GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG - Pdf 12

Trường đại học Ngoại Thương
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Tiểu luận môn Kinh tế phát triển
GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN
NHÂN VÀ THỰC TRẠNG
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lương Thị Ngọc Oanh
Sinh viên thực hiện: Nhóm 7 lớp Nhật 3 – K45E
1, Nguyễn Tường Anh
2, Phan Thị Thuỳ Dương
3, Nguyễn Thị Hiền Hậu
4, Nguyễn Thị Minh
Hằng
5, Lê Thị Bích
6, Bùi Thị Thu Giang
7, Nguyễn Thanh Phương
8, Nguyễn Thị Quỳnh
Oanh
9, Đào Thị Thu Thuỷ
10,Văn Hồng Quân
11, Mai Thị Thắng
12, Nguyễn Đức Thiện
Hà Nội ngày 11 tháng 3 năm 2009
Mục lục
Lời mở đầu
I. Khái quát về bất bình đẳng giới 4
1. Một số khái niệm 4
2. Hình thái bất bình đẳng giới về nguồn lực 6
3. Chỉ số bất tương đồng về việc làm theo giới: chỉ số Duncan 8
II. Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới 10
1. Thực trạng 10
1.1. So sánh vấn đề bình đẳng giới giữa các nước phát triển và đang

sống trong tự do, và được tôn trọng. Sự phát triển kinh tế mở ra nhiều con
đường để tăng cường bình đẳng giới về lâu dài. Nhiều bằng chứng vững
chắc khắp nơi trên thế giới khẳng định nhận định này. Do đó chúng em
đã nghiên cứu đề tài : GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT
TRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG trong khi học tập môn
kinh tế phát triển để có cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ giữa giới và phát
triển.
Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về thời gian cũng như tầm hiểu
biết chúng em còn có những thiếu sót mong cô giáo và các bạn chỉ bảo
thêm.
Chúng em xin được gửi lời cảm ơn đến cô giáo hướng dẫn đã giúp
chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
3
I. Khái quát về bất bình đẳng giới
1. Một số khái niệm
Giới là một thuật ngữ chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những
kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là một phạm trù xã hội có vai
trò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò
của họ trong xã hội và trong nền kinh tế.
Bình đẳng giới là khi phụ nữ và nam giới có địa vị, quyền và nghĩa vụ
như nhau. Bình đẳng giới là khi mọi người có quyền tự do phát triển khả năng
cá nhân và tự do lựa chọn mà không bị hạn chế bởi vai trò đã được xã hội xác
định theo giới và sự khác biệt về hành vi, nguyện vọng và nhu cầu của nam và
nữ cần được coi trọng như nhau. Theo cách này bình đẳng giới có xét đến sự
khác biệt thuộc về bản chất từ khi sinh raà nghiêng về bình đẳng về cơ hội.
Bình đẳng giới nhìn từ góc độ kinh tế là sự bình đẳng về cơ hội học tập, về sự
tiếp cận và sử dụng nguồn lực, về cơ hội có việc làm và thu nhập tương xứng,
về quyền ra quyết định trong gia đình
Như vậy có thể suy ra rằng bất bình đẳng giới là sự phân biệt trên cơ sở
giới tính mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ

E
Chỉ số giáo dục của nữ giới:
I
EF
= 2/3*(Tỉ lệ người lớn là nữ giới biết chữ/100)+1/3*(tỉ lệ nữ nhập học ở các cấp/100)
Chỉ số giáo dục của nam giới:
I
EM
= 2/3*(Tỉ lệ người lớn là nam giới biết chữ/100)+1/3*(tỉ lệ nam nhập học ở các cấp/100)
- Về thu nhập: I
I
I
IF
= [log(thu nhập thực tế của nữ giới theo ngang giá sức mua)-log(100)]/[log(40000)-
log(100)]
I
IF
= [log(thu nhập thực tế của nam giới theo ngang giá sức mua)-log(100)]/[log(40000)-
log(100)]
Bước 2: Tính chỉ số phân bổ đồng đều theo công thức:
(Tỉ lệ nữ trong dân số/chỉ số độ đo của nữ giới+tỉ lệ nam trong dân số/chỉ số độ đo của nam
giới)
-1
Khi đó ta được các chỉ số phân bổ đồng đều:
I
H
:chỉ số tuổi thọ phân bổ đồng đều
I
E
: chỉ số giáo dục phân bổ đồng đều

đương 50% - tức là tỉ trọng của phụ nữ và tỉ trọng của nam giới bằng nhau đối
với từng biến. Khi giá trị chỉ số của phụ nữ hay nam giới bằng 0, EDEP theo
công thức trên không xác định được. Tuy nhiên, giới hạn của EDEP là 0 khi chỉ
số tiến gần tới 0, trong những trường hợp này giá trị của EDEP đặt là bằng 0.
GEM được tính đơn giản bằng trung bình của cả 3 chỉ số EDEP đã tính.
2. Hình thái bất bình đẳng giới về nguồn lực
6
2.1. Bất bình đẳng giới về dịch vụ giáo dục chia theo giới
- Nam nữ bất bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.
- Nam nữ bất bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào
tạo.
Hiện nay, bình đẳng giới trong tỷ lệ đi học và số năm đi học trung bình
đã có bước cải thiện, trong đó tỷ lệ đi học của bé gái tăng nhanh hơn bé trai
nhưng sự phân biệt giới và tốc độ thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục thì
lại rất khác nhau. Giáo dục là nền tảng để phát triển các kĩ năng linh hoạt vốn
rất cần thiết để tham gia các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao.
Những ai không có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại bỏ
khỏi những cơ hội mới, và những nơi mà khoảng cách giới dai dằng trong giáo
dục vẫn còn tồn tại thì phụ nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậu đằng
sau nam giới trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển.
2.2 Bất bình đẳng giới trong việc làm và thu nhập
Từ trước tới nay nam giới có tỉ lệ tham gia lực lượng lao động cao hơn
phụ nữ và hình thái này vẫn đang tiếp diễn. Nhưng mức độ tham gia lực lượng
lao động của phụ nữ khác nhau rất nhiều giữa các vùng đang phát triển, trong
đó tỉ lệ này chiếm 25% ở Trung Đông và Bắc Phi năm 1995 đến khoảng 45% ở
Châu Âu, Trung Á Đông Á và vùng Thái Bình Dương. Xu hướng của từng
vùng cũng rất khác nhau.
Trong lực lượng lao động phụ nữ và nam giới thường thực hiện các
nhiệm vụ khác nhau và làm việc trong các ngành nghề khác nhau. Ví dụ, phụ
nữ chiếm đa số trong công nhân dệt may trên toàn thế giới. Có sự phân chia

f
i
= F
i
/F: tỉ lệ nữ giới làm nghề thứ i trong tổng nữ (Σf
i
=1)
I : chỉ số Duncan thường được tính ra phần trăm, nhận các giá trị từ 0 đến 1
-Khi I=0 tức m
i
=f
i
thì không có sự bất tương đồng về việc làm, thể hiện sự phân
công lao động đồng nhất giữa các ngành hoặc các nhóm nghề nghiệp
-Khi I=1 thì có sự bất tương đồng hoàn toàn về mọi việc làm
Ví dụ:
Nhà văn(74) Ngươi bán xúc xích(55) Người photo(88) Tổng
Nữ 4 15 81 100
8

=
−=
n
i
ii
fmI
1
2
1
Nam 70 40 7 117

15
117
40
100
4
117
70
5.0
5.0
5.0
33
2211
3
1
F
F
M
M
F
F
M
M
F
F
M
M
F
F
M
M

trong số 1 tỉ người nghèo nhất là phụ nữ và trẻ em gái; 2/3 trong số 960 triệu
người lớn không biết đọc là phụ nữ; 70% trong số 130 triệu trẻ em không được
đến trường là các bé gái. Một số nền văn hóa có các phong tục tập quán mà có
lẽ chẳng bao giờ chấm dứt được bạo hành giới, và cả nam giới và phụ nữ đều
có thể ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thừa nhận nó như một chuyện bình thường.
Thậm chí một số phụ nữ còn đứng ra bảo vệ cho những cơ chế xã hội đàn áp
họ.
Để có thể so sánh tình trạng bất bình đẳng giữa các nước với nhau không
phải là vấn đề đơn giản. Mỗi nước có một nền văn hóa riêng và có những điều
kiện khác nhau để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, thêm vào đó mỗi cách
tiếp cận khác nhau lại chỉ ra nhứng khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn như Quỹ
dân số Liên hợp quốc (UNFPA) nghiên cứu vấn đề bất bình đẳng giới trên cơ
sở tiếp cận các nền văn hóa. Trong khuôn khổ bài tiểu luân này chỉ tập trung
10
vào các số liệu được Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) sử dụng
qua những Báo cáo phát triển con người thường niên.
11
Bảng 1- Các chỉ số phát triển liên quan tới giới (GDI) một số nước chọn lọc
năm 2005
(Nguồn:
Tổng
hợp từ
“Báo cáo
phát
triển con
người
2008”
của
UNDP)
Có thể

đại học(%)
2005
Thu nhập ước
tính kiếm được
(USD PPP)
2005
Xếp
hạng
Giá
trị
Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam
Iceland
1 0,962 83,1 79,9 99 99 101 90 28637 40000
Na Uy
3 0,957 82,2 77,3 99 99 103 95
3074
9
40000
Nhật
13 0,942 85,7 78,7 99 99 85 87 17802 40000
Mỹ
16 0.937 80.4 75,2 99 99 98 89 25005 40000
Thái Lan 71 0,779
74,
5
65,5 90,5 94,9 72 71 6695 10732
Trung
Quốc
73 0,776
74,

sử dụng đến chỉ số phát triển con người HDI trong mối quan hệ với chỉ số phát
triển giới GDI.
Bảng 2 – So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc
năm 2005
Tên nước
HDI GDI Xếp hạng HDI
trừ đi xếp hạng
GDI
Giá trị
Xếp
hạng
Giá trị
Xếp
hạng
Iceland 0,986 1 0,962 1 0
Na Uy 0,986 2 0,957 3 -1
Úc 0,962 3 0,960 2 1
Nhật 0,953 8 0,942 13 -5
Mỹ 0,951 12 0.937 16 -4
Lucxămbua 0,944 18 0,924 23 -5
Thái Lan 0,781 78 0,779 71 0
Trung Quốc 0,777 81 0,776 73 1
Việt Nam 0,733 105 0,732 91 3
Nam Phi 0,674 121 0,667 107 -1
Campuchia 0,598 131 0,594 114 1
Ca mơ run 0,532 144 0,524 126 0
(Nguồn: tổng hợp từ “Báo cáo phát triển con người 2008” của UNDP)
Qua bảng số liệu có thể nhận thấy ở các nước trong khối hợp tác và phát
triển kinh tế có giá trị HDI gần với giá trị của GDI, thậm chí có nước còn có
thứ hạng GDI cao hơn như Na Uy, Luc Xam bua, đều đó cho thấy một sự phân

hướng gay gắt hơn trong nhóm người nghèo.
Trước tiên chúng ta sẽ xem xét về mặt giáo dục. Năm 1999, Filmer đã
tiến hành phân tích sự khác biệt trong tỷ lệ đến trường ở độ tuổi 6 đến 14 bằng
việc sử dụng kết quả điều tra nhân khẩu của hơn 41 nước trong các vùng Trung
Á, Nam Á và Đông Nam Á, châu Phi và hạ Sahara, châu Mỹ Latinh và vùng
Caribê. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân biệt giới về tỷ lệ đi học trong
nhóm người nghèo có xu hướng lớn hơn trong nhóm người giàu. Sự phân biệt
15
giới trong tỷ lệ đi học ở độ tuổi 6 đến 14 được Filmer thể hiện bằng tỷ số giữa
tỷ lệ số nam sinh chia cho tỷ lệ số nữ sinh. Filmer đã phân ra làm 2 nhóm quốc
gia, trong đó khoảng cách về giáo dục trong nhóm nghèo cao hơn trong nhóm
giàu. Trong 1 phân nhóm sự bất bình đẳng giới ở mức thấp hoặc vừa phải trong
nhóm giàu( tỷ lệ của nam so với nữ nhỏ hơn 1,5) và ở mức vừa phải trong
nhóm nghèo (tỷ lệ này là 1,1 đến 1,5). Trong nhóm thứ 2 thì sự bất bình đẳng
thấp và vừa phải trong nhóm giàu( tỷ lệ dưới 1,5) nhưng lại lên tới trên 1,5
trong nhóm nghèo. Còn theo Todaro (2006), ở hầu hết các quốc gia đang phát
triển, trẻ em gái được học hành ít hơn trẻ em trai. Trong những năm gần đây,
66 trong số 108 quốc gia được nghiên cứu có tỷ lệ trẻ em gái nhập học cấp tiểu
học và trung học thấp hơn trẻ em nam ít nhất khoảng 10%. Nếu tính trung bình
cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% so
với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và
tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơn
tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam.
Theo số liệu thống kê cho thấy phụ nữ có ít quyền hơn đối với một loạt
các nguồn lực thuận lợi, bao gồm giáo dục, đất đai, thông tin, và tài chính. Ở
Nam Á, trung bình thời gian phụ nữ được đến trường chỉ bằng khoảng một nửa
thời gian của nam giới, và tỉ lệ học sinh nữ nhập học ở cấp trung học vẫn chỉ là
1/3 so với tỉ lệ nam học sinh. Nhiều phụ nữ không có quyền sở hữu đất đai, và
những người có quyền thì thường sở hữu ít đất hơn so với nam giới. Ở phần lớn
các nước đang phát triển, các công ty do phụ nữ điều hành có xu hướng thiếu

Ta nhận thấy bất bình đẳng giới còn giảm năng xuất lao động ở các nông
trại và các doanh nghiệp và như vậy hạ thấp triển vọng xoá đói nghèo và bảo
đảm tăng trưởng kinh tế. Bất bình đẳng giới còn làm cho việc điều hành đất
nước yếu kém do đó giảm hiệu quả của các chính sách phát triển. Mặc dù các
thành quả về giáo dục cho phụ nữ có tăng, họ vẫn bị trả lương thấp hơn so với
nam giới trong thị trường lao động – dù họ có cùng bằng cấp và thâm niên làm
việc như nam giới. Phụ nữ ở các nước đang phát triển thường bị giới hạn ở một
17
số loại nghề nghiệp và hầu như bị loại trừ ra khỏi các chức vụ quản lí trong các
ngành nghề chính thống.
Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như
nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn,
thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn
trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn. Quan trọng hơn là điều đó làm khả
năng thiên bẩm trung bình của những đứa trẻ được học hành sẽ thấp hơn so với
những trường hợp cả trẻ em trai và trẻ em gái cùng có cơ hội học tập như nhau.
Và vì thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể
đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, nếu chúng ta giả
định rằng, lao động nam và nữ trong một số ngành không thể là đầu vào thay
thế hoàn hảo cho nhau tức là đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với nam giới
đồng nghĩa với việc đầu tư nhiều hơn cho chất lượng đầu vào của ngành sử
dụng nhiều lao động nam và ngược lại đối với ngành sử dụng nhiều lao động
nữ. Theo quy luật, năng suất cận biên giảm dần, hiệu quả của một đơn vị vốn
đầu tư thêm cho giáo dục đối với ngành sử dụng nhiều lao động nam sẽ giảm
dần và tổng hiệu quả trong nền kinh tế sẽ cao hơn, nếu chúng ta chuyển một
phần kinh phí đầu tư đó sang cho việc đào tạo nữ lao động trong ngành sử dụng
nhiều lao động nữ.
Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào
tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong
gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con

chung của đất nước. Một cuộc khảo sát dự báo rằng nếu các nước ở Nam Á,
vùng cận Sa ha ra của Châu Phi, Trung đông và Bắc phi bắt đầu giảm khoảng
cách về giới trong chỉ số thời gian đi học trung bình như các nước Đông Á đã
tiến hành trong năm 1960, và nếu họ thu hẹp khoảng cách giới trong chỉ số nói
trên với tốc độ như các nước Đông Á đã đạt được trong giai đoạn 1960-1992,
thì thu nhập bình quân đầu người của họ đã tăng thêm 0,5-0,9% mỗi năm - một
mức tăng đáng kể vào tỉ lệ tăng trưởng thực tế. Một nghiên cứu khác dự đoán
19
rằng thậm chí đối với các nước thu nhập khá và thu nhập cao có mức dân trí
khởi đầu cao hơn, tỉ lệ phụ nữ được giáo dục trung học tăng 1% đồng nghĩa với
tỉ lệ thu nhập bình quân đầu người tăng 0,3%. Cả hai cuộc nghiên cứu nói trên
đều có các biến đối chứng thường được nói đến trong các nghiên cứu tăng
trưởng.
Các phân tích trên cho thấy, bất bình đẳng giới trong giáo dục và quyền
quyết định đối với các hoạt động kinh tế, hoặc hạn chế trong việc tiếp cận các
nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất đối với phụ nữ đều hạn chế tăng
trưởng kinh tế. Điều đó càng khẳng định, bình đẳng giới không chỉ đơn thuần
là mục tiêu phát triển mang tính chuẩn tắc, mà còn là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn.
1.2.3 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và phát triển con người
Giữa bất bình đẳng giới và sự phát triển con người có mối quan hệ rất
chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong thời đại hiện nay, khi vai trò của người phụ
nữ trong xã hội ngày càng được coi trọng. Và tại báo cáo phát triển con người
năm 1995, Human Development Report - HDR (báo cáo thường niên của
chương trình phát triển Liên Hợp Quốc – UNDP), lần đầu tiên chỉ số phát triển
liên quan đến giới, Gender-related Development Index – GDI và chỉ số trao
quyền giới, Gender Empowerment Measure - GEM được đưa ra. GDI và GEM
được sử dụng như các công cụ kiểm tra cho các phân tích và các thảo luận
chính sách về tình hình phát triển con người có liên quan đến giới. Chừng đó
cũng đủ để nhận thấy tầm quan trọng giữa bình đẳng giới với sự phát triển con

…………… ……………… ……………… ……………
7. LB Nga
(99,8%)
138. Isarel
(105.4%)
85. Zimbabwe
(93.0%)
144. Syria
(93.9%)
8. Bulgaria
(99,8%)
139. New Zealand
(105,3%)
86. Malaysia
(92.8%)
145. Swaziland
(93.7%)
9. Việt Nam
(99,8%)
140. Việt Nam
(105,3%)
87. Việt Nam
(92.5%)
146. Việt Nam
(93.5%)
10. Latvia
(99,8%)
141. Yemen
(105,2%)
88. Indonesia

nữ có trình độ hơn, chi phí cơ hội thời gian của họ sẽ tăng lên. Đồng thời họ
cũng có khả năng thương thuyết trong gia đình hơn. Hai yếu tố này đều góp
phần làm giảm tỷ lệ sinh (Becker, 1981; Schultz, 1985, 1994, Sen, 1999). Tỷ lệ
sinh giảm tác động đến tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ sinh thấp hơn làm giảm gánh
nặng nuôi con và tăng tỷ lệ tiết kiệm, và chính tỷ lệ tiết kiệm cao hơn sẽ thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ sinh thấp hơn đồng nghĩa với tỷ lệ dân số trong
độ tuổi lao động tăng lên. Và nếu tất cả các lao động gia tăng thêm đều có việc
làm thì thu nhập tính trên đầu người tăng lên, cho dù năng suất lao động và
lương không tăng. Điều đó có thể đạt được là do số người ăn theo đã giảm. Tác
động này đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Đông
Nam Á trong nhiều năm.
Các phân tích trên cho thấy, bất bình đẳng giới sẽ có tác động lớn đến
chất lượng cuộc sống không chỉ của người phụ nữ mà còn của cả xã hội trên tất
cả các mặt: giáo dục, kinh tế, thu nhập, tuổi thọ Điều đó càng khẳng định,
bình đẳng giới không chỉ đơn thuần là mục tiêu phát triển mang tính chuẩn tắc,
mà còn là động lực thúc đẩy chất lượng cuộc sống của người dân 1 nước. Vì
vậy, trong điều kiện hiện nay, Việt Nam cần thực hiện những thay đổi tích cực
hơn nữa trong việc cung cấp cho phụ nữ việc làm, sự chăm sóc sức khỏe, các
nguồn lực kinh tế, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia nhiều hơn trong các hoạt
động chung của xã hội, trong đó có việc nam giới cần tham gia gánh vác nhiều
hơn nữa công việc nội trợ. Những cải cách tạo ra sự bình đẳng giới sẽ là một
nhân tố chính trong sự phát triển bền vững của đất nước.
22
2. Nguyên nhân
2.1 Nguyên nhân lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng
Các quan niệm xã hội, các tập quán, hủ tục lạc hậu, rồi chế độ phụ quyền
tồn tại từ rất lâu. Quan niệm này đã đè nặng lên cả nam và nữ cho nên người
phụ nữ cũng sống theo kiểu phục tùng. Họ không thấy được là mình cũng có
quyền tự quyết nên bản thân rất tự ti. Có thể nói chính người phụ nữ cũng là
một nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng. Có rất nhiều chị em vẫn thích sinh con

của chị em phụ nữ. Ngày nay, phụ nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều
lĩnh vực như nam giới nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công việc
nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, chăm lo việc họ hàng, trong khi nam
giới chỉ cần đi làm kiếm thu nhập là đủ. Điều này lại không được coi là quá sức
đối với phụ nữ hay bất bình đẳng trong khi họ được coi là "phái yếu". Bởi
mong muốn làm tốt cả hai vai trò, trong khi quỹ thời gian có hạn, phụ nữ phải
gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu nếu muốn có vị trí ngang bằng với
nam giới; hoặc, đây là quyết định của phần đa phụ nữ, hy sinh phát triển nghề
nghiệp để có thời gian chăm sóc gia đình. Rõ ràng, quan niệm của xã hội về
một người phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề
nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em.
Người phụ nữ với thiên chức làm mẹ thường có trái tim dịu dàng, đa cảm
hơn đàn ông. Họ vì muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình nên thường có xu hướng
cam chịu. Do những quan niệm được nhồi vào đầu từ khi còn bé và cũng cho
rằng đó là việc không mấy tốt đẹp để thiên hạ biết nên nhiều phụ nữ ngại không
dám lên tiếng dù bạo hành thường xuyên xảy ra trong gia đình.
Các thành kiến này đã giới hạn cả nam lẫn nữ phái trong những đóng góp
ý nghĩa cho xã hội cũng như những phát triển tiềm năng và ý thích cá nhân. Bứt
tung những ràng buộc của thành kiến là điều quan trọng để có thể phát triển
tiềm năng, thăng tiến xã hội, phá bỏ các trở ngại và tạo cơ hội bình đẳng cho
mọi người, mọi giới.
24
2.2. Nguyên nhân kinh tế của bất bình đẳng giới
Bên cạnh các điều kiện về văn hóa,tôn giáo tín ngưỡng, các thể chế kinh
tế của một nước cũng ảnh hưởng tới các nguồn lực mà nam giới và phụ nữ
được tiếp cận, ảnh hưởng đến các hoạt động mà họ có thể tiến hành và cách
thức họ có thể tham gia vào nền kinh tế. Các thể chế kinh tế gắn liền với các
thị trường và hệ thống cấp bậc, chúng có các tập hợp, quy tắc điều tiết các giao
dịch và tác động tới việc đưa ra các quyết định về tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư,
việc sản xuất và tái sản xuất. Và giống như các hệ thống pháp lý, chúng phản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status