Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCTVN Ngân hàng Công thương Việt Nam
SGDI - NHCTVN Sở Giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
HĐQT Hội đồng quản trị
TCTC Tổ chức Tài chính
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
CN Chi nhánh
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG BIỂU
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến
mạnh mẽ, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, mức tăng trưởng
kinh tế trên 6,23%/năm. Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và quá
trình hội nhập của đất nước, ngành Ngân hàng Việt Nam đã và đang chuyển
mình theo một xu hướng mới. Là một Ngân hàng có bề dày hoạt động, Ngân
hàng Công thương Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công và đang tiếp
tục đổi mới nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của Ngân hàng trên cả nước cũng
như trong khu vực.
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Ngân hàng Thương mại và những nội dung hoạt động chủ yếu
của Ngân hàng Thương mại
1.1. Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Theo luật của Quốc hội số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004
về một sửa đổi bổ sung một số điều của luật các tổ chức Tín dụng, định nghĩa:
Ngân hàng thương mại loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động Ngân hàng.
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
Ngân hàng với nội dung tjhường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng tiền này
để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Phân loại Ngân hàng Thương mại
Thứ nhất, dựa vào hình thức sở hữu gồm:
• Ngân hàng thương mại nhà nước là ngân hàng thương mại do Nhà nước
đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực
hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà nước là Hội đồng quản trị do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ
nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thỏa thuận với Ban tổ chức – cán bộ của
Chính phủ. Điều hành hoạt động của ngân hàng thương mại là Tổng
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
3
Chuyên đề thực tập
giám đốc. Giúp việc cho Tổng giám đốc có các phó tổng giám đốc, kế
toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.
Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều thuộc loại hình ngân
hàng này.
Thứ ba, dựa vào quan hệ tổ chức gồm:
Dựa vào tiêu thức quan hệ tổ chức, có thể chia ngân hàng thương mại
thành ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (cấp 1 và cấp 2) và phòng giao
dịch. Ngân hàng hội sở là nơi tập trung quyền lực cao nhất và là nơi cung cấp
đầy đủ hơn các dịch vụ ngân hàng trong khi ngân hàng chi nhánh và phòng
giao dịch nhỏ hơn và cung cấp không đầy đủ tất cả các giao dịch mà chỉ tập
trung vào các giao dịch cơ bản như huy động vốn, thanh toán và cho vay.
1.2. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Hoạt động này mang lại nguồn
vốn để Ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và
cung cấp các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài
sản của Ngân hàng thương mại chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn
được phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, huy động vốn còn được gọi là
nghiệp vụ tài sản nợ.
Theo Nghị định 49/2000/NĐ – CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về
tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại nhằm cụ thể hóa việc thi
hành luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại được huy động vốn
dưới các hình thức sau đây:
• Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác.
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
5
Chuyên đề thực tập
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được
• Hoạt động cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động
cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính
riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài
chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động
của công ty cho thuê tài chính.
1.2.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện các hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân qũy Ngân hàng
thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi Ngân
hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt
buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh của Ngân hàng thương mại được mở
tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt
trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của Ngân
hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
• Cung ứng các phương tiện thanh toán.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
• Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước.
• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước
cho phép.
• Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
• Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
liên Ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc
tế phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
1.2.4. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
7
Chuyên đề thực tập
cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, Ngân hàng thương mại có thể thực
2.1.1. Khái niệm về vốn
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng
thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực
hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của Ngân
hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng bao gồm:
• Vốn tự có của Ngân hàng thương mại (NHTM) là những giá trị tiền tệ
do Ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của Ngân hàng. Nó mang tính
ổn định và căn cứ để quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy
động của Ngân hàng.
• Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để
kinh doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi
đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất
quan trọng đối với mọi hoạt động của Ngân hàng.
• Vốn đi vay là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt
động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Nó có chi phí
tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
Ngân hàng.
• Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ
thanh toán.
2.1.2. Khái niệm về huy động vốn
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của các Ngân hàng hay còn gọi là
nghiệp vụ tạo vốn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm thu hút vốn từ
các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình.
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
9
Chuyên đề thực tập
2.2. Vai trò của huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lợi nhuận trực tiếp cho Ngân
cho Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế.
Điều này giúp Ngân hàng mở rộng kinh doanh trên thị trường, phân tán rủi ro, đẩy
mạnh công tác huy động vốn, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của Ngân hàng.
2.2.2. Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với Ngân
hàng mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Đối với khách
hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư
nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng
trong tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách
hàng một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối
cùng nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ khác của Ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng và
dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần
tiền cho tiêu dùng.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới huy động vốn
2.3.1. Các nhân tố chủ quan
2.3.1.1. Quan điểm của lãnh đạo Ngân hàng về huy động vốn
Huy động vốn giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách của các nhà
lãnh đạo Ngân hàng. Công tác huy động vốn đạt hiệu quả cao khi các nhà
lãnh đạo Ngân hàng hiểu được tầm quan trọng của vốn huy động, đưa ra được
các chính sách huy động tiền gửi hợp lý, có các quyết định phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của thị trường Ngân hàng. Trái lại, các nhà lãnh đạo chưa
ý thức được vai trò quyết định của huy động vốn, chưa chú trọng công tác
nghiên cứu thị trường, khảo sát thị hiếu khách hàng gửi tiền sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến công tác huy động vốn của Ngân hàng. Có thể nói, quan điểm của nhà
lãnh đạo Ngân hàng chi phối hầu hết công tác huy động vốn.
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
11
Chuyên đề thực tập
2.3.1.2. Các hình thức huy động vốn
những người phát hành các công cụ tài chính khác nhau trong thị trường tiền
tệ. Khi lãi suất tối đa bị loại bỏ trong quá trình nới lỏng các quy định, việc
duy trì mức lãi suất cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Đặc biệt trong giai đoạn
khan hiếm tiền tệ, những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy
người gửi tiền tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ Ngân hàng này sang
Ngân hàng khác hay từ công cụ này sang công cụ khác.
Tuy nhiên, không phải Ngân hàng đưa ra mức lãi suất cao là có thể thu
hút được nhiều vốn. Vấn đề ở chỗ với mức lãi suất cụ thể do Ngân hàng đưa
ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu. Điều này có
nghĩa là mức lãi suất mà Ngân hàng đưa ra phải luôn lớn hơn tỉ lệ lạm phát.
Do đó Ngân hàng phải dự đoán chính xác tỉ lệ lạm phát của nền kinh tế trong
năm để đưa ra mức lãi suất huy động hợp lí. Lãi suất ở mức huy động hợp lí
cũng phải là mức tiền không bị thay đổi. Có nghĩa là phải cộng thêm vào đó
những yếu tố biến động của tỉ giá.
Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng phải rất khéo léo mới có thể có
được một chính sách lãi suất hợp lí, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường
và mong muốn của Ngân hàng về qui mô và chất lượng nguồn vốn của Ngân
hàng. Đảm bảo lợi ích của người gửi tiền, lợi ích của Ngân hàng, giúp Ngân
hàng đạt hiệu quả cao trong công tác huy động vốn.
2.3.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Ngân hàng
Cơ sở vật chất hiện đại, công nghệ tiên tiến mang lại thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng. Tạo điều kiện để mở rộng thị phần kinh doanh,
và củng cố niềm tin cho khách hàng. Do đó Ngân hàng sẽ phát huy được tốt hơn
công tác huy động vốn. Ngược lại, nếu cơ sở vật chất của Ngân hàng còn hạn
chế thì sẽ ảnh hưởng đến việc mở rộng thị phần kinh doanh, khó thu hút,
không tạo niềm tin để khách hàng gửi tiền.
Trình độ công nghệ Ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ cảm thấy
hài lòng về dịch vụ được Ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
13
Chuyên đề thực tập
khách hàng như vậy thu hút được nhiều khách hàng hơn. Thái độ phục vụ của cán
bộ Ngân hàng đối với khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến việc huy động vốn
cho Ngân hàng. Do đó , để thu hút khách hàng gửi tiền, đi đôi với việc trau dồi
kiến thức, nghiệp vụ, cán bộ Ngân hàng phải chú ý đến thái độ phục vụ của mình
sao cho đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế
thị trường.
2.3.1.6. Chính sách quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ Ngân hàng
cung ứng
Chính sách quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ Ngân hàng cung ứng
có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
Một Ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt hiển nhiên lợi thế hơn so với
Ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Những Ngân hàng có giao dịch mặt đường
trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làm việc ngày đêm, có cán bộ
giao dịch chuyên nghiệp, có trách nhiệm, tạo được niềm tin cho khách hàng là
lợi thế đáng quan tâm của các NHTM. Đối với cạnh tranh lãi suất, cạnh tranh
về dịch vụ Ngân hàng không giới hạn, do vậy đây chính là điểm mạnh để các
Ngân hàng phát huy thế mạnh của mình trong cạnh tranh.
Bên cạnh đó, chính sách quảng cáo cũng có vai trò rất lớn. Trong hoạt
động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo luôn được đề cao và cần phải có một chi
phí nhất định cho công tác này. Đồng thời Ngân hàng cũng phải có chiến lược
quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền hình mà nên dùng cả Pano, áp phích,
tờ rơi nhằm huy động tiền gửi.
Các Ngân hàng thương mại hiện nay đang từng bước cải thiện và ứng dụng
nghệ thuật thông tin quảng cáo, các hình thức khuyến mãi, dịch vụ… Mặc dù việc
đầu tư cho công tác này còn hạn chế, nhưng đây cũng là mặt mạnh của ngành
Ngân hàng trong việc cạnh tranh để huy động tiền gửi. Đòi hỏi các nhà quản trị
Ngân hàng phải có các chiến lược phù hợp để tăng cường công tác huy động vốn.
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
15
16
Chuyên đề thực tập
2.3.2.2. Môi trường kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động không
nhỏ đến quá trình huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Hoạt động huy
động vốn và sử dụng vốn luôn bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu
nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế tăng
trưởng hay suy thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM.
Mọi biến động của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc
tăng, giảm nguồn vốn huy động từ bên ngoài của Ngân hàng. Nền kinh tế tăng
trưởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo
môi trường cho việc thu hút vốn của NHTM thuận lợi. Ngược lại, khi nền
kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư của Ngân hàng bị thu
hẹp khiến quá trình tạo vốn của Ngân hàng gặp khó khăn.
Nhân khẩu học cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn thông qua
việc phân bổ dân cư, trình độ, lứa tuổi. Ngân hàng cũng nên xem xét yếu tố này
trong hoạt động huy động vốn.
Các chính sách kinh tế, chính trị – xã hội của Nhà nước, sự tăng trưởng
phát triển của nền kinh tế, phong tục tập quán của đất nước đều ảnh hưởng
mạnh mẽ tới hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng. Vì vậy, nhà quản trị
Ngân hàng phải dự đoán được diễn biến của thị trường, nắm bắt được thời cơ
để đưa ra các kế hoạch chiến lược phát triển trong từng thời kì, giai đoạn và
kế hoạch phát triển lâu dài.
2.3.2.3. Tâm lý, thói quen khách hàng
Tập quán tiêu dùng của người dân có ảnh hưởng rất quan trọng đối với
việc huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, thói quen thanh
toán khi mua hàng hoá cũng góp phần làm tăng hay giảm nguồn vốn huy
động của Ngân hàng. Ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng
tiền mặt là phổ biến, hầu hết người dân đều có tài khoản trong Ngân hàng.
Ngược lại, ở một số nước, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn đa số
Các NHTM chủ yếu cạnh tranh bằng hai hình thức là lãi suất và dịch vụ Ngân
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
18
Chuyên đề thực tập
hàng. Hiện nay, ở nước ta các Ngân hàng chủ yếu cạnh tranh bằng hình thức
lãi suất, còn hình thức cạnh tranh bằng dịch vụ thì chưa phổ biến. Do đó, mỗi
Ngân hàng phải xác định được mức lãi suất thế nào là hợp lí nhất, hấp dẫn
nhất, kết hợp với danh tiếng và uy tín của Ngân hàng để tăng thị phần huy
động vốn của đơn vị mình. Điều này là rất khó khăn vì nếu lãi suất huy động
cao thì lãi suất cho vay cũng phải tăng lên, lãi suất huy động thấp thì không
hấp dẫn khách hàng.
2.4. Các nghiệp vụ huy động vốn
2.4.1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi
Huy động vốn qua tài khoản là hình thức huy động vốn cổ điển và
mang tính đặc thù riêng có của Ngân hàng thương mại. Do vậy đây cũng là
điểm khác biệt giữa Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi Ngân
hàng. Chính vì đặc thù này mà Ngân hàng thương mại thường được coi là tổ
chức nhận ký thác (Depository institutions) trong khi các tổ chức tín dụng phi
Ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận ký thác (Non – depository
institutions).
Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất đa dạng và khác
nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền, Ngân hàng thương mại
phải thiết kế và phát triển thành nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau.
2.4.1.1. Tiền gửi thanh toán
a. Đối tượng khách hàng và tình huống sử dụng
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương
mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh
toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức,
có nhu cầu thực hiện thanh toán qua Ngân hàng.
Thanh toán qua Ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó
tổ chức, được mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng. Để mở tài
khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng thương mại, khách hàng cần làm các
thủ tục sau đây:
SV: Nguyễn Thị Trang Nhung Lớp: TMQT 47
20
Chuyên đề thực tập
• Đối với khách hàng cá nhân chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài
khoản tiền gửi cá nhân, đăng ký chữ ký mẫu, xuất trình và nộp bản sao
giấy chứng minh nhân dân.
• Đối với khách hàng tổ chức chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài
khoản tiền gửi thanh toán, đăng ký mẫu chữ ký và mẫu con dấu của
người đại diện, xuất trình và nộp bản sao các giấy tờ chứng minh tư
cách pháp nhân của tổ chức, và các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện
hợp pháp của chủ tài khoản.
• Đối với khách hàng là đồng chủ tài khoản cần tiền và nộp giấy đề nghị
mở tài khoản đồng sở hữu, các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp
pháp của người đại diện cho tổ chức tham gia tài khoản đồng sở hữu,
văn bản thỏa thuận quản lý và sử dụng tài khoản chung của các đồng
chủ tài khoản.
c. Tính lãi tiền gửi thanh toán
Theo thông lệ ở các nước phát triển, Ngân hàng không trả lãi cho
khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán vì mục đích của khách hàng
khi sử dụng tài khoản này là để thực hiện thanh toán qua Ngân hàng chứ
không phải để hưởng lãi. Hơn nữa Ngân hàng còn yêu cầu khách hàng phải
duy trì một số dư tối thiểu (Compensation balance) để được hưởng các dịch
vụ Ngân hàng, nếu không có đủ số dư này thì khách hàng phải trả phí cho
Ngân hàng.
Ở Việt Nam do dân chúng chưa có thói quen sử dụng tài khoản và
tiền gửi vào Ngân hàng nên để thu hút khách hàng, Ngân hàng phải trả lãi
đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, tuy nhiên mức lãi suất áp dụng