Giáo trình lịch sử Đông Nam Á, trường đại học Đà Lạt - Pdf 12



TRệễỉNG ẹAẽI HOẽC ẹAỉ LAẽT
F 7 G
GIAO TRèNH
LCH S ễNG NAM

(Tỏi bn ln th nht cú sa cha v b sung) BI VN HNG


Lịch sử Đông Nam Á - 2 -
MỤC LỤC

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ ĐÔNG NAM Á 5
I. ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CỦA ĐÔNG NAM Á 5
II. ĐỊA LIÙ KINH TẾ CỦA ĐÔNG NAM Á 6

23
5. CAMPUCHIA TỪ 1945 ĐẾN NAY 28
CHƯƠNG III. LÀO 34
I. ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN CƯ 34
1. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 34
2. DÂN CƯ 34
II. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ LÀO 35
1. LỊCH SỬ LÀO TRƯỚC KHI NHÀ NƯỚC LAN XẠNG RA ĐỜI 35
2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA NHÀ
NƯỚC LAN XẠNG
36
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 3 -
3. THỜI KỲ SUY YẾU VÀ KHỦNG HOẢNG, ÁCH THỐNG TRỊ
CỦA XIÊM, PHÁP VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC
LẬP CỦA NHÂN DÂN LÀO (ĐẦU THẾ KỶ XVIII ĐẾN 1945)
39
4. NƯỚC LÀO TỪ 1945 ĐẾN NAY 42
CHƯƠNG IV. THÁI LAN 48
I. ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN CƯ 48
1. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 48
2. DÂN CƯ 49
II. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CỦA THÁI LAN 49
1. LỊCH SỬ THÁI LAN TRƯỚC KHI CÁC QUỐC GIA SƠ KỲ CỦA
NGƯỜI THÁI RA ĐỜI
49
2. CÁC QUỐC GIA SƠ KỲ CỦA NGƯỜI THÁI 50
3. VƯƠNG QUỐC XIÊM TỪ 1767 ĐẾN 1945 52
4. THÁI LAN TỪ 1945 ĐẾN NAY 56

Lịch sử Đông Nam Á - 4 -
3. SINGAPORE TỪ 1945 ĐẾN NAY 85
CHƯƠNG VIII. INĐÔNÊXIA 87
I. ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN CƯ 87
1. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 87
2. DÂN CƯ 87
II. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ INĐÔNÊXIA 88
1. SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC GIA SƠ KỲ INĐÔNÊXIA 88
2. THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỐC GIA INĐÔNÊXIA (THẾ
KỶ VII-XVI)
90
3. SỰ XÂM LƯC CỦA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY VÀ PHONG
TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA NHÂN DÂN
INĐÔNÊXIA TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVI ĐẾN 1945
91
4. NƯỚC CỘNG HÒA INĐÔNÊXIA TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 98
CHƯƠNG IX. PHILIPPIN 102
I. ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN CƯ 102
1. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 102
2. DÂN CƯ 102
II. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CỦA PHILIPPIN 103
1. LỊCH SỬ PHILIPPIN ĐẾN TRƯỚC NĂM 1521 103
2. SỰ XÂM LƯC VÀ THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN TÂY BAN
NHA ĐỐI VỚI PHILIPPIN (TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ
XIX )
105
3. PHONG TRÀO DÂN TỘC TƯ SẢN PHILIPPIN CUỐI THẾ KỶ XIX
ĐẦU THẾ KỶ XX
109
4. PHILIPPIN TỪ NĂM 1951 ĐẾN NAY 116

khu vực Đông Nam Á hiện nay gồm 11 nước. Đông Nam Á lục đòa gồm 6 nước là
Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma và Malaixia. Đông Nam Á hải đảo
gồm 5 nước là Inđônêxia, Brunei, Singapore, Philippin và Đông Timo.
Đông Nam Á nằm giữa hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương. Do điều kiện vò trí đòa lí như vậy, lẽ ra Đông Nam Á có điều kiện khí hậu
khắc nghiệt, nhưng Đông Nam Á lại là phần chủ yếu và tiêu biểu của khu vực
“Châu Á gió mùa”
2
nên đã giảm bớt những khắc nghiệt của khí hậu cận chí tuyến
và xích đới.
Gió mùa và khí hậu biển đã làm cho Đông Nam Á đáng lẽ khô cằn trở lên
xanh tốt và trù phú. Gió mùa đã tạo nên cho Đông Nam Á hai mùa tương đối rõ
rệt. Mùa khô lạnh mát và mùa mưa tương đối nóng, ẩm. Mùa mưa kéo dài từ tháng
tư đến tháng 11 với những cơn mưa nhiệt đới có quy luật đã cung cấp cho con người
đủ nước dùng trong đời sống và sản xuất trong năm, đồng thời cũng tạo nên những
cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và muông thú. Tuy nhiên, gió mùa
cũng tạo nên sự thất thường với biên độ nhiệt không lớn lắm cho khí hậu trong khu
vực. Mưa nhiệt đới xen kẽ giữa rừng núi, bờ biển và đồng bằng tạo nên cảnh quan
đa dạng với độ ẩm khá cao. Vì vậy, Đông Nam Á thường thiếu những không gian
rộng cho sự phát triển kinh tế, xã hội trên qui mô lớn và nhất là thiếu điều kiện tự
nhiên cho sự phát triển kỹ thuật tinh tế và phức tạp.
Mặc dù có những hạn chế đó, nhưng Đông Nam Á vẫn có những điều kiện
tự nhiên hết sức thuận lợi cho đời sống của con người. Đông Nam Á tỏ ra thích hợp
với sự sinh trưởng của các loại cây trồng và là quê hương của các loại cây gia vò,
hương liệu như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế đàn hương, trầm hương và
cây lúa nước. Đông Nam Á còn là nơi qui tụ nhiều loại động vật phong phú như hổ,

1
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1996, nguồn “Các dân tộc ở Đông Nam Á”, [9]
2

mang tính đặc trưng của khu vực là trống đồng Đông Sơn phân bố rải rác khắp khu
vực.
Do điều kiện đòa lí, Đông Nam Á qua các giai đoạn lòch sử của loài người
vẫn giữ vai trò quan trọng về giao lưu kinh tế tạo ra các quốc gia hưng thònh về
kinh tế và phát triển văn hóa.
Trong thời kỳ gần đây, Đông Nam Á là một trong những khu vực có nền
kinh tế năng động nhất thế giới.
III. ĐỊA LÍ VĂN HÓA CỦA ĐÔNG NAM Á
Đông Nam Á là khu vực tiêu điểm của “Châu Á gió mùa”, nếu nói theo
nghóa đó, vùng văn hóa chung của Đông Nam Á còn bao gồm cả Nam Trường
Giang, Nam Nhật Bản và Đông Ấn Độ. Trước khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa
và Ấn Độ, nền văn hóa truyền thống của khu vực mang đậm dấu ấn nông nghiệp
trồng lúa nước, rau củ. Trên cơ sở mẫu số chung của nền nông nghiệp lúa nước và

1
W.G Solheim: An earlier agricaltural Revolution. Scientific American, 1972, 226 P . 34-41.

Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 7 -
văn hóa xóm làng, cư dân Đông Nam Á đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa
độc đáo.
Trong lónh vực văn hóa vật chất, chiếc nhà sàn với qui mô khác nhau là một
biểu tượng văn hóa thích hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở các đòa hình khác
nhau. Về trang phục, của đàn ông thường chỉ là đóng khố cởi trần, đàn bà có váy
quấn, áo chui đầu. Chiếc khố hình chữ T là hình thức cổ xưa, duy nhất có ở Đông
Nam Á mà chất liệu thường thấy là vỏ cây, da thú hoặc vải thô. Áo ngắn tay với
nam giới và áo cánh đối với nữ giới cũng là một nét rất riêng của cư dân Đông
Nam Á. Chiếc mũ thường được làm từ lông chim hoặc trang trí bằng lông chim là
hình ảnh thường thấy trên các hoa văn của trống đồng Đông Sơn. Cư dân Đông

đáo riêng của từng dân tộc là những di tích lòch sử, công trình văn hóa nổi tiếng
không chỉ của Đông Nam Á mà còn của cả loài người.
IV. DÂN CƯ ĐÔNG NAM Á
Những phát hiện về khảo cổ học đã chứng minh Đông Nam Á là một trong
những cái nôi của loài người. Mặc dù chưa phát hiện được di cốt của người vượn
Hominid Ramapitec niên đại 10 triệu năm như ở Ấn Độ hoặc người vượn Trung
Quốc niên đại 8 triệu năm ở Lộc Phong (Vân Nam), nhưng ở Đông Nam Á, người
ta đã phát hiện được dấu vết hóa thạch của người vượn bậc cao ở Băng Đung
(Pondaung - Inđônêxia) niên đại 40 triệu năm và vượn khổng lồ Meganthropus
Paleojavanicus ở Java (Inđônêxia) niên đại 5 triệu năm. Quá trình Sapiens hóa đã
diễn ra đặc biệt phong phú ở Đông Nam Á.
Từ sau phát hiện của E. ĐuyBoa (Eugéne Dubois) ở Java trong những năm
1891 đến năm 1986, người ta đã tìm thấy khoảng 21 mảnh sọ, 5 hàm dưới và 3 hàm
trên hóa thạch của dạng người Pithecanthropus erectus. Xưa nhất trong số đó là
người Pitecantrop IV (Homo Modjokertensis) có niên đại 2 triệu năm đến
Pithecanthropus muộn hơn, niên đại 500.000 - 900.000 năm trước.
Người ta còn tìm thấy di cốt, mảnh di cốt và những công cụ đồ đá của người
tối cổ của nhiều nước khác trong khu vực như ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai,
Núi Đọ, Quan Yên, Xuân Lộc (Việt Nam), Anyath (Mianma), Pingnoi (Thái Lan),
Tampan (Malaixia), Cabaloan (Philippin), Patgitan (Inđônêxia),
Vào thời đại trung kỳ đá cũ, xuất hiện răng người ở hang Thẩm Ồm (Nghệ
Tónh, Việt Nam), hang Hùm (Lào Cai – Việt Nam), người Homo Sapiens trên bờ
sông Sôlô (Inđônêxia), thuộc giai đoạn tiền Sapiens. Sự xuất hiện người Homo
Sapiens gắn liền với sự hình thành các chủng tộc. Người ta cũng đã phát hiện
xương sọ của một thiếu niên 15-17 tuổi ở Nia (Borneo), niên đại 396.000 năm và
một chỏm sọ ở Tabon (Philippin) cùng niên đại, chứng tỏ quá trình chuyển biến từ
vượn thành người ở Đông Nam Á diễn ra liên tục và trực tiếp. Bên cạnh đó, dấu
vết hóa thạch của người Homo Sapiens còn được tìm thấy ở nhiều nơi như Sơn Vi
(Việt Nam), Sungmas (Sumatra), Maros và Puso (Xulavexi),
Về đại thể, Đông Nam Á là khu vực tiếp giáp giữa hai đại chủng là

di chỉ này khoảng 12.000 năm. Vì vậy, thuật ngữ “Văn hóa Hoà Bình” được dùng
phổ biến để chỉ nền văn hóa sau đá cũ của khu vực Đông Nam Á hay còn gọi là đá
giữa hay đá mới trước gốm hoặc đá mới sơ kỳ. Chủ nhân của nền văn hóa này vẫn
kết hợp săn bắn với hái lượm để tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ thiên nhiên.
Tuy nhiên, nông nghiệp trồng vườn xuất hiện, được coi là sớm nhất của nhân loại.
Ở lớp trên của di chỉ văn hóa Hòa Bình đã xuất hiện những công cụ đá có
mài lưỡi. Loại công cụ này đã được tìm thấy ở trong các hang động Bắc Sơn (Lạng
Sơn - Việt Nam). Ngay sau đó, người ta đã phát hiện được các loại công cụ tương
tự như ở Nia (Sarawak), Guakechin (Malaixia), Bukittalang (Sumatra),
Kemđenglembu (Giava) và thuật ngữ “Văn hóa Bắc Sơn” cũng có thể tiêu biểu
cho giai đoạn đá mới trung kỳ ở Việt Nam và Đông Nam Á, với niên đại khoảng
10.000 năm đến 6000 năm, thuộc loại sớm nhất thế giới. Ở giai đoạn này, gốm và
nông nghiệp trồng rau củ có dấu vết rõ rệt hơn.
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 10 -
Đông Nam Á bước vào giai đoạn đá mới hậu kỳ từ khoảng 6000 năm trước
đây với những công cụ đá có diện mài rộng hơn, đồ gốm và đồ trang sức phong
phú, đẹp đẽ hơn, nhất là việc chuyển từ nông nghiệp trồng vườn sang trồng lúa.
Thể hiện rõ nét ở dấu vết hạt lúa in trên gốm hay trấu trộn trong gốm ở Đông Bắc
Thái Lan có niên đại 6000 năm. Hay bào tử phấn hoa lúa Oryza ở một hay thuộc
văn hóa Bắc Sơn. Hay dao đá cắt lúa ở Thái Lan và liềm đá ở Campuchia.
Rõ ràng, cũng như các khu vực tiên tiến khác trên thế giới, Đông Nam Á đã
có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nông nghiệp trồng rau củ sang nông nghiệp trồng
lúa, từ thuần dưỡng sang chăn nuôi gia súc, kết hợp với sự phát triển nghề làm đồ
gốm và dệt vải. Tuy nhiên, việc hái lượm và săn bắn vẫn có vò trí quan trọng. Điều
đó cho thấy Đông Nam Á là một trong những trung tâm nông nghiệp phát triển và
là một trong những mô hình nông nghiệp chủ yếu trên thế giới.
Do tính chất phân tán của đòa bàn tự nhiên và sự hạn chế dân số đã làm cho
kỹ thuật và nền kinh tế nông nghiệp ở Đông Nam Á chựng lại và mất vò trí dẫn

CÁC VƯƠNG QUỐC ĐÔNG NAM Á
Sau khi vương quốc Phùnam tan rã (thế kỷ VII), một số quốc gia sơ kỳ mới
được thành lập như Srivijaya, Kalinga ở Inđônêxia, quốc gia của người Khmer,
người Môn, người Mianma, người Thái, Những quốc gia Đông Nam Á trong giai
đoạn này thường được xây dựng trên nòng cốt của một bộ tộc đông đảo. Và mặc dù
là bước đầu, song đã xuất hiện những kỳ tích văn hóa, điển hình như tổng thể kiến
trúc Bôrôbua (Borobudur) ở Java.
Giai đoạn này, mỗi tộc người đều cố gắng khẳng đònh chỗ đứng của mình
bằng việc xác lập những vương quốc trên cơ sở một nền kinh tế vững chắc và một
nền văn hóa dân tộc ổn đònh. Các quốc gia phong kiến Đông Nam Á bước vào giai
đoạn phát triển thònh đạt trên nhiều mặt. Nhiều vùng kinh tế quan trọng có khả
năng cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm lớn, không những đủ chi dùng cho cư
dân khu vực mà còn xuất ra các khu vực khác trên thế giới. Nhiều công trình văn
hóa, nghệ thuật, nhiều nhà tư tưởng, chiến lược gia kiệt xuất của loài người xuất
hiện, đóng góp vào kho tàng văn hóa của loài người. Đây cũng là giai đoạn Đông
Nam Á vừa tiếp thu, vừa lan tỏa ra bên ngoài khu vực những giá trò lớn về văn hóa.
Các nhóm ngữ tộc trên con đường xác lập vương quốc riêng của mình cũng
khác nhau. Người Môn, rút cục đã không thể đứng vững để duy trì vương quốc của
họ trong cơn bão táp thiên di của người Thái, Mianma từ phương Bắc xuống. Nhóm
cư dân nói tiếng Mã Lai. Đa đảo đã lập nên vương quốc cổ Champa khá sớm,
nhưng đến thế kỷ XV-XVII đã bò chuyển hóa thành một bộ phận của nước Việt
Nam. Một bộ phận khác ở bán đảo Malaya đã lập ra các tiểu quốc nhưng mãi đến
thế kỷ XV, dưới ảnh hưởng của văn minh hồi giáo, hồi quốc Malacca mới tương đối
hùng mạnh ảnh hưởng ra cả bán đảo và một phần Sumatra. Một bộ phận khác của
nhóm này đã trở thành nòng cốt xây dựng một số quốc gia sơ kỳ trên các đảo ở
Inđônêxia.
Mặc dầu phát triển không đồng đều: Campuchia lớn mạnh từ thế kỷ IX và
suy thoái vào thế kỷ XIV; các quốc gia Thái, Lào hình thành muộn hơn (từ thế kỷ
XIII đến thế kỷ XIV), nhưng nhìn chung, thế kỷ XVI là bước ngoặt suy thoái của
các vương quốc Đông Nam Á.

Philippin. Sau cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản, các cường
quốc tư bản dần dần thay thế đòa vò của Bồ Đào Nha và đặt Đông Nam Á dưới chế
độ thuộc đòa của nó. Tây Ban Nha cai trò Philippin gần 3 thế kỷ và phải nhường cho
Mỹ vào đến thế kỷ XX. Hà Lan thay thế đòa vò của Bồ Đào Nha ở Inđônêxia từ thế
kỷ XVII. Anh xác lập quyền đô hộ của mình ở bán đảo Malaya, Mianma. Pháp ở
Đông Dương và phân chia quyền lực với Anh ở Thái Lan.
Nhân dân các nước Đông Nam Á cũng không ngừng nổi dậy đấu tranh
chống chủ nghóa thực dân phương Tây. Trong giai đoạn từ đầu đến giữa thế kỷ
XIX, phong trào dân tộc các nước Đông Nam Á diễn ra dưới ngọn cờ của giai cấp
đòa chủ phong kiến. Từ giữa thế kỷ XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ hai, phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc các nước Đông Nam Á diễn ra dưới ngọn cờ lãnh
đạo của giai cấp tư sản và công nhân thuộc đòa.
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 13 -
4. ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Vào những năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghóa phát
xít thất bại liên tiếp trên khắp các chiến trường. Ở Đông Nam Á, phong trào đấu
tranh chống phát xít Nhật diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú, đều thu
được những thắng lợi quan trọng. Ở nhiều nước, cách mạng giải phóng dân tộc
thắng lợi, dẫn đến sự ra đời của các nhà nước độc lập. Nhưng ngay sau đó, các thế
lực đế quốc lấy danh nghóa giải giáp vũ khí của quân Nhật đã nhảy vào Đông Nam
Á, đàn áp các lực lượng yêu nước và lập lại ách thống trò trước đây.
Ở Đông Dương, thực dân Pháp quay lại tiến hành cuộc chiến tranh tàn khốc,
ròng rã 9 năm trời. Ở Inđônêxia, thực dân Hà Lan tái xâm lược kéo dài đến năm
1949 mới chấm dứt. Ở Malaixia, thực dân Anh quay lại chiếm đóng đến năm 1957
mới kết thúc. Ở Mianma, thực dân Anh cũng âm mưu lập lại ách thống trò đến năm
1947 mới rút quân. Ở Philippin, đế quốc Mỹ thông qua các hiệp đònh “viện trợ”
quân sự và kinh tế để đặt lại các căn cứ quân sự.
Sau thất bại của Pháp tại chiến trường Đông Dương (1954), Mỹ nhảy vào

Buứi Vaờn Huứng Khoa Lũch sửỷ

Lịch sử Đông Nam Á - 15 -
CHƯƠNG II. CAMPUCHIA

I. ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN CƯ
1. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Campuchia là một nước thuộc bán đảo Đông Dương, Bắc giáp Lào, Đông
giáp Việt Nam, Tây và Tây Bắc giáp Thái Lan, phía Nam là vònh Thái Lan, diện
tích Campuchia là 181.035km
2
, dân số năm 1996 là 10,25 triệu người. Về hình thể
Campuchia, nhìn trên bản đồ, có người ví như một tấm lưới đang tung ra, ở giữa là
biển hồ Tônlêsap trông giống như một con cá. Các nhà đòa lí Campuchia ví đất
nước mình như một cái chảo, mà Tônlêsap và vùng quanh vùng bờ hồ là lòng chảo,
còn dãy núi Đăngrếch ở phía Bắc, dãy Đậukhấu ở phía Nam và cao nguyên Basan
ở phía Đông thì tạo nên vành chảo.
Biển hồ Tônlêsáp là một trong những nơi có mật độ cá dày đặc nhất thế
giới. Đồng bằng Campuchia không nhiều, chỉ có Bátđomboong ở phía Tây là tương
đối bằng phẳng và phì nhiêu. Vùng trung lưu sông Mêcông và sườn dốc quanh Biển
hồ là có thể trồng lúa nhưng hẹp và không màu mỡ. Cư dân Khmer cổ canh tác chủ
yếu ở cao nguyên Còrạt (nay thuộc Thái Lan) là một đòa bàn hẹp và thiếu nước, bù
lại, đất trồng cây ăn quả khá nhiều.
Rừng núi ở Campuchia bao quanh đất nước, chứa đựng nhiều gỗ quý, các

văn hóa đá mới ở miền Nam Campuchia, R.Murê (R.Mourer) khai quật khu di chỉ
Laangspean (Batđomboong) phát hiện nhiều công cụ đá, gốm thô sơ dạng văn hóa
Hòa Bình, niên đại khoảng trên 4000 năm TCN. Ở hai di chỉ Samrôngxen và
Andlongpdau thuộc Tây Nam Biển hồ có niên đại 1000 năm TCN, người ta cũng
tìm thấy nhiều rìu mài, đồ gốm và hiện vật đồng thau có liên hệ với Laangspean và
Còrạt. Ở Mluprây người ta cũng phát hiện ra một cụm di chỉ đồng thau và sơ kỳ đồ
sắt. Như vậy, ở Campuchia đã diễn ra một quá trình phát triển liên tục từ thời đá cũ
đến thời đại kim khí ở đòa bàn chủ yếu ven trung lưu sông Mêcông và lưu vực sông
Sêmun.
Dưới tác động của văn hóa Ấn Độ, từ thế kỷ V đến thế kỷ VI, ở ngã ba
sông Mêcông và Sêmun đã hình thành quốc gia sơ kỳ Campuchia
2
. Theo các tài
liệu sau này, người ta biết rằng vương quốc này có tên là Bhavapura, người Trung
quốc gọi là Chânlạp. Người sáng lập ra vương quốc này có tên là Bhavavarman.
Ông đã chấm dứt sự lệ thuộc vào Phùnam. Em trai ông là Mahendravarman
(khoảng 600-620) bắt đầu tấn công Phùnam. Tổ chức nhà nước Campuchia thời kỳ
này còn đang ở trạng thái sơ khai. Từ 620 đến 650, vua Isanavarman tiếp tục chinh
phục xuống phía Nam, tiến đánh Phùnam ở tận Naravara (An Giang-Việt Nam).
Sự thắng lợi của vương quốc Campuchia đã mở đường cho cuộc Nam tiến
lần thứ nhất của tộc Khmer, hình thành bộ phận Khmer phía Nam trên lãnh thổ
Phùnam cũ
3
. Kinh đô của vương quốc do Isanavarman lập ra ở bên bờ sông

1
Lương Ninh: Lòch sử trung đại thế giới Q2. NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 4-1984, Trang 68-69

2
Dựa vào một số di tích cổ và bia chữ Phạn tìm thấy được ở khu vực này

Campuchia sơ kỳ bước vào giai đoạn khủng hoảng từ sau khi vua
Jayavarman chết (650-680). Hoàng hậu Jayadevi nắm quyền từ năm 681 đến năm
713 đã gây ra tình trạng bất bình trong giới quý tộc và quan lại. Năm 713,
Puskaraksa đã truất quyền nữ hoàng tự lập làm vua và dời kinh đô tới Sambaur,
trên bờ sông Mêkông và đặt tên là Sambhupura. Cùng thời gian đó, một bộ phận
Khmer gốc đã lập vương quốc riêng trên lưu vực sông Sêmun. Hai vương quốc này
lấy dãy núi Đăngrếch và thác Khổng làm đòa giới tự nhiên. Vương quốc
Campuchia bò phân liệt gần một thế kỷ, năm 774 bò vương triều Núi ở Java tấn
công và chiếm đóng phần lãnh thổ phía Nam.
Sự hình thành và bước đầu phát triển của vương quốc Campuchia sơ kỳ
phản ánh những cố gắng đầu tiên trong việc quy tụ và mở rộng đòa bàn cư trú của
người Khmer. Mặc dù có sự chia cắt, song sự thành lập vương quốc lại là một yếu

1
Trích theo Lương Ninh, Sđd, trang 83,84.
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 18 -
tố xúc tác quan trọng nhất cho sự trao đổi và liên kết giữa các vùng, là tiền đề cho
sự phát triển vững chắc của giai đoạn sau.
2. SỰ KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG QUỐC
CAMPUCHIA (802 - 1181)
Sau khi đánh dẹp được các thủ lónh cát cứ và quân đồn trú Java, vào năm
802, một hoàng thân Khmer đã lên ngôi vua với vương hiệu là Jayavarman II. Chỉ
trong một năm, Jayavarman II đã khôi phục được vương quốc trên lãnh thổ miền
Nam, tức là vùng xung quanh Tônlêsáp và thềm cao của hạ lưu sông Mêcông.
Vương triều Jayavarman kéo dài từ năm 802 đến năm 944, có tất cả 8 đời
vua. Nhà vua vừa là người đứng đầu giáo hội được thần thánh hóa, vừa là người có
quyền hành cao nhất của nhà nước. Các tăng lữ Bàlamôn giữ những chức vụ cao
quý. Sau nhiều lần chọn đòa điểm xây dựng kinh đô, cuối cùng Jayavarman II đã

Lịch sử Đông Nam Á - 19 -
Campuchia tấn công Champa nhiều lần trong những năm 1145 đến 1149 và cử
hoàng thân Campuchia cai trò trực tiếp; 5 lần tấn công Đại Việt vào các năm 1128,
1129, 1132, 1138 và 1150. Ở phía Tây, Suryavarman I (1002-1050) hoàn thành việc
chinh phục vùng Trung và Hạ lưu sông Chaophya (Mênam) và củng cố quyền lực
của vương quốc trên cao nguyên Còrạt.
Về kinh tế, hệ thống thủy lợi được xây dựng hoàn chỉnh, sản xuất nông
nghiệp ổn đònh, việc buôn bán trong nước và nước ngoài phát triển, nhất là quan hệ
với Trung Quốc (nhà Tống) và Việt Nam (Lý). Dân cư gia tăng không ngừng.
Về văn hóa, Ấn Độ giáo tiếp tục được tôn sùng, trong khi Phật giáo Tiểu
thừa bắt đầu xâm nhập. Suryavarman (1130 - 1150) đã xây dựng lại kinh đô ngco
gọi là ngco Vat (ngco II). Nhiều đền tháp bằng đá vào loại kỳ vó nhất thế giới
được xây dựng.
Năm 1165, Tribhuvanadi cướp ngôi vua, làm cho tình trạng Campuchia rối
ren. Vua Champa là Jaya Indravarman IV mang quân tấn công và chiếm đóng
Campuchia. Mãi đến năm 1181, Jayavarman VII mới giành lại được độc lập, mở
đầu thời kỳ hưng thònh mới của vương quốc Campuchia.
3. SỰ THỊNH ĐẠT VÀ BƯỚC ĐẦU SUY THOÁI CỦA VƯƠNG
QUỐC CAMPUCHIA (1181-1434)
Sau khi khôi phục quyền độc lập, Jayavarman VII đã tích cực tổ chức lại bộ
máy hành chính, xây dựng lại cung điện, đền thờ đã bò phá hủy trong chiến tranh,
củng cố lực lượng quân sự chuẩn bò mở những cuộc chiến tranh bành trướng ra bên
ngoài.
Năm 1190, Jayavarman VII tấn công Champa, biến Champa thành một tỉnh
của Campuchia. Ông tiến hành chinh phục toàn bộ vùng lưu vực sông Mênam. Ông
cũng đã mở rộng biên giới tới tận Luôngphabăng (Lào). Như vậy, lãnh thổ
Campuchia thời Jayavarman VII, phía Đông tới biển, phía Bắc giáp giới Trung
Quốc và Đại Việt, phía Tây tới Mianma.
Cả vương quốc chia làm 90 tỉnh
1

nghiệp Khmer trồng lúa theo thời vụ và thu hoạch một phần là “lúa trời” như ở
Nam bộ Việt Nam. Gạo còn làm vật trung gian trao đổi và nộp thuế. Tuy nhiên, kỹ
thuật khá lạc hậu, ruộng chủ yếu là độc canh, chưa dùng bò kéo, chưa bón phân.
Thủ công nghiệp của cư dân Khmer cũng khá phát triển về các nghề làm
gốm, dụng cụ gia đình, dệt vải bằng sợi bông, đóng xe bò kéo, thuyền gỗ, đồ dùng
và đồ trang sức quý, nhất là kỹ thuật xây dựng đền tháp tuyệt vời. Tuy nhiên, kỹ
thuật thủ công còn ở trình độ thấp.
Mặc dù có các loại sản phẩm của nước ngoài như là đồ sứ, lụa, sơn mài, vải
gai, vàng bạc, dụng cụ bằng đồng của Trung Quốc, song rất ít tài liệu ghi chép về
thương mại Campuchia giai đoạn này. Tường Bayon có bức phù điêu miêu tả cảnh
chợ búa: người bán rượu, bán cá, chọi gà, đánh cờ.
Sản vật tự nhiên phong phú như cá ở Biển hồ, muông thú phong phú ở rừng,
“lúa trời” và các loại cây rau cỏ, bầu bí, gỗ quý, sáp ong, ngà voi, sừng tê, đậu
khấu, cánh kiến, hồ tiêu, chính là điều kiện tốt nhất để giúp cho cư dân Campuchia
có cuộc sống ổn đònh và phát triển.
Đáng chú ý nhất là, bằng sức lao động và khả năng sáng tạo của mình,
người Khmer đã tạo nên những công trình thủy lợi to lớn bên cạnh những ngọn tháp
hùng vó. Tiêu biểu nhất là hai hồ Baray Đông thời Yasovarman I (7000mx12000m)
và Baray Tây thời Udayadityavarman II (8000m x 2200m) để trữ nước, khắc phục
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 21 -
hạn hán và lũ lụt. Ngoài ra còn có khá nhiều hồ lớn, nhỏ và hệ thống kênh mương
dẫn nước để bảo vệ đất khỏi bò sói mòn, giao thông vận tải hữu hiệu.
Về xã hội: nông dân là bộ phận chủ yếu trong xã hội Campuchia. Họ là lực
lượng sản xuất chính, vừa tạo ra sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp thậm chí
cả trao đổi sản phẩm và đồng thời cũng là lực lượng chính tạo nên những công trình
thủy lợi, kiến trúc vó đại. Hầu hết nông dân Campuchia thời kỳ này đều là người tự
do, sống theo từng làng, dưới dạng công xã nông thôn, sự phân hóa giàu nghèo,
quyền chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã xuất hiện thể hiện qua “Chânlạp phong

Lịch sử Đông Nam Á - 22 -
trọng và là nền tảng của đời sống tinh thần của nhân dân Khmer. Các tôn giáo lớn
ảnh hưởng mạnh mẽ ở vương quốc Campuchia. Ấn Độ giáo thònh hành ở
Campuchia. Đến thế kỷ XI, Phật giáo Đại thừa gia tăng ảnh hưởng và đến
thờiJayavarman VII được coi là quốc giáo. Đến thế kỷ XIII, Phật giáo Tiểu thừa
bắt đầu gia nhập và thay thế dần đòa vò các tôn giáo khác. Tuy nhiên các giáo phái
khác nhau vẫn tồn tại và hoạt động yên ổn bên cạnh nhau như đặc tính của phương
Đông vậy.
Nghệ thuật kiến trúc Campuchia với hàng trăm đền tháp lớn nhỏ là minh
chứng rõ ràng cho tài năng đặc biệt của người Khmer. Trong đó nổi bật lên hai
công trình là Ăngco Vát và Ăngco Thom là niềm tự hào và kiêu hãnh của nhân dân
Campuchia.
Ăngco Vát (Ăngco II) là một tổng thể kiến trúc bằng đá gồm 5 ngôi tháp
chạm khắc công phu đặt trên một bệ cao hình chữ nhật 187m x 215m, đỉnh cao nhất
là 63m. Xung quanh là hào nước chiều rộng 200m, chu vi 5,5km, đều lát đá 18 bậc
cao. Bao bọc khu vực là bức tường cao bằng đá ong và sa thạch có các tháp đặt tại
4 góc. Hoa văn và tượng thần đều nhằm mục đích thờ thần Vishnu và Siva.
Ăngco Thom (Ăngco III) là một tổng thể kiến trúc nổi bật lên bằng 49 ngọn
tháp 4 mặt đặt trong một khuôn viên đồ sộ gấp 4 lần Ăngco Vát, có 2 lần tường
thành bao bọc hình vuông, mỗi cạnh 4 km. Năm con đường đất nổi đi qua 5 cổng đồ
sộ, mỗi cổng đều có tháp, hai bên đường là lan can dưới hình thức những người
khổng lồ dùng đầu gối đỡ một con rắn có bảy chiếc đầu xòe ra như cánh quạt, ở
mỗi đầu của con đường đắp nổi. Ở trung tâm Ăngco Thom là ngôi đền Bayon hình
kim tự tháp, đỉnh bằng vàng, bốn mặt người khổng lồ. Các phiến đá chồng lên nhau
không hề có xi măng. Vách tường là chân dung của Jayavarman VII dưới hình thức
Bồ tát Đại thừa Avalokitesvara.
Phong tục tập quán xa xưa của người Khmer được Chu Đạt Quan kể lại như
lễ sơ sinh, lễ trưởng thành cho con gái tuổi 14 gồm nhiều bước như vào phòng the
(chol - molup), cắt búi tóc, học cư sử (chap - srey), học nữ công, phong tục cưới xin,
ma chay, lễ cúng tổ tiên (pchum - ben), các nghi thức ngày tết (cholchram - thmây).

xác. Em trai của Srey là Thommo Reachea đã bí mật liên hệ với người Thái. Năm
1475, Thommo được quân Thái đưa lên ngôi nên đã chấp nhận sự bảøo hộ của người
Thái. Vua Srey và Soryotei bò bắt đưa về Ayutthaya. Đầu thế kỷ XVI, vương quốc
Campuchia bò chia làm ba phe lại tranh chấp nhau dữ dội. Năm 1529, Angchan
thắng thế dẹp yên các đối thủ lên ngôi vua và dời đô về Lôvếch. Cuộc chiến tranh
chống Ayutthaya xâm lược vẫn diễn ra vào các năm 1525, 1540, 1588, 1590,
1593,1595. Kết quả, vương triều Campuchia giữ quan hệ thần phục người Thái.
Năm 1618, vua Cheychetta II lên ngôi (1618-1628). Năm 1620, ông đònh đô ở
ông và kết hôn với công chúa Ngọc Vạn, con chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Việt
Nam), nhằm tìm chỗ dựa mới để khôi phục nền tự chủ. Từ đây, Campuchia đặt
dưới sự tranh giành ảnh hưởng của Xiêm và Việt. Khủng hoảng triều chính diễn ra
thường xuyên và sâu sắc: thế kỷ XVI có 13 đời vua, thế kỷ XVIII có 17 đời vua thì
có 7 người bò giết, 3 người bò lật đổ, 4 cuộc bạo động lớn của quý tộc. Cuối thế kỷ
XVIII, Xiêm giành được quyền bảo hộ ở Campuchia. Năm 1792, Xiêm đưa Angeng
về làm vua ở Campuchia. Hai năm sau ông chết, Campuchia không có vua. Đến
năm 1806, Xiêm mới đưa con ông là Angchan lên ngôi và sắp đặt quan chức cho

1
Theo D.G.E Hall : “Lòch sử Đông Nam Á”- Nhà xuất bản chính trò Quốc gia Hà Nội 1997 thì kinh đô Ăêngko bò bỏ rơi vào
năm 1444. Trang 204 - 212.

Bùi Văn Hùng Khoa Lòch sử

Lịch sử Đông Nam Á - 24 -
Campuchia. Angchan mượn quân Nguyễn để loại bỏ ảnh hưởng của Xiêm thành
công. Năm 1834, Angchan chết, triều đình Huế đưa con gái ông là Angmay lên
ngôi. Chiến tranh Xiêm - Việt nổ ra đến 1874, hai bên thỏa thuận đưa Angđuông
(thân Xiêm) lên ngôi. Năm 1860, Angđuông chết, con ông là Angvôtây được Xiêm
đưa về làm vua, hiệu là Nôrôđôm. Xung đột lớn giữa Angphim (Sivôtha) và
Nôrôđôm diễn ra gay gắt. Tháng 7- 1863, chiến hạm Gia Đònh do quan ba

Lịch sử Đông Nam Á - 25 -
Đơn vò hành chính xã hội chủ yếu là khum, phum (ấp, làng), đứng đầu là lý
trưởng do dân bầu. Pháp luật nhà vua chỉ đến huyện, tỉnh (xrốc, khét) mà không
thể tới làng xã.
Giai cấp đòa chủ phong kiến chủ yếu sống bằng bóc lột lao động thặng dư của
nông dân, dựa trên đòa vò là thân tộc và được nhà vua ban cấp bổng lộc. Lực lượng
này lệ thuộc ngôi vua chặt chẽ hơn nhiều so với thời kỳ Ăngko. Cũng vì thế giai
cấp đòa chủ phong kiến Campuchia hầu như tách rời khỏi sản xuất, rời bỏ trách
nhiệm đối với việc điều hành sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân. Đó cũng là
lý do mà các cuộc tranh giành đòa vò, quyền lợi trong giai cấp phong kiến diễn ra
thường xuyên.
Giai cấp nông dân chủ yếu là nông dân công xã nhưng không có sự quản lý
và phân phối ruộng đất của công xã, không cần có sự điều hành sản xuất và hoạt
động thủy lợi của nhà nước. Ngoài việc phải nộp thuế và lao dòch, nông dân
(neakchea) không có mối liên hệ gì với bên ngoài. Thời kỳ này ít khi có hiện tượng
kiêm tính ruộng đất, tranh chấp nhỏ cũng không xảy ra do đặc điểm dân cư thưa
thớt, ruộng đất dư thừa.
Một bộ phận dân cư là những người không có quyền tự do gồm nô lệ (pol,
teaskar và một số nông dân lệ thuộc neakngea) mà phần lớn là người phạm tội.
Tầng lớp công, thương hầu như không chuyên nghiệp do đặc điểm nền kinh tế
Campuchia thời kỳ này đóng kín, tự cấp, tự túc.
Về văn hóa: nhìn chung, dân cư Khmer vẫn tiếp tục duy trì và phát triển ở
mức độ chậm chạp những giá trò văn hóa, vật chất, tinh thần thời kỳ trước. Nhưng ở
giai đoạn này, nét nổi bật của văn hóa Campuchia là văn hóa xóm làng.

Sự xâm lược của thực dân pháp và phong trào đấu tranh nhân dân
Campuchia (1863-1945)
Trước khi thực dân Pháp xâm lược Campuchia, các giáo só Pháp đi đầu là
Luisơvơrơi (Louis Chevereuil) lập ra Hội “truyền bá niềm tin”, hoạt động ở ông
trong 3 năm (1662-1665). Mặc dù không có kết quả, song các giáo só Pháp vẫn duy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status