Lời mở đầu
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế , thì vai trò của ngân hàng
thương mại ngày càng được củng cố và thể hiện rõ nét : là một tổ chức trung
gian tài chính cầu nối giữa cung và cầu về vốn , giữa tiết kiệm và đầu tư ; là
bàn đỡ cho sự phát triển của nền kinh tế . Hoạt động của ngân hàng thương
mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế : sự ổn định và phát
triển của ngân hàng thương mại sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của
nền kinh tế và ngược lại khi ngân hàng thương mại gặp khó khăn hay khủng
hoảng sẽ kéo theo một dây chuyền phản ứng tiêu cực của các thành phần
trong nền kinh tế và hậu quả là vô cùng nghiêm trọng . Vì vậy , việc bảo
đảm cho hoạt động của ngân hàng thương mại được diễn ra một cách suôn
sẻ và ổn định là hết sức quan trọng . Hoạt động chính của ngân hàng thương
mại là huy động vốn và sử dụng vốn . Tín dụng là một trong những hoạt
động sử dụng vốn và nó đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với ngân hàng
thương mại nhưng hoạt động tín dụng lại hàm chứa rất nhiều rủi ro . Việc
phát triển hoạt động bảo đảm trong cho vay là cơ sở để đảm bảo an toàn cho
hoạt động tín dụng đồng thời cũng là cơ sở để chọn lựa và mở rộng đối với
những đối tượng khách hàng của ngân hàng vì vậy đề tài có tính cần thiết
cao trong việc bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng .
Em nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phát triển các hình thức bảo đảm
đã được sử dụng và phát triển thêm những hình thức bảo đảm mới để đáp
ứng được yêu cầu của các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế đồng thời
cũng chính là bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng . Đối
tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đảm bảo trong cho vay tại ngân
hàng . Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo đảm tại phòng tín
dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
1
chi nhánh Điện Biên Phủ . Với phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng,
em mong rằng có thể hoàn thành được một chuyên đề tốt nghiệp thật hiệu
quả và có ý nghĩa .
Kết cấu chuyên đề tốt nghiệp của em bao gồm ba chương :
trong kì là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay tại thời điểm cuối kì.
3
Khi lập các báo cáo tài chính (thời điểm) , cho vay được ghi dưới hình thức
dư nợ . Một số ngân hàng thường ghi giảm dư nợ phần trích lập dự phòng
tổn thất hoặc lãi được nhận trước .
- Phân loại cho vay : tùy thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà cho vay
được phân loại khác nhau :
+ Theo thời hạn của món vay : Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan
trọng đối với ngân hàng vì thời gian có liên quan mật thiết đến tính an toàn
và sinh lợi của khoản vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng .
• Cho vay ngắn hạn : từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động
• Cho vay trung hạn : từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản
cố định như phương tiện vận tải , một số cây trồng vật nuôi trang
thiết bị chóng hao mòn .
• Cho vay dài hạn : Trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như
nhà , sân bay , cầu , đường , máy móc thiết bị có giá trị lớn , thường
có thời gian sử dụng lâu .
+ Theo rủi ro : cho vay bao gồm các khoản có độ an toàn cao , khá , trung
bình và thấp . Cách phân loại này giúp ngân hàng đánh giá lại các khoản
mục tín dụng , dự trù quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao ,đánh giá chất
lượng tín dụng.
• Tín dụng lành mạnh : Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
• Tín dụng có vấn đề : Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ , tiến độ thực hiện kế hoạch bị
chậm , khách hàng gặp thiên tai , khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài
chính..
4
• Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : Các khoản nợ đã quá hạn với thời
hạn ngắn và khách hàng có kế họach khắc phục tốt , tài sản bảo đảm
có giá trị lớn…
Số lượng cho vay =Giá trị tài sản đảm bảo x tỷ lệ cho vay trên giá trị tài
sản đảm bảo
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản .Ngân hàng có thể
kiểm soát từng món vay tách biệt .Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài
sản đảm bảo .
+Cho vay theo hạn mức :
• Đây là nghiệp vụ tín dung theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho
khách hàng hạn mức tín dụng .Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì
hoặc cuối kì .Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính .Hạn mức tín dụng
được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh ,nhu cầu vốn và
nhu cầu vay vốn của khách hàng.
• Hình thức cho vay này thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất
kinh doanh .Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ do đó
tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý ngân quỹ của khách hàng .
Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể
nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn từng lần vay,chỉ
có thể phát hiện khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu
không giảm sút.
+Cho vay luân chuyển :
6
• Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hóa .Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn .Ngân hàng có
thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng .
• Theo hình thức này ,giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn ,hợp pháp ,
hợp lệ ,đúng đối tượng )đều là đối tượng được ngân hàng cho vay ;
thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng .Vì vậy ,các
khoản phải thu và hàng hóa trong kho trở thành vật bảo đảm cho
khoản vay.
• Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng vì thủ tục vay
của quản lý tín dụng trong ngân hàng .Một trong những nội dung quan trọng
đó là hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng.
1.1.2 Khái niệm hoạt động bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương
mại
-Bảo đảm trong cho vay chính là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay
dựa trên cơ sở thế chấp ,cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba.
Các ngân hàng và các định chế tài chính khác coi bảo đảm tín dụng là nguồn
thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể
thanh toán được nợ .Trong cho vay kinh doanh,nguồn thu nợ thứ nhất từ
doanh thu thực tế đối với cho vay ngắn hạn,từ khấu hao và lợi nhuận đối với
cho vay trung và dài hạn.Trong cho vay tiêu dùng nguồnthu nợ thứ nhất từ
thu nhập cá nhân như tiền lương , các khỏan thu nhập tài chính, (lãi tiền gửi ,
cổ tức ,trái tức) và các khoản thu nhập khác .Các nguồn thu nợ thứ nhất này
thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của người đi vay.Trong hoạt động
8
kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thể
thực hiện được ,nếu không có một nguồn bổ sung tất yếu ngân hàng sẽ gặp
rủi ro tín dụng . Vì vậy ,để bảo vệ lợi ích của mình ngân hàng thường yêu
cầu người đi vay có các bảo đảm cần thiết ,ngoại trừ những khách hàng có
hoạt động tốt và quan hệ tín dụng thường xuyên.
-Các đặc trưng của bảo đảm trong cho vay :
Nhìn chung ,bất kì tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có
khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm .Tuy nhiên
từ góc độ của người cho vay bảo đảm phải thể hiện được ba đặc trưng sau:
+Giá trị được bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm :
Bảo đảm trong cho vay không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có
ý nghĩa thúc dục người đi vay trả nợ ,nếu không họ sẽ mất tài sản .Nhưng
nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có
động cơ không trả nợ.
,vì vậy cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của
khách hàng đi vay.
-Trong thực tế nếu chúng ta vận dụng các hình thức bảo đảm thích hợp với
các loại và kĩ thuật cho vay , cũng như các dự án cụ thể thì vai trò của hoạt
động bảo đảm trong cho vay sẽ được thể hiện như sau :
+Giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng vì một lý do nào đó
không thanh toán được nợ cho ngân hàng .
+Làm động lực thúc đẩy khach hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nếu không
có bảo đảm có thể dẫn đến việc lơ là nghĩa vụ trả nợ . Ngược lại nếu có bảo
đảm sẽ tạo động lực tốt hơn cho nghĩa vụ trả nợ , vì nếu không sẽ mất tài sản
10
và tốn kém chi phí nhiều hơn. Mặt khác, bảo đảm trong cho vay còn là rào
cản đối với những người đi vay co chủ ý lừa đảo .
Như vậy bảo đảm có ý nghĩa rất lớn trong hạn chế rủi ro tín dụng ,là một
mắt xích quan trọng trong chính sách quản lý tín dụng. Chúng ta cần nhận
thức rõ được vai trò của hoạt động bảo đảm và đặt nó đúng chỗ để vừa mở
rộng được hoạt động cho vay của ngân hàng đồng thời vừa có được những
hợp đồng tín dụng chất lượng, hiệu quả cho ngân hàng .
1.2 Các hình thức bảo đảm trong cho vay của ngân hàng thương
mại
1.2.1 Cho vay cầm cố tài sản
* Định nghĩa Cầm cố tài sản:
Là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
* Tài sản cầm cố bao gồm :
-Máy móc, thiết bị, NLVL, hàng hoá tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các
vật có giá trị.
-Ngoại tệ, tiền mặt ,tiền trên tài khoản ...
-Giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền
gửi, séc và các giấy tờ có giá khác (vận đơn...) Cổ phiếu của chính tổ chức
Các ngân hàng thường cầm cố các loại hàng hóa mới (chưa sử dụng) và chỉ
chấp nhận các loại hàng hóa đã qua sử dụng với điều kiện được thị trường
chấp nhận một cách rộng rãi ví dụ :phương tiện vận chuyển phổ cập .
+ Quản lý hàng hóa cầm cố : Việc quản lý hàng hóa cầm cố được thực hiện
theo các cách sau :
• Quản lý tại kho ngân hàng :
Cách thức quản lý này bảo đảm nắm chắc hàng hóa cầm cố nhưng tốn kém
về cơ sở vật chất và quản lý .Trên thực tế ít ngân hàng áp dụng cách quản lý
này . Quy trình quản lý tại kho ngân hàng như sau :
Khách hàng chuyển giao tài sản cho ngân hàng . Khi nhận tài sản ngân
hàng phải lập biên bản giao nhận hàng hóa .Trong quá trình cầm cố ngân
hàng phải bảo quản và giữ gìn hàng hóa để khỏi hư hỏng mất mát ,không
được sử dụng , bán , đổi , tặng , cho thuê và phải bồi thường mọi thiệt hại
liên quan đến hàng hóa cho người cầm cố .
Khi khách hàng đã thanh toán xong nợ thì ngân hàng sẽ trả lại hàng cho
khách hàng cầm cố
Cách cầm cố tại kho của ngân hàng được áp dụng phổ biến trong giai
đoạn đầu thế kỉ 20 trở về trước tại các thành phố cảng. Ngày nay, cách thức
quản lý này ít được áp dụng .
• Quản lý tại kho của khách hàng cầm cố :
Hàng hóa cầm cố được đặt tại một kho riêng của khách hàng và đặt dưới
sự quản lý của ngân hàng . Đồng thời để xác nhận hàng hóa đó đã được cầm
cố ngân hàng phải kí một hợp đồng thuê kho với khách hàng và đăng kí hợp
đồng đó với cơ quan quản lý nhà nước . Giá thuê kho ở hợp đồng này chỉ
mang tính chất tượng trưng.
13
Để bảo đảm an toàn cho hàng hóa cầm cố ngân hàng phải chọn những kho
kiên cố và có hệ thống thiết bị bảo đảm an toàn , phù hợp với tính chất của
hàng hóa cầm cố . Mặt khác , ngân hàng là người duy nhất giữ chìa khoá và
được phép ra vào kho ,đồng thời ngân hàng có bảng niêm phong kho mang
bị hệ thống phòng cháy và chữa cháy , mặt khác công ty về ký thác hàng hóa
không được làm chức năng mua bán hàng hóa .
+ Quy trình ký thác hàng hóa như sau :
• Giao nộp hàng hóa để lưu giữ .
• Công ty kinh doanh kho phát hành biên lai – ký hóa phiếu và giao cho
người ký thác .
• Khi người ký thác muốn nhận hàng hóa phải xuất trình đồng thời cả
biên lai và ký hóa phiếu .
+ Khi người ký thác hàng hóa có nhu cầu vốn ngắn hạn , họ có thể đến ngân
hàng để xin vay trên cơ sở bảo đảm bằng hàng hóa đã ký thác tại công ty
kinh doanh kho . Số tiền được vay chỉ bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị
hàng hóa , ngân hàng giữ lại một phần để bảo đảm an toàn cho số tiền cho
vay .
Kỹ thuật cho vay của ngân hàng được áp dụng trong trường hợp này là kỹ
thuật chiết khấu .
15
Khách hàng tách ký hóa phiếu ra khỏi biên lai và chuyển giao cho ngân
hàng bằng cách bối thự .
Trong bối thự bao gồm các nội dung sau :
• Tên ngân hàng được bối thự (người hưởng thụ tiếp theo) .
• Số tiền khách hàng phải thanh toán với ngân hàng .
• Kỳ hạn thanh toán .
Nhận được ký hóa phiếu đã bối thự cho ngân hàng sẽ chiết khấu và cấp cho
khách hàng số tiền bằng số tiền thanh toán trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng
phí . Sau đó sẽ tiến hành thông báo cho công ty kinh doanh kho để họ ghi
vào sổ sách theo dõi .
+ Chiết khấu ký hóa phiếu tương đối an toàn và có nhiều thuận lợi cho ngân
hàng ,vì các lý do sau đây :
• Ký hóa phiếu đại diện cho một lượng hàng hóa có thực được lưu trữ
tại các kho an toàn . Mặt khác các kho hàng hóa thường xuyên được
nói cách khác là chứng khoán công ty có mức độ hoàn trả thấp và giá cả biến
động với biên độ cao .
- Bảo đảm bằng tiền gửi :
17
+ Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khoản ứng trước của ngân hàng chủ yếu là
tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm kể cả chứng chỉ tiền gửi , còn đối với tiền gửi
thanh toán khi dùng làm bảo đảm cho ngân hàng phải được chuyển sang một
tài khoản phong tỏa .
+ Tiền gửi là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém vì các lý do sau :
• Không cần phải định giá .
• Chi phí phát sinh trong việc quản lý bảo đảm không đáng kể .
• Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ tương đối đơn giản .
+ Với hình thức bảo đảm này thì tỷ trọng cho vay của ngân hàng tương đối
cao và mức cho vay được tính dựa trên công thức :
Tv = Tg ( 1 + R1 )
( 1+ R2)
Tv : Số tiền cho vay tối đa R1 : Lãi suất tiền gửi
Tg : Mệnh giá của tiền gửi R2 : Lãi suất cho vay
Lãi suất tiền gửi được tính trong công thức trên là lãi suất ngân hàng chấp
nhận thanh toán ,khi phải thanh lý tiền gửi để trả nợ . Thông thường lãi suất
này nhỏ hơn lãi suất tiền gửi theo hợp đồng và thậm chí bằng không . Mức
lãi suất cụ thể phụ thuộc vào quy định của ngân hàng .
Trong trường hợp tiền vay và tiền gửi bảo đảm là hai loại tiền khác nhau thì
phải có một mức dự phòng về thay đổi tỷ giá hối đoái .
Trong trường hợp tiền gửi được ký thác ở một chi nhánh hoặc một ngân
hàng khác thì ngân hàng cho vay phải thẩm tra tính hiện thực của của tiền
gửi đó đồng thời phải có sự xác nhận của ngân hàng nhận ký thác chấp thuận
18
ký thác ngân hàng cho vay được phép thu nợ từ khoản tiền gửi của khách
hàng trong trường hợp khách hàng không thanh toán tiền vay đúng hạn .
thương tật và hưu trí mà phần lớn các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa có ý
nghĩa bảo vệ rủi ro ,vừa là hình thức tiết kiệm . Tính chất tiết kiệm bao hàm
trong hợp đồng bảo hiểm sẽ giúp cho người hưởng thụ có một ngân quỹ
trong tương lai .Nguồn ngân quỹ này chính là cơ sở bảo đảm để thực hiện
các quan hệ tín dụng .
Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm áp dụng cho các cá nhân và
trong một số trường hợp cho các doanh nghiệp nhỏ . Đây là hình thức bảo
đảm tương đối tiện lợi vì tính thanh khoản cao và ít tốn kém về chi phí quản
lý . Tuy nhiên hình thức bảo đảm này cần chú ý hai vấn đề sau : Hợp đồng
bảo hiểm có được phép chuyển nhượng không và cách thức xử lý khi người
đóng bảo hiểm vi phạm như thế nào ? Dựa vào hai cơ sở trên đây để ngân
hàng ra quyết định chấp nhận hợp đồng bảo hiểm làm bảo đảm , định giá trị
bảo đảm và thủ tục bảo đảm .
1.2.2 Cho vay thế chấp tài sản
* Thế chấp tài sản:
20
Là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao
tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
* Tài sản thế chấp:
• Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả tài sản gắn liền với
nhà cửa, công trình xây dựng và các tài sản gắn liền với đất.
• Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế
chấp.
• Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo
quy định của luật Hàng không dân dụng trong trường hợp đưtaợc thế
chấp.
• Quyền đòi nợ.
• Hàng tồn kho luân chuyển.
• Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải trong trường hợp Bên thế chấp
sự can thiệp của tòa án .
+ Thế chấp công bằng (thế chấp thông thường) là hình thức thế chấp mà
trong đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu tài sản hoặc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay . Khi người đi vay
22
không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng , việc xử lý tài sản phải dựa
trên cơ sở thỏa thuận giữa người cho vay và người đi vay hoặc phải nhờ đến
sự can thiệp của tòa án nếu có tranh chấp .
- Thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai :
+ Thế chấp thứ nhất là việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho món nợ thứ
nhất. Cần lưu ý rằng thế chấp thứ nhất không phải là lần đầu tiên đem tài sản
đi thế chấp cho một khoản vay , mà thế chấp thứ nhất được xác định trong
mối tương quan giữa các khoản vay có thế chấp . Tức là việc sử dụng một
tài sản làm bảo đảm cho nhiều khoản vay và thế chấp cho khoản vay đầu
tiên đang tồn tại gọi là thế chấp thứ nhất .
+ Thế chấp thứ nhất có hai trường hợp : Thế chấp cho một bên cho vay và
thế chấp cho nhiều bên cho vay dưới hình thức hợp vốn (đồng tài trợ). Trong
trường hợp thế chấp cho khoản vay hợp vốn , việc quản lý tài sản và giấy tờ
của tài sản bảo đảm do một ngân hàng đại diện thực hiện .
+ Thế chấp thứ hai là hình thức thế chấp , trong đó người đi vay sử dụng
phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp và khoản nợ thứ nhất
được bảo đảm bằng tài sản đó để bảo đảm cho khoản nợ thứ hai .
+Trong thế chấp để thực hiện nhiều nghĩa vụ (thế chấp thứ nhất và thứ hai)
có một số điểm lưu ý sau :
• Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thanh toán một khoản
nợ đến hạn, thì các khoản nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là đến
hạn .
• Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký thế chấp.
• Theo quy định hiện hành thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai chỉ
được thực hiện tại một tổ chức tín dụng .
Đối với các tài sản gắn liền với đất như nhà ở , các công trình xây dựng chỉ
được nhận thế chấp cùng với giá trị quyền sử dụng đất .
1.2.3 Cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh
* Cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh:
Là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh) sẽ thực
hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh ) ,nếu khi đến thời
hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ .
* Các bên tham gia :
- Người bảo lãnh là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay đối với
người cho vay (ngân hàng).Người bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc pháp
nhân. Một bảo lãnh có thể có nhiều người tham gia cùng bảo lãnh .Trong
trường hợp này những người tham gia bảo lãnh phải liên đới chịu trách
nhiệm và ngân hàng cho vay có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những
người bảo lãnh phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ . Tuy nhiên nếu chứng
thư bảo lãnh có quy định phần bảo lãnh cho từng người cụ thể thì miễn trừ
nghĩa vụ liên đới .
-Người nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh. Trong
quan hệ tín dụng đó là các ngân hàng cho vay .
25