm các hoạt động của Nhà nớc trong việc.
- Quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên
- Đầu t, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật (đờng xá ,
bến bãi, cảng, các khu công nghiệp tập trung vv)
- Các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, thơng mại, dịch vụ, trong lĩnh vực tài chính, tính dụng, ngân hàng
1.2 Cơ sở hình thành kinh tế nhà nớc
KTNN mà trớc tiên là các DNNN đợc hình thành trên cơ sở:
- Nhà nớc đầu t xây dựng
- Quốc hữu hoá các doanh nghiệp t bản t nhân
- Góp cổ phần khống chế với các doanh nghiệp t nhân
Ngoài ra với bản chất XHCN của mình Nhà nớc ta đã xác định: Đất
đai, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, ngân hàng Do Nhà nớc nắm giữvà
quản lý với mục đích chi phối và điều tiết dịnh hớng sự phát triển kinh tế xã
hội
1.3 Đặc điểm của TPKTNN
Đặc điểm cơ bản, nổi bật nhất của thành phần KTNN là nó thuộc sở
hữu của Nhà nớc. Tuy nhiên ở đây ta phải phân biệt ro ràng giữ phạm trù sở
hữu Nhà nớc với phạm trù quyền sử dụng của thành phần KTNN.
Sở hữu Nhà nớc là một phạm trù rộng lớn hơn nếu ta đem so sánh với phạm
trù KTNN với lý do: Đã nói đến thành phần KTNN thì trớc hết nó phải thuộc
quyền sở hữu của Nhà nớc. Nhng sở hữu của Nhà nớc có thể do các thành
phần kinh tế khác sử dụng, ví dụ nh đất đai là tài sản mà Nhà nớc đại điện
cho toàn dân về sở hữu, nhng kinh tế hộ gia đình (cá thể tiểu chủ), các hợp
3
tác xã nông nghiệp, hay doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác vẫn đợc
Nhà nớc giao quyền sử dụng đất lâu dài, chính việc này đã giải thích đợc
việc mua bán đất đai trên thị trờng hiện nay. Về thực chất thì đây chỉ là việc
mua bán quyền sử dụng đất bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên con ngời
không thể tiến hành sản xuất ra nó đợc. Và ngợc lại những tài sản thuộc

Giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản sau đây:
Thứ nhất, quan điểm lý luận của các nớc XHCN thừa nhận rộng rãi
tính chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế là đặc trng cơ bản để phân biệt thể
chế kinh tế thị trờng XHCN và kinh tế thị trờng TBCN. Trên cơ sở đó KTNN
hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng, then chốt của xã
hội. Không những thế KTNN còn nắm vai trò chủ đạo trong những ngành
hoạt động khác, vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là phục vụ cho lợi ích toàn
xã hội nh: quốc phòng, giáo dục, y tế vvở các nớc TBCN ở thời kỳ độc
quyền Nhà nớc thì Nhà nớc luôn phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền, các
hoạt động của Nhà nớc tác động vào các quá trình kinh tế nhằm đêm lại lợi
nhuận độc quyền, các tổ chức này luôn hoạt động trong lĩnh vực độc quyền
của mình và thu đợc lợi nhuận độc quyền cao.
Thứ hai, nếu xét về bản chất sự ra đời của t bản độc quyền Nhà nớc
không làm thay đổi quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, mà chỉ là sự kết hợp về
con ngời giữa tổ chức độc quyền và Nhà nớc, các tổ chức độc quyền chỉ đem
lại lợi ích chủ yếu cho một số ngời trong xã hội. Còn KTNN ở nớc ta là
thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất trong đó Nhà
nớc là ngời đứng ra đại diện sở hữu cho toàn dân. Do đó các thành phần
KTNN đợc tổ chức sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kế toán
kinh tế, phân phối theo lao động và theo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng
thời thành phần KTNN còn có vai trò hỗ trợ các thành phần kinh tế khác
cùng phát triển, tạo ra cơ sở và tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế xã
hội theo định hớng XHCN.
II. Sự hình thành và phát triển KTNN ở Việt Nam
Sau cách mạng tháng tám nớc ta quá độ từ chế độ nửa phong kiến thực
dân lên XHCN bỏ qua giai đoan TBCN. Với chủ nghĩa Mác Lenin và t tởng
Hồ Chí Minh là kim chỉ nam.
Cùng với công cuộc xây dựng đất nớc. KTNN đã đợc ra đời với mục
đích:
5

+ 93,6% tổng mức bán buôn.
+ 51% tổng mức bán lẻ.
Kinh tế quốc doanh đã thu hút và sử dụng lực lợng lao động gồm
477000 ngời. Nh vậy, kinh tế quốc doanh từ chỗ rất nhỏ bé vơn lên trở thành
6
lực lợng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Với chủ trơng xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi lên CNXH, vai trò chủ đạo, chủ lực đã đợc
giao cho kinh tế quốc doanh.
2. Giai đoạn từ 1960-1975
Với chủ trơng công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc u tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý nhà nớc tiếp tục đầu t xây dựng kinh tế
quốc doanh ngày càng lớn mạnh về số lợng. Bên cạnh các khu công nghiệp
cũ đã đợc cải tạo ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, 1 loạt các khu công
nghiệp mới ra đời nh Thợng Đình, mỏ Minh Khai, Đông Anh Hà Nội, Việt
Trì, Thái Nguyên, VinhTrong giai đoạn này KTQD phát triển mạnh mẽ
trong các ngành điện lực, cơ khí, hoá chất khai thác. Đến năm 1975 lĩnh vực
sản xuất công nghiệp đã có 1357 xí nghiệp quốc doanh, lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp có 72 nông trờng quốc doanh, tổng số cán bộ công nhân viên là
1753400 ngời. Lực lợng kinh tế quốc doanh đã cùng với kinh tế tập thể đã ra
84,4% thu nhập quốc dân.
Xét trên phơng diện kinh tế, vai trò của kinh tế quốc doanh trong giai
đoạn này đợc thể hiện không chỉ nh là một công cụ quan trọng để nhà nớc
thực hiện chủ trơng công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc theo hớng u tiên
phát triển công nghiệp nặng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và chiến đấu
cho cả hậu phơng và tiền tuyến mà còn nh là một tấm gơng phản ánh sự
thành công của quá trình xây dựng CNXH ở nớc ta. Còn xét trên phơng diện
chính trị, xã hội, kinh tế quốc doanh luôn đợc quan niệmk là lực lợng tiến bộ
xã hội, là đội quân tiên phong trong việc tăng cờng và mở rộng quan hệ sản
xuất mới và quan hệ sản xuất XHCN.
3.Giai đoạn từ 1975 đến đầu những năm 80.

và 28% thu nhập quốc dân.
5. Giai đoạn từ 1985-1990.
Giai đoạn bắt đầu thực hiện đổi mới kinh tế, t tởng xây dựng một nền
kinh tế nhiều thành phần đợc đa ra. Trong quá trình hình thành kinh tế nhiều
thành phần công tác quản lý kinh tế quốc doanh vẫn tiệp tục đợc cải tiến theo
hớng phi tập trung hoá, kế hoạch hoá và quản lý đối với kinh tế quốc doanh.
Điểm nổi bật trong cải tiến quản lý ở giai đoạn này là việc tách bạch giữa
quyền quản lý nhà nớc về kinh tế và quyền quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quan điểm mới nổi bật ở giai đoạn này là quan
niệm không phải nền kinh tế quá độ nên CNXH ở nớc ta chỉ có kinh tế quốc
doanh, chủ trơng của đảng và nhà nớc ta không chỉ bó hẹp trong phạm vi cải
tiến quản lý đối với kinh tế quốc doanh mà còn phát huy sức sản xuất của
kinh tế t nhân, cá thể cũng nh các thành phần kinh tế khác. Trong cơ chế
8
kinh tế mới đó kinh tế quốc doanh vẫn đóng vai trò chủ đạo nhng không phải
độc tôn. Năm 1990, kinh tế quốc doanh tạo ra 66% tổng sản phẩm xã hội.
6.Giai đoạn từ năm 1990 đến nay.
Chúng ta khẳng định chủ trơng lâu dài là xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Chủ
trơng này đợc biến thành thực tế bởi quá trình ban hành và hoàn thiện hệ
thống luật pháp, đặc biệt là pháp luật về kinh tế, nhằm tạo ra hành lang pháp
lý thuận lợi bình đẳng cho các doanh nghiệp. Đặc trng cơ bản của giai đoạn
này là doanh nghiệp nhà nớc chỉ là một bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc
dân thống nhất.
Đến năm 1996, Trong công nghiệp còn 6032 DNNN số doanh nghiệp
này tạo ra 41% GDP (doanh nghiệp ngoài quốc doanh tạo ra 59%). Trong cơ
chế kinh tế mới DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và chủ lực: Trên giác độ kinh
tế, DNNN nắm giữ toàn bộ những ngành trọng yếu nh điện, than sạch, thép
cán, xi măng, dầu thô, giấy
Nh vậy, lịch sử phát triển của KTNN từ sau cách mạng tháng tám đến

trờng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo. Bên cạnh những u điểm to
lớn của nó mà không ai có thể phủ nhận thì nó cũng tồn tại những khuyết tật
nh: gây ra sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, khủng hoảng kinh tế, các tệ
nạn xã hội vv điều đó đòi hỏi cơ chế thị trờng phải có bàn tay quản lý, điều
tiết của Nhà nớc. Và công cụ hữu hiệu nhất mà thông qua nó nhà nớc thể
hiện vai trò điều tiết của mình đó là thành phân KTNN. Chỉ có KTNN mới
có thể bảo đảm vững chắc định hớng XHCN, đảm bảo cho lợi ích của ngời
lao động, khắc phục những tiêu cực, khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị tr-
ờng, phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng là động lực thúc
đẩy phát triển và tăng trởng kinh tế, gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân,
với tiến bộ và công băng xã hội. Vai trò đó của KTNN đã đợc chứng minh
10
qua thc tiễn phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở nớc ta sau đổi mới đến
nay:
Đầu những năm 1990 mặc dù gặp phải hoàn cảnh hết sức khó khăn,
khắc nghiệt nh: thể chế xã hội ở Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ. Mĩ
thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, khủng hoảng kinh tế, tài chính khu
vực 1997 1998 tác động mạnh, thiên tai liên tiếp xảy ra việc chuyển đổi
nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trờng định hớng XHCN có
những thời cơ và thuận lợi mới nhng bao hàm cả những khó khăn thách thức.
Song chúng ta vẫn đạt đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng GDP
năm 2000 tăng gấp 2 lần năm 1990, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn
định, đời sống của các tầng lớp nhân dân đợc cải thiện, quốc phòng an ninh
đợc tăng cờng, sức mạnh về mọi mặt của nớc ta đã lớn hơn nhiều so với 10
năm trớc. Kết quả trên có đợc là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong đó
KTNN góp phần rất to lớn. Năm 2000 DNNN làm ra 39,5% GDP và đóng
góp 39,2% tổng thu ngân sách, chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu DNNN là
đối tác chủ yếu trong hợp tác đầu t nớc ngoài, chiếm 98% số dự án liên
doanh với nớc ngoài. DNNN có năng lực sản xuất kinh doanh lớn, cơ cấu
ngày càng hoàn thiện và từng bớc mở rộng thị trờng trong và ngoài nớc. Các

Thứ ba, trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ có
DNNN là những đơn vị tổ chức kinh tế lớn của quốc gia là có đủ khả năng
hợp tác liên doanh với các công ty lớn quốc tế đồng thời làm đối trọng với họ
trên thị trờng trong nớc và vơn ra thị trờng quốc tế, góp phần quan trọng xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của đất nớc.
Không chỉ riêng Việt Nam mà Trung Quốc cũng là nớc chủ trơng xây
dựng CNXH thông qua phát triển nền kinh tế thị trờng mà KTNN giữ vai trò
chủ đạo, với tỉ trọng trên70% của chế độ công hữu trong toàn bộ nền kinh tế
song Trung Quốc vẫn giữ mức tăng trởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới,
đạt khoảng trên dới 10% liên tục trong nhiều năm và đang có dự báo cho
rằng trong tơng lai không xa Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế số một thế
giới, lớn hơn cả Mỹ về giá trị tuyệt đối. Ngay chính ở các nớc t bản, DNNN
cũng còn có vai trò không nhỏ. Theo đánh giá của UNDP, DNNN trong các
nớc t bản phát triển vẫn còn chiếm khoảng 10%.
Từ những lý do trên ta có thể khẳng định KTNN có vai trò chủ đạo và
sự tồn tại của KTNN là một tất yếu khách quan và chỉ có phát huy vai trò
chủ đạo của KTNN thì chúng ta mới có một nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi
vì KTNN nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế cho nên tạo ra khối lợng
hàng hoá dịch vụ công cộng lớn chi phối giá cả thị trờng, dẫn đát giá cả thị
trờng bằng chính chất lợng, giá cả của sản phẩn dịch vụ do mình cung cấp.
Thông qua đó Nhà nớc có thể kiểm soát đợc thị trờng, xây dựng nền kinh tế
12
nớc ta trở thành một nền kinh tế vững mạnh toàn diện luôn chủ động hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và có sức cạnh tranh cao trên thị trờng quốc tế.
1.Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc
Nh chúng ta đã biết vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN là một tất yếu khách quan và trong thời kỳ quá độ
hiên nay vai trò ấy lại đợc thể hiên sâu sắc và cấp thiết hơn bao giờ hết. Đại
hội Đảng VIII đã khẳng định KTNN có 4 vai trò:
- Làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trởng kinh tế và giải quyết các vấn đề

Chính DNNN cũng phải xuất hiện ở các ngành mà những vùng kinh tế của
đất nớc đang đòi hỏi nhằm điều tiết cung cầu ở các vùng đó. Chức năng điều
tiết vùng của DNNN đặc biệt quan trọng đối với các vùng xa, vùng sâu và
vùng nông thôn.
Nội dung thứ hai. Do KTNN nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế
nên tạo ra giá trị hàng hoá và dịch vụ công cộng khả dĩ chi phối đợc giá cả
thị trờng, dẫn dắt giá cả thị trờng bằng chính chất lợng và giá cả của sản
phẩm và dịch vụ do mình cung cấp đồng thời tạo ra các sản phẩm và dịch vụ
có tác dụng thúcđẩy các ngành và các thành phần kinh tế khác phát triển.
Nội dung thứ ba. KTNN kiểm soát các hoạt động của thị trờng vốn và
thị trờng tiền tệ để đảm bảo khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nớc. Các
công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng là các công cụ chính yếu của nhà nớc
trong quản lý kinh tế vĩ mô.
Nh vậy, thành phần KTNN thể hiện vai trò chủ đạo ở chỗ: chi phối các
thành phần kinh tế khác, làm biến đổi các thành phần kinh tế khác theo đặc
tính của mình (dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hớng
XHCN) tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế hàng hoá, chiếm giữ các ngành
kinh tế then chốt và trọng yếu của xã hội, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trởng
kinh tế gắn liền với công bằng xã hội. Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của toàn xã hội. Do đó xác định nội dung chủ đạo của khu
vực KTNN theo các tính chất nêu trên sẽ giúp chúng ta trong việc định hớng
đúng việc sắp xếp lại các tổ chức kinh tế hiện có, định hớng cho hoạt động
đầu t của Ngân Hàng Nhà Nớc và thiết lập các định chế yểm trợ phát triển
chung
IV. Thực trạng của kinh tế nhà nớc hiện nay
1. Quy mô và tổ chức của các doanh nghiệp nhà nớc
Chỉ tính trong 10 năm từ 1990 2000. Chúng ta đã 3 lần thực hiện
việc cải cách đổi mới DNNN. Lần thứ nhất thực hiện vào những năm từ 1990
1993 với mục đích tổ chức lại sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
quốc doanh. Lần thứ hai từ năm 1994 1997, chúng ta đã thành lập 18

tạo cho KTNN nói riêng và tổng thể nền kinh tế nớc ta có nhiều thuận lợi
trong vấn đề chuyển giao công nghệ. Song nhìn chung hiện nay trình độ
khoa học công nghệ nớc ta còn lạc hậu, thấp kém. So với các nớc láng giềng
chúng ta còn kém xa, chúng ta chậm 10 năm so với Trung Quốc, chậm từ 20-
30 năm so với Đài Loan ở thời điểm bắt đầu công nghiệp hoá.
15
Đồng thời với quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ KTNN ở
nớc ta còn đang xây dựng cho mình chiến lợc phát triển mang tính tổng thể,
lâu dài bao gồm cả nghiên cứu, ứng dụng và thử nghiệm.v.v. Điều này đã và
đang đem lại những hiệu quả to lớn và thiết thực. Hiện nay đã có nhiều
ngành thuộc thành phần KTNN tạo ra những loại sản phẩm không chỉ có sức
cạnh tranh mạnh ở thị trờng nội địa mà còn có sức cạnh tranh mạnh trên thị
trờng quốc tế nh : dệt may, chế biến thuỷ hải sảnNgoài ra KTNN cũng
đang hớng sự phát triển vào những nghành, lĩnh vực có trình độ khoa học kỹ
thuật công nghệ hiện đại nh: tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hoá.
Điều này đòi hỏi nhà nớc phải có những sách lợc đúng đắn khuyến khích và
bắt buộc các doanh nghiệp đầu t vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Đó là
yếu tố vật chất quan trọng tạo đà cho các doanh nghiệp nhà nớc giữ vững vị
trí then chốt đi đầu về ứng dụng khoa học và công nghệ, nêu gơng về năng
suất lao động, chất lợng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.
Mặc dù vậy việc phát triển khoa học công nghệ ở nớc ta hiện nay còn
tồn tại rất nhiều hạn chế, do đó khi thực hiện hợp tác, chuyển giao công nghệ
với nớc ngoài cần tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới
nhất, tiên tiến nhất tránh không để cho Việt Nam trở thành bãi thải công
nghê của các nớc phát triển. Để thực hiện đợc điều đó thì các DNNN phải
đầu t cho việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tránh việc chảy máu chất
xám bởi trong thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh của khu vực kinh tế
t nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài đã xuất hiện xu thế bỏ
doanh nghiệp nhà nớc để ra làm ngoài với đồng lơng cao hơn trong khi đó
các doanh nghiệp nhà nớc rất cần những ngời có khả năng trình độ để nghiên

chính không rõ ràng và cực kỳ bê bối của DNNN hiện nay thể hiện qua nợ
khó đòi trở thành phổ biến, doanh nghiệp không thể phá sản vì chủ nợ không
đệ đơn Là hậu quả của chính tình trạng thể chế hoá sở hữu nhà nớc cha tìm
đợc hình thức hợp lý.
4. Hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc.
Vấn đề hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc và đặc biệt quan trọng
vì đã là doanh nghiệp kinh doanh đơng nhiên phải có hiệu quả thì mới tồn tại
phát triển. Thực tế các DNNN của chúng ta bên cạnh những thành tựu to lớn
đã và đang bộc lộ những yếu kém khá nghiêm trọng:
Quy mô các DNNN còn nhỏ (vốn bình quân chỉ là 12 tỉ đồng) Cơ cấu
có nhiều bất hợp lý, công nghệ lạc hậu, quản lý yếu kém, cha thực sự tự chủ,
tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh. Kết quả khảo sát 10 ngành cho thấy
ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại hoặc trung bình
của thế giới và khu vực, số còn lại lạc hậu so với thế giới từ 10 đền 20 năm,
thậm chí 30 năm. Đến tháng 5-2001 mới chỉ có 4,1% tổng số doanh nghiệp
17
nhà nớc đạt tiêu chuẩn chất lợng quốc tế. Kết quả sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp nhà nớc cũng cha tơng xứng với các nguồn lực đã có và sự
hỗ trợ đầu t của nhà nớc: trong 4 năm (1997 - 2000) ngân sách nhà nớc đã
đầu t thêm cho DNNN gần 8200 tỉ đồng, giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm tính khấu
hao 200 tỉ đồng và cho vay u đãi đầu t 9000 tỉ đồng. Đến năm 2000 số doanh
nghiệp nhà nớc làm ăn có hiệu quả mới chỉ là 40% bị lỗ liên tục chiếm tới
29%. Tình hình đúng nh vậy nhng từ đó để đi đến khẳng định chỉ có các
doanh nghiệp t nhân mới có lãi và DNNN chỉ có thua lỗ, kém hiệu quả là
hoàn toàn không đúng. Nhận định này thiếu cả cơ sở lý luận và thực tiễn, coi
một số hiện tợng trùng với bản chất, bởi nếu đi sâu nghiên cứu chúng ta cũng
dễ thấy không chỉ DNNN mới thua lỗ mà cũng có nhiều doanh nghiệp t nhân
cũng thua lỗ. Khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực với những hậu quả nặng
nề về kinh tế, chính trị, xã hội có thể coi là khủng hoảng của kinh tế t nhân.
Thực tế ở thành phố Hải Phòng ( cũng nh ở nhiều địa phơng khác )

xuất không đòi hỏi vốn đầu t lớn thì t nhân đang lấn dần thị phần của DNNN.
Một khu vực khác cũng là một đối thủ cạnh tranh đáng kể với DNNN là các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu t của nớc ngoài, các
doanh nghiệp này có u thế hơn các DNNN về vốn, công nghệ hiện đang đợc
nhà nớc ta khuyến khích và u đãi, đang len lỏi vào một số các lĩnh vực kinh
tế lớn của nớc ta nh: dầu khí, chế biến thuỷ hải sản, xây dựng công nghiệp,
sản xuất hoá chất, xi măngđáng chú ý hơn cả là năm 2000 tốc độ tăng tr-
ởng của DNNN chỉ có 11% thì doanh nghiệp t bản t nhân tăng 14% và doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tăng trên 20%, do đó trong thời gian tới nếu n-
ớc ta không có biện pháp để củng cố sức mạnh của DNNN thì DNNN sẽ bị
lấn át ngay trên thị trờng sân nhà.
Khi chúng ta hoàn thành tiến trình ra nhập AFTA và thực hiện hiệp
định thơng mại Việt-Mỹ thì sức cạnh tranh sẽ cụ thể hoá bằng cạnh tranh
hàng hoá, hay yếu tố quan trọng nhất là chất lợng hàng hoá và giá cả hảng
hoá. Hiện tại ngoài một số mặt hàng nh hoá mỹ phẩm, đồ nhựa, than, một số
hoá chất cơ bảnGiá của ta rẻ hơn của nớc ngoài, còn lại một số mặt hàng
nh giấy, phân bón, xi măng, hàng điện tử, hàng cơ khíThì hàng của ta đều
cao hơn hàng nớc ngoài từ 20-40%
Hai cuộc cạnh tranh trên đây chính là vấn đề cấp bách và nghiêm
trọng đối với các DNNN. Trong thời gian tới nớc ta cần phải đẩy mạn việc
cải tổ, xây dựng, sắp xếpđể KTNN giữ đợc vai trò chủ đạo, dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
V. Những giải pháp cải cách, đổi mới và phát triển
kinh tế nhà nớc.
19
Việc cải cách đổi mới thành phần KTNN nói chung và các DNNN nói
riêng trong giai đoạn hiện nay là cực kỳ cần thiết và cấp bách trong chiến lợc
phát triển kinh tế xã hội đất nớc. Để tổ quốc vững bớc trên con đờng CNH -
HĐH, tại hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX đã
thông qua nghị quyết về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao

các DNNN hiện có để chiển khai thực hiện và từng thời kỳ xem xét điều
chỉnh định hớng phân loại doanh nghiệp cho phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội.
Doanh nghiệp thuộc các tổ chức của Đảng thực hiện sắp xếp nh đối
với DNNN. Doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị xã hội đăng ký hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp.
Việc thành lập mới DNNN hoạt động kinh doanh chủ yếu hoạt động
dới hình thức công ty cổ phần. Chỉ thành lập mới doanh nghiệp 100% vốn
nhà nớc đối với những ngành và lĩnh vực mà nhà nớc cần giữ độc quyền hoặc
các thành phần kinh tế khác không muốn hay không có khả năng tham gia.
1.2 Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích.
Nhà nớc giữ 100% vốn đối với các doanh nghiệp công ích hoạt động
trong các lĩnh vực: in bạc và chứng chỉ có giá, điều hành bay, đảm bảo hàng
hải, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện, sản xuất sửa chữa vũ khí,
khí tài, trang thiết bị chuyên dùng cho quốc phồng, an ninh, doanh nghiệp đ-
ợc giao thực hiện nhiệm vụ quốc phồng đặc biệt và các doanh nghiệp tại các
địa bàn chiến lợc quan trọng kết hợp kinh tế quốc phồng theo quyết định của
chính phủ. Các doanh nghiệp của quân đội và công an đợc sắp xếp và phát
triển theo định hớng này.
Nhà nớc giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối đối với những doanh
nghiệp công ích đang hoạt động trong các lĩnh vực: kiểm định kỹ thuật ph-
ơng tiện giao thông cơ giới lớn, xuất bản sách giáo khoa, sách báo cáo chính
trị, phim thời sự và tài liệu, quản lý bảo chì hệ thống quốc gia, sân bay, quản
lý thuỷ nông đầu nguồn, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn thoát nớc ở đô thị
lớn, ánh sáng đờng phố, quản lý bảo chì hệ thống đờng bộ, bến xe đờng thuỷ
quan trọng; sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ khác theo quy định của
chính phủ.
Trong từng thời kỳ chính phủ xem xét điều chỉnh định hớng phân loại
doanh nghiệp cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đối với các
doanh nghiệp hoạt động công ích hiện có, chính phủ căn cứ vào định hớng

dụng vốn nhà nớc vào đầu t và kinh doanh.
DN đợc tự chủ trong việc phân phối và trích lập các quỹ từ lợi nhuận
để lại theo khung quy định chung. Nhà nớc có chính sách đối với những tài
sản do DN đầu t bằng vốn vay và đã trả hết nợ bằng nguồn khấu hao cơ bản
và lợi nhuận do chính tài sản dó làm ra theo hớng thực hiện hài hoà các lợi
22
ích, phù hợp với đặc điểm của từng ngành nghề, từng lĩnh vực cụ thể khuyến
khích DN tiếp tục tái đầu t phát triển
-Về đầu t: tăng thêm quyền và trách nhiệm của DNNN trong quyết
định đầu t trên cơ sở chiến lợc, quy hoạch phát triển đợc phê duyệt.
-Về đổi mới: hiện đại hoá công nghệ: DN đợc áp dụng chế độ u đãi
đối với ngời có đóng góp vào đổi mới công nghệ mang lại hiệu quả thiết thực
cho DN; chi phí này đợc hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nhà nớc có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ DN đầu t đổi mới công nghệ.
-Về lao động, tiền lơng: DN quyết định việc tuyển chon lao động và
chịu trách nhiệm giải quyết chế độ đối với ngời lao động do mình tuyển
dụng không có việc làm bằng các nguồn kinh phí của DN; đợc tự chủ trong
việc trả tiền lơng và tiền thởng trên cơ sở năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất kinh doanh của DN.
-Về cán bộ quản lý DN: DN chủ động lựa chọn và bố chí cán bộ quản
lý theo hớng chủ yếu là thi tuyển; cơ quan nhà nớc và tổ chức có thẩm quyền
ra quyết đinh bổ nhiệm cán bộ chủ chốt của DN. Nhà nớc có cơ chế khuyến
khích vật chât, tinh thần, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý
DN.
-Về thanh tra kiểm tra: hàng năm DN phải đợc kiểm toán, kết quả
kiểm toán là căn cứ pháp lý về tình hình tài chính của DN. Các cơ quan quản
lý nhà nớc phải có chơng trình thanh tra, kiểm tra định kỳ đối với DN và
thông báo trớc cho DN. Cơ quan bảo vệ pháp luật chỉ kiểm tra, thanh tra khi
DN đã có đấu hiệu vi phạm pháp luật. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra phải
chịu trách nhiệm trớc pháp luật về kết quả thanh tra, kiểm tra.

mua bán nợ và tài sản của DNNN để xử lý nợ và tài sản không cần dùng, tao
điều kiện lành mạnh hoá tài chính DN.
3. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà n-
ớc; hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Nâng cao hiệu quả các tổng công ty nhà nớc
Tổng công ty nhà nớc phải có vốn đều lệ đủ lớn, có thể huy đông vốn
từ nhiều nguồn, trong đó vôn nhà nớc là chủ yếu ;thực hiện kinh doanh đa
ngành ,có ngành chính chuyên sâu; có liên kết giữa các đơn vị thành viên vê
sản xuất về tài chính, thị trờng có trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến
,năng suất lao động cao, chất lợng sản phẩm tốt, có khả năng canh tranh trên
thị trơng trong nớc và quốc tế. Hoàn thành việc sắp xếp các tổng công ty nhà
nớc hiên có nhằm tập trung hơn nữa nguồn lực để chi phối đợc các ngành,
các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; làm lực lợng chủ lực trong việc đảm
bảo các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô;cung ứng những sản phẩm trọng
yếu cho nền kinh tế quốc dân và xuât khẩu đóng góp lớn cho ngân sách; làm
24
nòng cốt thúc đẩy tăng trởng kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có
hiêu quả. Những ngành ,lĩnh vực then chốt sản phẩm cần tổ chức tổng công
ty nhà nớc:khai thác ,chế biên dầu khí và kinh doanh buôn bán xăng dầu;sản
xuât và cung ứng điện;khai thác ,chế biến ,cung ứng than, các khoáng sản
quan trọng ,luyện kim ,cơ khí chế tạo,sản xuât xi măng, bu chính viễn
thông,đien tử ,hàng không ,hàng hải, đờng sắt hoá chất và phân hoá học ,sản
xuất một số hàng tiêu dung và công nghiêp thực phẩm quan trọng ,hoá d-
ợc,xây dựng ,kinh doanh buôn bán lơng thực, ngân hàng ,bảo hiểm
Trong từng thời kỳ, theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế cần có s
điều chỉnh phù hợp.Những tổng công ty đang hoạt động không có đủ các yêu
cầu trên sẽ đợc sắp xếp lại.
Thí điểm rút kinh nghiệm để nhân rộng việc thực hiện chuyển tổng
công ty nhà nớc sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con,
trong đó tổng công ty đầu t vốn vào các DN thành viên là những công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status