Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua - Pdf 12

Trường Đại Học Thương Mại-Khóa 47N

Chủ đề thảo luận
Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ
mà Chính phủ Việt Nam sử dụng
nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua
1
NHÓM 4
BẢNG DANH SÁCH VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT Họ tên Công việc Đánh giá
1 (Nhóm trưởng)
2 Nguyễn Thị Vân Trang
(Thư ký)
Tổng kết, làm slide
3
4
5
6
7
8
9
10
2
Lời mở đầu
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn
cầu cùng với những tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2
năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện
kinh tế vĩ mô.
Những lo ngại về nguy cơ lạm phát lại được nhiều người quan tâm
trong thời gian gần đây.Mặc dù nước ta đã phần nào kiềm chế được
lạm phát.Tuy nhiên, lạm phát đang có dấu hiệu quay trở lại.

a, Tác động tích cực. 26
b, Những mặt hạn chế. 27
2.3. Một vài đề xuất về chính sách tiền tệ góp phần kiềm chế 30
lạm phát trong tương lai.
3. Kết luận 32
4
1. LÝ LUẬN (tuyết)
1.1. Những vấn đề chung về lạm phát.
1.1.1. Khái niệm lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá
chung. Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và
dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức
giá trung bình tăng lên. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số
hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ
mạnh.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của
đồng tiền. Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày
càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong
bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để
mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.
1.1.2. Phân loại lạm phát
a, Phân loại theo quy mô.
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ
của tỷ lệ lạm phát. Việc phân loại lạm phát theo tính chất sẽ được đề
cập khi bàn về tác động của lạm phát, còn trong mục này chúng ta sẽ
phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Theo tiêu thức này
các nhà kinh tế thường phân biêt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải,
lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
 Lạm phát vừa phải.
Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ gây lạm phát dưới 10%

b, Phân loại theo nguyên nhân.
 Lạm phát do cầu kéo
Nhiều người có trong tay một khoản
tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một
hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao
hơn bình thường. Khi nhu cầu về một
mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng
lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả
của các mặt hàng khác cũng theo đó leo
thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết
các loại hàng hoá trên thị trường.
Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa
là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá
hay dịch vụ đó lên mức cao hơn.
 Lạm phát do chi phí đẩy
7
Chi phí của các doanh nghiệp
bao gồm tiền lương, giá cả
nguyên liệu đầu vào, máy móc,
chi phí bảo hiểm cho công
nhân, thuế Khi giá cả của một
hoặc vài yếu tố này tăng lên thì
tổng chi phí sản xuất của các xí
nghiệp chắc chắn cũng tăng lên.
Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn
mức lợi nhuận của mình sẽ tăng
giá thành sản phẩm. Mức giá
chung của toàn thể nền kinh tế
cũng tăng.
 Lạm phát tiền tệ

hiểu từng công cụ một của chính sách tiền tệ.
 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền
gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các
Ngân hàng thương mại.
 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở:
Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn
trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh
hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác
động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn
đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
 Công cụ lãi suất tín dụng:
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ
bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt
lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản
xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là
tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng
Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong
từng thời kỳ nhất định.
 Công cụ hạn mức tín dụng:
Là 1 công cụ can thiệptrực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng
Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức
tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung
ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
10
2. THỰC TRẠNG
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.
Đã bốn năm trôi qua kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng

kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu
trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra
phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng
thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền
cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996
Lạm phát 67,6% 17,6% 5,2% 14,4% 12,7% 4,5%
Tăng trưởng 6,0% 8,65% 8,07% 8,5% 9,5% 9,34%
• Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc
dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực,
với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương
thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả thời
kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá
lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp.
• Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp
đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn.
2.1.3. Cụ thể diễn biến lạm phát 2007-2010
12
- Khởi đầu kế hoạch 2006-2010, với tỷ lệ lạm phát 2006 là 6,6%. Đây
là con số lý tưởng báo hiệu cho một thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của
nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên bước sang năm 2007 lạm phát của
Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với mức
lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung
Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu
vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có
phần cao hơn. Nhìn vào biểu đồ có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát năm
2007 tăng dần qua các tháng với mức đỉnh điểm là tháng 12 với tỷ lệ
2,9%. Lạm phát 2007 báo hiệu một năm đầy khó khăn cho nền kinh tế
trong 2008.


khi mà tỷ lệ lạm phát cao nhất chỉ là 1,38% (Tháng 12). Trong 8 tháng đầu tiên,
diễn biến chỉ số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và cho
cảm nhận an toàn. Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc nhẹ, báo
hiệu những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng của
năm, hiện thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát.
Năm 2010, là năm diễn biến lạm phát có nhiều đột biến, khi có đến nửa số
tháng trong năm 2010, mức tăng CPI đã vượt qua 1%. Các tháng từ 9 đến 11, chỉ
số giá tiêu dùng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây.
Đột biến thứ nhất: Xuống chậm sau Tết
Tết Canh Dần rơi vào đầu tháng 2/2010, các mức tăng CPI hai tháng đầu năm
đều trên 1% và tiến gần 2% cũng không phải quá bất thường, nhưng khác biệt
trong lại rơi vào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các
năm trước. So với tháng 12/2009, CPI tháng 3/2010 đã tăng 4,12%. Đây là điều rất
14
đáng lo ngại, bởi ở những năm bình thường, chỉ số giá tiêu dùng quý 1 thường
chiếm khoảng một nửa mức tăng cả năm.
Đột biến thứ hai: “Giấc ngủ” kéo dài
Việc “nằm sàn” trong 5 tháng kế tiếp cũng là một đột biến đáng nhắc đến của
lạm phát 2010. Trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng
liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6).
Xét về cao độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004 đến nay.
Đột biến thứ ba: “Bốc đầu” tăng mạnh
4 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao. Có tới 3
tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát. Mức tăng chỉ số giá
tiêu dùng trong tháng 12 là 1,98% góp phần đưa tốc độ tăng cả năm lên gần 12%.
Như vậy, mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức được
khẳng định, vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra đầu năm gần 5%.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xét giai đoạn 2001-2010 thì bình quân 4 năm 2007-2010 chỉ số giá tiêu dùng
tăng 12,70%/năm gấp gần 2,5 lần so với tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2001-2006

điều chỉnh lãi suất từ 12% lên 14%/năm , nhiều NHTM đã điều chỉnh lãi suất ở
mức cao, 17,5 – 18,5%/năm. Càng về cuối năm lãi suất huy động tiền gửi giảm
mạnh, cho đến tháng 11/2008, mức lãi suất huy động tiền gửi vào mức thấp nhất,
giảm khoảng 9 - 9.5% so với thời điểm cao nhất của năm(17.5 – 18.5%/năm)
Lãi suất cơ bản năm 2009 không biến động nhiều như năm 2008 nhưng lại
được giữ khá lâu ở mức 7% khiến cho hoạt động ngân hàng có nhiều lúc trở nên
khó khăn khi lãi suất cho vay bị khống chế ở mức trần 10,5% còn lãi suất huy động
thì đã lên tới 9,99%, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn cố gắng phát huy tốt nhất vai
trò của mình là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là dòng vốn hỗ trợ lãi
suất của Chính phủ. Đó thực sự là một nỗ lực không thể phủ nhận của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam.
Năm 2010, trong 10 tháng đầu năm trước bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều
chuyển biến tích cực, NHNN giữ ổn định lãi suất điều hành, cụ thể: lãi suất cơ
bản ở mức 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu
ở mức 6%/năm. Từ ngày 5/11/2010, điều chỉnh tăng thêm 1%/năm các mức lãi
suất điều hành, theo đó, lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng từ 8%/năm lên
9%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ
6%/năm lên 7%/năm; đồng thời, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng
USD của tổ chức kinh tế tại TCTD là 1%/năm. Đặc biệt, triển khai cơ chế cho
vay theo lãi suất thỏa thuận từ tháng 4/2010, thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất
VNĐ và ngoại tệ.
Như vậy, có thể kết luận rằng xu hướng chung trong việc điều chỉnh công cụ
lãi suất nhằm chống lại sự gia tăng của CPI qua các năm là sự tăng lên của lãi suất.
Để giữ cho nền kinh tế không bị thừa cung về tiền tệ, NHTƯ đã liên tục điều chỉnh
tăng lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn trên nền kinh tế, từ đó giảm cung về tiền tệ,
góp phần giảm bớt sức ép tăng giá.,
17
b, Công cụ hạn mức tín dụng
Đây là một biện pháp mạnh, mang tính hành chính, có hiệu lực đáng kể. Tuy
nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng luôn biến động không

trưởng tín dụng từ 30% xuống khoảng 25% - 27%, điều hành tổng phương tiện
thanh toán tăng khoảng 25% nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% khống
chế lạm phát ở mức một con số trong năm 2009. Như vậy với mục tiêu mới, 6
tháng cuối năm tín dụng chỉ được phép tăng trưởng thêm từ 8 – 10%. Đến cuối
tháng 10, tăng trưởng tín dụng đã lên mức 33,29% so với cuối năm 2008. Và tính
đến ngày 10/12/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt 445.011 tỷ đồng. Năm
2009, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 28,67% so với cuối tháng 12/2008,
huy động vốn tăng 28,7%; tín dụng đối với nền kinh tế là 37,73%.
Đồ thị 2.5: Tăng trưởng tín dụng từ năm 2001 đến nay
Đơn vị: %/tháng
Năm 2010, tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng đặt kế hoạch 25%. Ngân
hàng Nhà nước nhấn mạnh sẽ tập trung điều hành cung ứng tiền mặt một cách chặt
chẽ, kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng
đạt 27,65%. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam vào khoảng 2,5%. Nếu
tính thêm Vinashin, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng thêm 0,7%. Báo cáo của
Ngân hàng Nhà nước đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu tiền tệ năm 2010 cơ
bản phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ, đảm bảo an toàn hệ thống và phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế. Cụ thể, lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông
khoảng 75% chỉ tiêu được Thủ tướng phê duyệt. Tổng phương tiện thanh toán tăng
23% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá và giá vàng). Tiền mặt trong lưu thông tăng
khoảng 15%, tỷ trọng tiền mặt lưu thông so với tổng phương tiện thanh toán
19
khoảng 14%. Đáng chú ý là sự tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ, áp đảo so với
bằng VND và khác thường so với những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng bằng
VND là 25,34%, trong khi bằng ngoại tệ lên tới 37,76%.
Tóm lại, nhìn chung từ năm 2007 đến nay NHTƯ thường áp dụng các chính
sách điều chỉnh hạn mức tín dụng theo hướng thắt chặt, tức là hạ thấp mức cung tín
dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, từ đó giúp tăng dư nợ cho vay của toàn hệ
thống ngân hàng, góp phần giảm mức cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế.
c, Công cụ chiết khấu

hướng tăng dần. Trong điều kiện nền kinh tế đang có những dấu hiệu lạm phát gia
tăng thì việc áp dụng tăng lãi suất chiết khấu sẽ làm giảm khả năng cho vay của
các NHTM, giảm dư lượng vốn cho vay, từ đó làm giảm dư nợ cho vay tín dụng
của các NHTM.
d, Dự trữ bắt buộc
Trước diễn biến phức tạp của CPI trong năm 2007 và đầu tháng 1/2008,
NHNNVN đã ban hành các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng
tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của các TCTD. Bước đi đầu tiên trong gói
các giải pháp thắt chặt tiền tệ là ngày 16/1/2008, NHNNVN ban hành quyết định
số 187/2008/QĐ-NHNN điều chỉnh DTBB đối với ngân hàng tăng thêm 1% ở các
loại tiền gửi được ban hành (trước đó, tháng 6/2007, NHNNVN đã ban hành Quyết
định 1141 để tăng tỷ lệ DTBB lên gấp đôi). Nếu so sánh với tỷ lệ DTBB tại Quyết
định 1141/2007 thì mức tăng 1% là không lớn. Tuy nhiên, nếu xem xét số tiền mà
các TCTD phải hút tiền từ lưu thông về thì không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh thị
trường tiền tệ và chứng khoán đang trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm.
Đến đầu năm 2009, NHNNVN ra quyết định số 379/QĐ–NHNN ra ngày
24/2/2009 về việc thay đổi DTBB đối với tiền đồng Việt nam của các TCTD.
Trong đó các NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam, NHTM
cổ phần đô thị, NHTM có 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính là 3% trên tổng
số dư tiền gửi phải DTBB. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam, NHTM cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 1% trên
tổng số dư tiền gửi phải DTBB. Mục đích của việc điều hành các CSTT nêu trên là
nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá và hỗ trợ vốn khả dụng cho các
21
TCTD có điều kiện mở rộng huy động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền
kinh tế, kể cả việc cho vay đối với các dự án đầu tư theo chương trình kích cầu của
Chính phủ.
Ngày 18/1/2010, NHNNVN đã có Quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng (TCTD).Theo đó, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ áp dụng cho các TCTD được NHNN

2666/QĐ-NHNN 26/11/2009 17 961 ±3%
Thông tư 03/2010/TT-
NHNN
11/02/2010 17 941 lên 18 544 ±3%
307/TB-NHNN 18/08/2010 18 544 lên 18 932 ±3%
Bảng 2.3: Các lần điều chỉnh tỷ giá từ 2007-2010
Năm 2007, chính sách tỷ giá của NHNNVN được điều hành một cách linh
hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trước sức ép VND lên giá do cung ngoại tệ
lớn hơn cầu, bên cạnh việc NHNNVN mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà
nước, dự phòng đối phó với nguy cơ dòng vốn đảo chiều, giảm áp lực tăng giá
VND, NHNNVN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ ±0,25% lên ±0,5% và ±0,75%.
Trong năm 2008, NHNNVN đã 3 lần nới lỏng biên độ tỷ giá giao dịch giữa
đồng Việt Nam và đôla Mỹ, đưa biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1% , ±2% và
±3% so với thị trường liên ngân hàng.
Năm 2009 NHNNVN đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp: quyết định mở
rộng biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, áp dụng từ ngày 24/03/2009 nhằm giảm bớt
sự chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức. Những tháng
cuối năm 2009, tình hình mất cân đối cung - cầu ngoại tệ lại xuất hiện trở lại.
Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng của cơn sốt giá vàng,
NHNNVN quyết định can thiệp trực tiếp và mạnh tay vào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ
giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44% từ mức 17.034 VND ngày 25/11/2009 lên
17.961 VND/ 1 USD áp dụng cho ngày 26/11/2009; thu hẹp biên độ tỷ giá giao
dịch USD/VND từ mức ±5% xuống mức ±3% và tăng lãi suất cơ bản tiền đồng lên
8%. NHNNVN cũng cam kết hỗ trợ bán ngoại tệ cho các TCTD có trạng thái ngoại
tệ từ âm 5% trở xuống. Với việc triển khai đồng bộ các biện pháp nêu trên, thị
trường ngoại hối Việt Nam đã ổn định trở lại, hiện tượng găm giữ và tích trữ ngoại
tệ đã dần được khắc phục.
Kế thừa những thành tựu đã đạt được trong năm 2009, ngày 10/02/2010,
NHNNVN đã quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tăng 3,36%
từ 17.961 lên 18.544 VND/ 1USD, theo thông tư số 03/2010/TTNHNN. Sau khi

dịch TTM, tăng 47 phiên so với năm 2007. Mua giấy tờ có giá chiếm đến 64,67%
tổng phiên giao dịch với doanh số trúng thầu chiếm 91,42%. Không chỉ tăng số
24
phiên giao dịch, doanh số giao dịch cũng tăng kỷ lục so với năm 2007, trong đó
chủ yếu là giao dịch mua có kỳ hạn (tăng gấp 15 lần so với năm 2007). Trong khi
đó, giao dịch bán hẳn chỉ còn 76.837 tỷ đồng, giảm 4,6 lần so với 2007.
NVTTM được NHNNVN điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các công
cụ CSTT khác để điều tiết vốn khả dụng cho các TCTD ở mức hợp lí, góp phần ổn
định thị trường tiền tệ. Ví dụ như năm 2008, đối mặt với diễn biến kinh tế bất
thường: lạm phát ở mức 19,98% nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm từ tháng 7
và chuyển sang âm trong tháng 10, tháng 11, NHNNVN đã kết hợp linh hoạt, hiệu
quả NVTTM với các công cụ khác của CSTT, góp phần kiềm chế lạm phát. Kết
quả giao dịch NVTTM năm 2008 như sau:
Bảng 2.4: Kết quả giao dịch nghiệp vụ thị trường mở năm 2008
Loại giao
dịch
Tổng số
dự kiến
Khối lượng
đăng ký
Khối lượng
trúng thầu
Lãi suất trúng
thầu bình
quân (%/năm)
Mua có kỳ
hạn (260
phiên)
979.800 3.883.098 947.205 12,92
Bán hẳn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status