Tài liệu ĐỀ TÀI “KTNN và vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam” - Pdf 84

Đề án kinh tế chính trị
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO
CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAMGiảng viên hướng dẫn : Pgs Ts Mai Hữu Thực
Sinh viên thực hiện :
Tài chính doanh nghiệp 43D
1
Đề án kinh tế chính trị

MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU
B – PHẦN NỘI DUNG
I – Khái quát chung về thành phần kinh tế nhà nước
1 – Thành phần kinh tế nhà nước
1.1 Khái niệm thành phần KTNN
1.2 Cơ sở hình thành của KTNN
1.3 Đặc điểm của thành phần KTNN
2 – Sự khác nhau giữa KTNN và KTTB độc quyền
II – Sự hình thành và phát triển thành phần KTNN ở Việt Nam
1 Giai đoạn1945 – 1960
2 Giai đoạn1960 – 1975
3 Giai đoạn1975 – đầu những năm 1980
4 Giai đoạn1980 – 1985
5 Giai đoạn1985 – 1990
6 Giai đoạn1990 đến nay
III – Vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị trường định

PHẦN MỞ ĐẦU
Sau năm 1991 cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước
xã hội chủ nghĩa(XHCN) ở Đông Âu, nền kinh tế – chính trị thế giới đã
chuyển từ trạng thái hai cực đối đầu sang nền kinh tế chính trị đa cực, đa
phương hoá, đa dạng hoá theo xu hướng hoà bình, đối thoại, hợp tác phát
triển cùng có lợi.
Trong bối cảnh đó, từ việc nhận thức đúng đắn trong thực tiễn và lý
luận với mục tiêu đưa nước ta phát triển hội nhập với khu vực và thế giới.
Ngay từ đại hội Đảng VI, Đảng ta đã xác định “Chuyển đổi mô hình kinh tế
chỉ huy mang nặng tính bảo thủ trì trệ sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần và vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN ”. Hiện nay nền kinh tế nước ta bao gồm 6 thành phần
kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với
các thành phần kinh tế tập thể tạo nên một nền tảng vững chắc cho nền kinh
tế quốc dân.
Sau 17 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
nền kinh tế hàng hoá phát triển rất sôi động mở ra cho nước ta nhiều vận hội
mới, đồng thời cũng phát sinh không ít khó khăn và thách thức. Trên cơ sở
những thành tựu đã đạt được và những khó khăn trước mắt. Báo cáo chính
trị đại hội Đảng IV một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà
Nước ta “thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần” và nói rõ thêm “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều
là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Tài chính doanh nghiệp 43D
4
Đề án kinh tế chính trị
Là những nhà kinh tế, là những cán bộ quản lý kinh tế trong tương lai
thì việc sinh viên kinh tế tìm hiểu về kinh tế Nhà nước (KTNN) và vai trò

- Các DNNN hoạt động kinh doanh và các DNNN hoạt động công ích
- Các doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối hoặc có cổ phần
đặc biệt của Nhà nước (theo quy định của Luật DNNN)
- Các doanh nghiệp có vốn đóng góp của Nhà nước
- Các tổ chức sự nghiệp kinh tế của Nhà nước
Tài chính doanh nghiệp 43D
6
Đề án kinh tế chính trị
Còn nếu xét về khía cạnh của lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế thì khu
vực KTNN bao gồm các hoạt động của Nhà nước trong việc.
- Quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên
- Đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật (đường
xá , bến bãi, cảng, các khu công nghiệp tập trung vv…)
- Các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, thương mại, dịch vụ, trong lĩnh vực tài chính, tính dụng, ngân hàng

1.2 Cơ sở hình thành kinh tế nhà nước
KTNN mà trước tiên là các DNNN được hình thành trên cơ sở:
- Nhà nước đầu tư xây dựng
- Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư bản tư nhân
- Góp cổ phần khống chế với các doanh nghiệp tư nhân
Ngoài ra với bản chất XHCN của mình Nhà nước ta đã xác định: Đất
đai, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, ngân hàng …Do Nhà nước nắm giữvà
quản lý với mục đích chi phối và điều tiết dịnh hướng sự phát triển kinh tế
xã hội
1.3 Đặc điểm của TPKTNN
Đặc điểm cơ bản, nổi bật nhất của thành phần KTNN là nó thuộc sở
hữu của Nhà nước. Tuy nhiên ở đây ta phải phân biệt ro ràng giữ phạm trù
sở hữu Nhà nước với phạm trù quyền sử dụng của thành phần KTNN.
Sở hữu Nhà nước là một phạm trù rộng lớn hơn nếu ta đem so sánh với

đòi hỏi cần có một chủ thể kinh tế đủ vững mạnh để đứng ra điều tiết nền
kinh tế phát huy những mặt tích cực khắc phục những quyết điểm của cơ chế
thị trường và Nhà nước chính là một chủ thể kinh tế quan trọng có khả năng
nhận thức và vận dụng những quy luật kinh tế khách quan vào nền kinh tế,
đồng thời Nhà nước đưa ra các chính sách vĩ mô nhằm khắc phục nhưng hạn
Tài chính doanh nghiệp 43D
8
Đề án kinh tế chính trị
chế của cơ chế thị trường tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế vv…Vì
thế mà Samuelson đã nhận định “Thiếu sự can thiệp của Nhà nước vào nền
kinh tế chẳng khác nào vỗ tay bằng một bàn tay”. Dựa trên những chế độ
chính trị xã hội khác nhau mà vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và
những công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước cũng khác nhau. Nếu
KTNN ở Việt nam là đặc trưng của nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN thì KTTB độc quyền Nhà nước lại là đặc trương của nền kinh tế thị
trường của các nước TBCN. Giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản
sau đây:
Thứ nhất, quan điểm lý luận của các nước XHCN thừa nhận rộng rãi
tính chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế là đặc trưng cơ bản để phân biệt
thể chế kinh tế thị trường XHCN và kinh tế thị trường TBCN. Trên cơ sở đó
KTNN hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng, then chốt
của xã hội. Không những thế KTNN còn nắm vai trò chủ đạo trong những
ngành hoạt động khác, vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là phục vụ cho lợi
ích toàn xã hội như: quốc phòng, giáo dục, y tế vv…Ở các nước TBCN ở
thời kỳ độc quyền Nhà nước thì Nhà nước luôn phụ thuộc vào các tổ chức
độc quyền, các hoạt động của Nhà nước tác động vào các quá trình kinh tế
nhằm đêm lại lợi nhuận độc quyền, các tổ chức này luôn hoạt động trong
lĩnh vực độc quyền của mình và thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Thứ hai, nếu xét về bản chất sự ra đời của tư bản độc quyền Nhà nước
không làm thay đổi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà chỉ là sự kết hợp

Sau khi hoà bình lặp lại ở miền Băc, Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn
con đường xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng
Tài chính doanh nghiệp 43D
10
Đề án kinh tế chính trị
miền Nam. Theo chủ trương đó công cuộc cải tạo XHCN bắt đầu được thực
hiện ở miền Bắc với nhiệm vụ thủ tiêu kinh tế tư nhân, xây dựng kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể.điều đó đã dẫn đễn việc thu hẹp và xoá bỏ
kinh tế tư nhân và chuyển sang hình thức sở hữu toàn dân, xây dựng các xí
nghiệp quốc doanh, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và sản xuất nhỏ ở
thành thị. Kết quả đến năm 1960 đã có:
-Trong công nghiệp:
+ Số xí nghiệp quốc doanh thuộc KTNN: 1012
+ Các xí nghiệp quốc doanh tạo ra 53,3% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp.
- Trong nông nghiệp:
+ Số nông trường quốc doanh: 56
+ Sử dụng 74800 ha đất nông nghiệp.
+ Kinh tế quốc doanh tạo ra 2% giá trị tổng sản lượng nông
nghiệp.
- Thương nghiệp quốc doanh chiếm:
+ 93,6% tổng mức bán buôn.
+ 51% tổng mức bán lẻ.
Kinh tế quốc doanh đã thu hút và sử dụng lực lượng lao động gồm
477000 người. Như vậy, kinh tế quốc doanh từ chỗ rất nhỏ bé vươn lên trở
thành lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Với chủ trương
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi lên CNXH, vai trò chủ đạo, chủ lực
đã được giao cho kinh tế quốc doanh.
2. Giai đoạn từ 1960-1975
Với chủ trương công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc “ưu tiên phát

+ Thương nghiệp: 10915 điểm bán hàng của thương nghiệp quốc
doanh.
Tài chính doanh nghiệp 43D
12
Đề án kinh tế chính trị
Trong giai đoạn này kinh tế quốc doanh vẫn đóng vai trò quan trọng
trong công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và phát triển quan hệ
sản xuất mới XHCN, cũng như trong công cuộc phát triển kinh tế. Tuy
nhiên, xét trên giác độ kinh tế, sức đóng góp của kinh tế quốc doanh đã giảm
so với trước. Đến năm 1980 công nghiệp quốc doanh chỉ tạo ra được 68,6%
giá trị tổng sản lượng công nghiệp, thương nghiệp quốc doanh chiếm 29,8%
tổng mức bán lẻ.
4. Giai đoạn từ 1980-1985.
Trong những năm 1980-1985 mặc dù nền kinh tế nước ta gặp rất
nhiều khó khăn so với trước, năng lực sản xuất của kinh tế quốc doanh nói
riêng và sức sản xuất xã hội nói chung không được sử dụng hết do thiếu vật
tư một cách nghiêm trọng song xuất phát từ quan niệm truyền thống về quan
hệ sản xuất XHCN nên các giải pháp tháo gỡ trong giai đoạn này vẫn tập
trung chủ yêu vào cải tiến quản lý đối với xí nghiệp quốc doanh. ở giai đoạn
này cơ chế kế hoạch hoá tập trung thuần tuý đã được cải tiến dần trên
nguyên tắc phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế, song kinh tế quốc doanh
vẫn giữ vai trò tuyệt đối đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
các xí nghiệp quốc doanh nắm toàn bộ các nghành then chốt như : điện,
luyện kim, khai thác, xi măng, gang thép, hoá chất cơ bản…Tuy nhiên đóng
góp của các xí nghiệp quốc doanh vào tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân đã giảm, tính đến năm 1985 kinh tế quốc doanh chỉ tạo ra được
37% tổng sản phẩm xã hội và 28% thu nhập quốc dân.
5. Giai đoạn từ 1985-1990.
Giai đoạn bắt đầu thực hiện đổi mới kinh tế, tư tưởng xây dựng một
nền kinh tế nhiều thành phần được đưa ra. Trong quá trình hình thành kinh

các doanh nghiệp nhà nước này nhiều về số lượng, nắm giữ các lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế quốc dân, sử dụng lực lượng lao động kỹ thuật có
Tài chính doanh nghiệp 43D
14
Đề án kinh tế chính trị
trình độ cao, lực lượng DNNN đã đóng vai trò rất quan trọng, mở đường và
hướng dẫn đối với việc phát triển nền kinh tế nước ta trước đây và ngày nay.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống DNNN vẫn đóng vài trò chủ
đạo đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tài chính doanh nghiệp 43D
15
Đề án kinh tế chính trị
III. VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
1. Tính tất yếu của vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại đồng thời nhiều thành
phần kinh tế những nền kinh tế nhiều thành phần ở những nước có chế độ
chính trị khác nhau lại mang những đặc điểm khác nhau rất căn bản. Nếu
như trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thành phần kinh tế tư bản
tư nhân giữ vai trò thống trị thì trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN như ở nước ta thì thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo và KTNN
cùng với kinh tế tập thể được xây dựng và phát triển để ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc cho sự đi lên và phát triển của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta sở dĩ thành
phần KTNN giữ vai trò chủ đạo bởi vì những lý do chính sau:
Thứ nhất, chúng ta đều biết “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
tế ”. Nền chính trị của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với
mục tiêu dưa nước ta tiến lên CNXH, thực hiện “dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh”. Thành phần KTNN của nước ta mà trước hết
là các doanh nghiệp Nhà nước cũng phải phục vụ cho nhiệm vụ này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status