Luận văn tốt nghiệp
①
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Hoạt động khai thác Bảo
hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công
ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long trong
giai đoạn 2003-2007”
Luận văn tốt nghiệp
②
1.2.2.3. Đánh giá rủi ro 21
1.2.2.4. Đề ra các biện pháp hỗ trợ 22
1.2.2.5. Đánh giá rút kinh nghiệm 23
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khai thác bảo hiểm 23
1.2.3.1. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác 24
1.2.3.2. Phân tích cơ cấu khai thác 24
Luận văn tốt nghiệp
③1.2.3.4. Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác 25
1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động khai thác 26
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC
RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG
LONG (2003-2007) 27
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG
(PVI THĂNG LONG) 27
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 27
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 28
④3.1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC
BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT CỦA CÔNG TY BẢO
HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG 61
3.1.1. Về phía nhà nước 61
3.1.2. Về phía Hiệp hội bảo hiểm 62
3.1.3. Về phía công ty bảo hiểm 63
3.1.3.1. Đối với Tổng Công ty CP Bảo hiểm Dầu Khí Việt nam 63
3.1.3.2. Đối với Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long 64
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI
RO ĐẶC BIỆT CỦA PVI THĂNG LONG 65
3.2.1. Mục tiêu 65
3.2.2. Định hướng chiến lược 66
3.2.3. Giải pháp 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO iii
PHỤ LỤC 1 (Hợp đồng Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt) iv
Bảng 2.6: Hiệu quả khai thác bảo hiểm Cháy và các RR ĐB tại PVI
Thăng Long (2003-2007) 55
Luận văn tốt nghiệp
iiDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KD : Kinh doanh
TBH : Tái Bảo hiểm
CN : Chi nhánh
KT : Bộ phận Kế toán
KTCN : Bộ phận kế toán chi nhánh
GCNBH : Giấy chứng nhận bảo hiểm
SĐBS : Sửa đổi bổ sung
PVI : Bảo hiểm Dầu khí
PVI Thăng Long : Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long
RRĐB : Rủi ro đặc biệt
PCCC : Phòng cháy chữa cháy
KV : Khu vực
ĐL : Đại lý
MG : Môi giới
CBKT : Cán bộ khai thác
GTBH : Giá trị bảo hiểm
STBH : Số tiền bảo hiểm
MTN : Mức trách nhiệm
HĐBH : Hợp đồng bảo hiểm
đặc biệt, tôi đã nghiên cứu về loại hình bảo hiểm này với đề tài: “Hoạt động
khai thác Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Thăng Long trong giai đoạn 2003-2007”
Nội dung của chuyên đề bao gồm 3 phần:
Chương I: Lý thuyết cơ bản về Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
& hoạt động khai thác bảo hiểm.
Chương II: Hoạt động khai thác Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc
biệt tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long (giai đoạn 2003-2007).
Chương III: Một số đề xuất làm tăng hiệu quả khai thác bảo hiểm
Cháy và các rủi ro đặc biệt của Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long.
Em xin chân thành cảm ơn cô Tôn Thị Thanh Huyền đã hướng dẫn em
hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này!
Luận văn tốt nghiệp
3CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM
CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT & HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC BẢO HIỂM
1.1. LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO
ĐẶC BIỆT
1.1.1. Sự cần thiết của Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Cháy, theo luật Phòng cháy chữa
cháy, Cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể
gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường.
Khi Cháy xảy ra thì thường để lại những hậu quả rất nặng nề cho chúng
ta. Theo con số thống kê, trong 5 năm từ năm 2002 đến năm 2006, trên cả nước
người được bảo hiểm còn được tư vấn và hỗ trợ về việc quản lý rủi ro, các biện
pháp phòng cháy chữa cháy hữu hiệu từ phía Nhà bảo hiểm.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ
phần ngày càng nhiều, theo đó sự tự chủ của các doanh nghiệp cũng ngày một
cao. Họ tự tìm lối đi cho mình và cũng rất cần có một sự bảo đảm cho chính
bản thân doanh nghiệp họ. Bởi trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn tiềm
ẩn nhiều nguy cơ đe dọa, như: cháy, bão lũ, đình công, nổi loạn… Đối với các
cá nhân, các hộ gia đình, trong cuộc sống hàng ngày của họ cung luôn phải tiếp
xúc với các nguồn rủi ro khác nhau, như: nổ gas, chập điện… Bên cạnh việc
thiết lập hệ thống an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, một Đơn bảo hiểm
Luận văn tốt nghiệp
5Cháy và các rủi ro đặc biệt có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội, bản thân
doanh nghiệp, các cá nhân và hộ gia đình.
Bảo hiểm cháy đã ra đời từ rất lâu. Lịch sử ra đời của loại hình bảo hiểm
này được bắt nguồn từ một vụ cháy lớn ở thành phố LonDon cổ vào năm 1666,
vụ cháy đã thiêu trụi 13.000 dãy nhà và 87 nhà thờ của thành phố này. Khi mới
ra đời, các công ty bảo hiểm chỉ đảm bảo cho hậu quả của sự cố “hoả hoạn” gọi
là bảo hiểm cháy đơn thuần.
Trước nhu cầu của nhiều khách hàng muốn được bảo hiểm chống lại các
rủi ro đặc biệt, có mức độ tổn thất tương tự hoả hoạn với giá phí thấp và thể
thức đơn giản, các công ty bảo hiểm đã phải thiết kế các bản Hợp đồng bảo
hiểm (HĐBH) phối hợp giữa rủi ro hoả hoạn và các rủi ro khác như: đa rủi ro
nhà ở, đa rủi ro doanh nghiệp hoặc tổ chức nghề nghiệp Do đó Bảo hiểm
cháy dần dần đã được kết hợp thêm bảo hiểm cho các rủi ro đặc biệt.
Ở Việt Nam, Nghiệp vụ bảo hiểm cháy được triển khai từ cuối năm
1989. Ngày nay đã có rât nhiều doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh sản phẩm
bảo hiểm cháy và còn mở rộng thêm phạm vi bảo hiểm là các rủi ro đặc biệt
sản xuất.
- Các loại tài sản khác như: kho, bãi, nhà hàng khách sạn…
Theo nghị định 35/2003/NĐ-CP, danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy,
nổ tại phụ lục 1 là những đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm Cháy nổ.
1. Cơ sở sản xuất vật liệu nổ, cơ sở khai thác, chế biến dầu mỏ và sản
phẩm dầu mỏ, khí đốt; cơ sở sản xuất, chế biến hàng hoá khác cháy được có
khối tích từ 5.000 m
3
trở lên.
Luận văn tốt nghiệp
72. Kho vật liệu nổ, kho dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kho khí đốt hoá
lỏng; cảng xuất nhập vật liệu nổ, cảng xuất nhập dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ,
cảng xuất nhập khí đốt hoá lỏng.
3. Cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí đốt hoá lỏng.
4. Nhà máy điện; trạm biến áp từ 110 KV trở lên.
5. Chợ kiên cố, bán kiên cố thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của ủy
ban nhân dân cấp huyện trở lên; các chợ kiên cố, bán kiên cố khác, trung tâm
thương mại, siêu thị, cửa hàng bách hoá có tổng diện tích các gian hàng từ
300m
2
trở lên hoặc có khối tích từ 1.000 m
3
trở lên.
6. Nhà ở tập thể, nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 5
tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m
3
trở lên.
3
trở lên.
15. Hầm mỏ khai thác than và các khoáng sản khác cháy được; công
trình giao thông ngầm có chiều dài từ 400 m trở lên; công trình trong hang hầm
trong hoạt động có sản xuất, bảo quản, sử dụng chất cháy, nổ và có khối tích từ
1.000 m
3
trở lên.
16. Cơ sở và công trình có hạng mục hay bộ phận chính nếu xẩy ra cháy
nổ ở đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ cơ sở, công trình hoặc có tổng
diện tích hay khối tích của hạng mục, bộ phận chiếm từ 25% tổng diện tích trở
lên hoặc khối tích của toàn bộ cơ sở, công trình mà các hạng mục hay bộ phận
đó trong quá trình hoạt động thường xuyên có số lượng chất nguy hiểm cháy,
nổ thuộc một trong các trường hợp sau đây :
a) Khí cháy với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5%
thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc có từ 70 kg khí cháy trở lên;
b) Chất lỏng có nhiệt độ bùng cháy đến 61
0
C với khối lượng có thể tạo
thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc
các chất lỏng cháy khác có nhiệt độ bùng cháy cao hơn 61
0
C với khối lượng từ
1.000 lít trở lên;
Luận văn tốt nghiệp
9c) Bụi hay xơ cháy được có giới hạn nổ dưới bằng hoặc nhỏ hơn 65 g/m
3
a. Rủi ro được bảo hiểm
Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm Các rủi ro chính và các rủi ro đặc
biệt.
•
Rủi ro chính: thực chất là những rủi ro : Cháy, sét và nổ.
Rủi ro “cháy” sẽ được bảo hiểm nếu hộ tụ đủ ba yếu tố: Phải thực sự
có phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dùng, lửa đó phải là lửa bất ngờ
hay ngẫu nhiên phát ra. Khi có đủ 3 yếu tố đó và có thiệt hại về vật chất, những
thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó là do bị cháy, do nhiệt hay do khói
gây nên.
Sét: Với rủi ro này, Người được bảo hiểm sẽ được bồi thương khi tài
sản bị phá hủy trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây cháy. Nếu sét đánh mà
không phát lửa hoặc không pha hủy trực tiếp tài sản thì không thuộc trách
nhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm. Ví dụ: Khi sét đánh làm phá hủy trực
tiếp các thiết bị điện tử thì sẽ được bối thường, còn nếu sét đánh làm thay đổi
dòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện tử thì sẽ không được bồi thường.
Nổ: nổ do những nguyên nhân sau thì Người được bảo hiểm sẽ được
bồi thường.
+ Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt như: nồi áp suất,
+ Nổ hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôi
nhà (không phải nhà xưởng) làm các công việc sử dụng hơi đốt, ví dụ
như: Nổ khí gas,…
+ Bất kỳ thiệt hại nào do nổ gây ra cháy.
•
Các rủi ro đặc biệt
Bên cạnh các rủi ro chính là cháy, sét và nổ, còn có các rủi ro đặc biệt có
thể được bảo hiểm nếu Người được bảo hiểm yêu cầu và đồng ý nộp phí bảo
hiểm tăng lên. Các rủi ro đặc biệt bao gồm: Nổi loạn, đình công, bạo loạn dân
Luận văn tốt nghiệp
11
+ Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào trừ
thiệt hại về tiền thuê nhà nếu tiền thuê nhà được xác nhận trong Giấy chứng
nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
+ Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba.
+ Những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường.
Bất kỳ tổn thất nào (dù là tổn thất trực tiếp hay chi phí có liên quan
hay tổn thất có tính chất hậu quả) trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra
có liên quan đến:
+ Phóng xạ ion hóa hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hay từ
chất thải hạt nhân do đốt cháy nhiên liệu hạt nhân.
+ Các thuộc tính phóng xạ, độc, nổ, hoặc các thuộc tính nguy hiểm khác
của thiết bị nổ hạt nhân hay các bộ phận của thiết bị đó.
1.1.2.3. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
a. Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá trị thực tế hoặc giá trị mua mới của tài
sản được bảo hiểm. Có nghĩa là đối với các tài sản mới mua chưa qua sử dụng,
thì GTBH của tài sản đó chính là giá trị mua mới của tài sản đó trên thị trường.
Còn đối với các tài sản đã đi vào sử dụng thì GTBH của nó được tính bằng giá
trị thực tế hay giá trị còn lại của tài sản đó tại thời điểm tham gia bảo hiểm.
Giá trị thực tế = Giá trị mua mới (Nguyên giá) – Hao mòn
Những tài sản tham gia loại bảo hiểm này thường có giá trị rất lớn, như:
các công trình lớn, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, phương tiện vận tải, hàng hóa
trong kho…
Luận văn tốt nghiệp
13Đối với các công trình xây dựng (nhà máy, xí nghiệp, nhà ở, văn phòng),
Giá trị mua mới là giá trị mới xây của công trình bao gồm cả chi phí khảo sát
thiết kế.
đã khai báo.
Bảo hiểm theo giá trị tối đa (hay còn gọi là giá trị điều chỉnh)
Người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho công ty bảo hiểm giá trị
của số hàng hóa tối đa vào một thời điểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm. Phí
bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa này nhưng chỉ thu trước 75%. Khi
tổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường
thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị tối đa đã khai báo.
Đầu mỗi tháng hoặc mỗi quý (tuỳ hai bên thỏa thuận), Người được bảo
hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số hàng tối đa thực có trong tháng (trong
quý) trước đó.
Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ sở các giá trị được thông báo công ty
bảo hiểm tính giá trị số hàng tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm và tính
lại phí bảo hiểm trên cơ sở giá trị tối đa bình quân này.
Nếu số phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa bình quân nhiều
hơn số phí bảo hiểm đã nộp, thì Người được bảo hiểm trả thêm cho công ty bảo
hiểm số phí còn thiếu. Ngược lại, nếu số phí bảo hiểm đã nộp nhiều hơn số phí
bảo hiểm tính được trên cơ sở giá trị tối đa bình quân thì công ty bảo hiểm hoàn
trả số chênh lệch cho Người được bảo hiểm. Tuy nhiên, số phí bảo hiểm chính
thức phải nộp không được thấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã nộp đầu năm.
Nếu trong thời hạn bảo hiểm đã có tổn thất được công ty bảo hiểm bồi
thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân tính được thì phí
Luận văn tốt nghiệp
15bảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền bồi thường đã trả (trong trường hợp này,
số tiền được bồi thường coi như STBH). Công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu
Người được bảo hiểm xuất trình sổ sách kế toán để kiểm tra số liệu được thông
báo.
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp đòi hỏi công ty bảo
2
Trong đó: R
1
là Tỷ lệ phí thuần,
R
2
là Tỷ lệ phụ phí.
Xác định lỷ lệ phí thuần thường phải căn cứ vào số liệu thống kê trong
một số năm trước đó, như: Tổng số đơn vị rủi ro tham gia bảo hiểm , số đơn vị
rủi ro bị gặp tổn thất, tổng số tiền bồi thường
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: xác định theo phân loại và
theo danh mục .
Xác định Tỷ lệ phí thuần theo phân loại.
Theo phương pháp này, các đơn vị rủi ro có thể so sánh được sẽ được kết
hợp lại với nhau. Các tiêu chí dùng để so sánh mức độ rủi ro của các đơn vị rủi
ro này là:
Vật liệu xây dựng bằng gì?
Khả năng phòng cháy, chữa cháy.
Những vật hay công trình bố trí xung quanh, bên ngoài.
Người sử dụng (chủ ở hay cho thuê).
Phương pháp này phù họp với những tài sản tương đối đồng nhất với
nhau, như: nhà ở, văn phòng,
Xác định Tỷ lệ phí thuần theo danh mục
Phương pháp này được thực hiện theo một quy trình gồm 3 bước:
Luận văn tốt nghiệp
17Bước 1: Rà sét lại danh mục tài sản tham gia bảo hiểm rồi phân loại theo
danh mục khác nhau.
Hoạt động khai thác bảo hiểm được hiểu là hoạt động tuyên truyền,
quảng cáo, vận động mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm, bán sản phẩm
bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp tiến hành hay thông qua đại lý,
cộng tác viên bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm.
Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trình triển khai bảo hiểm.
Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của Doanh nghiệp bảo hiểm nói
chung và từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, đặc biệt là những nghiệp vụ bảo
hiểm mới triển khai, những sản phẩm mới tung ra trên thị trường. Xuất phát từ
nguyên tắc chung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “lấy số đông bù số ít”,
nhằm tạo lập nguồn quỹ bảo hiểm đủ lớn để dễ dàng san sẻ rủi ro, Doanh
nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt khâu khai thác.
1.2.2. Quy trình khai thác bảo hiểm
1.2.2.1. Lập kế hoạch tiếp cận khách hàng
Sản phẩm, dịch vụ tốt sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu doanh nghiệp không có
đủ số khách hàng mà họ cần. Cái gì là khó nhất khi bắt tay vào kinh doanh?
Đối với nhiều người câu trả lời có lẽ là "tìm kiếm khách hàng". Do đó, bước
đầu tiên trong quy trình khai thác bảo hiểm là cần phải lập ra một khế hoạch để
tìm kiếm khách hàng, hướng tới những từng nhóm khách hàng mực tiêu riêng
Luận văn tốt nghiệp
19của từng nghiệp vụ bảo hiểm. Vì vậy khi lập ra kế hoạch khai thác một nghiệp
vụ bảo hiểm, cần chú trọng đến các vấn đề sau:
Quan tâm đến những đối tượng có thể trở thành khách hàng của Công ty
Mỗi sản phẩm bảo hiểm có một đặc tính riêng, phù hợp với từng nhóm
khách hàng khác nhau, do đó với một nghiệp vụ bảo hiểm công ty bảo hiểm
khó có thể hướng tới toàn bộ thị trường. Vì vậy cần phải nghiên cứu đặc điểm
các nhóm khách hàng, so sánh với khả nǎng đáp ứng của doanh nghiệp và
quyết định chọn nhóm khách hàng mục tiêu để lập kế hoạch chinh phục.