Thảo luận nhóm: Những biện pháp chính phủ đã sử dụng để kiềm chế lạm phát trong thời gian qua - Pdf 11

Đề tài thảo luận:
Phân tích một số biện
pháp mà chính phủ đã sử
dụng để kiểm chế lạm
phát trong thời gian qua.
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1. Lý thuyết về lạm phát:
1.1 Khái niệm về lạm phát
1.2 Quy mô lạm phát
1.3 Tác hại của lạm phát
1.4.Các lý thuyết về lạm phát
1.5 Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
2. Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 5 năm gần đây:
2.1 Tình trạng lạm phát ở việt nam trong 5 năm 2008-2012.
2.1.1. Khái quát chung về lạm phát ở Việt Nam từ năm 2008-2012.
2.1.2.Tình hình lạm phát 6 tháng đầu năm 2012
2.2 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam
3. Nguyên nhân, giải pháp kiềm chế lạm phát mà chính phủ sử dụng:
3.1 Nguyên nhân của lạm phát
3.2.Các giải pháp đối với lạm phát
KẾT LUẬN
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3
STT Họ và tên Công việc Đánh
giá
1 Nguyễn Thị Hương
(nhóm trưởng)
-Làm slide
-Đóng quyển
Tốt
2 Bùi Thị Mai Linh -Mở đầu

dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang. Phân tích, nghiên cứu lạm phát luôn
là đề tài thu hút trong nghiên cứu kinh tế. Làm thế nào để giảm lạm phát, đảm
bảo kinh tế luôn là mối lo lớn nhất của chính phủ và các nhà nghiên cứu kinh tế.
1. LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
1.1.Khái niệm lạm phát
Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức giá tăng lên được
gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống được gọi là giảm phát. Vậy, lạm phát
là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.
Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả và loại chỉ số biểu
hiện lạm phát gọi là chỉ số lạm phát hay chỉ số giá cả chung của toàn bộ hàng
hoá cấu thành tổng sản phẩm quốc dân. Nó chính là GNP danh nghĩa / GNP
thực tế.
Công thức tính có thể viết như sau :
diI
pp
.

=
Trong đó :
p
I
- Là chỉ số giá của cả giỏ hàng.
Ip – Chỉ số giá cả của từng loại hàng, nhóm hàng trong giỏ.
d – Tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại, nhóm hàng trong giỏ
( với

=
1d
). Nó phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội.
Tỷ lệ lạm phát

triệu lần. Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và
sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra.
1.3.Tác hại của lạm phát
Khi giá cả của các loại hàng hoá tăng với tốc độ đều nhau thì loại lạm phát này
thường được gọi là lạm phát thuần tuý. Kiểu lạm phát này hầu như không xảy
ra và trong thực tế các cuộc lạm phát thông thường đều có hai đặc điểm đáng
quan tâm sau đây:
 Tốc độ tăng giá cả thường không đồng đều giữa các loại hàng.
 Tốc độ tăng giá và tăng lương cũng xảy ra không đồng thời giữa các loại
hàng.
Hai đặc điểm trên đây dẫn đến sự thay đổi tương đối về giá cả (hay là giá cả
tương đối đã thay đổi). Tác hại chủ yếu của lạm phát không phải ở chỗ giá cả
tăng lên mà ở chỗ giá cả tương đối đã thay đổi. Những tác hại đó là :
Phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên.
Có những biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế.
Để hiểu rõ hơn về tác hại của lạm phát cũng cần phải chia chúng thành
hai loại: lạm phát thấy trước và lạm phát không thấy trước.
Tác hại của lạm phát còn được đo bởi sự phản ứng mạnh mẽ của các tầng lớp
dân cư( hậu quả tâm lý xã hội) thông qua các cuộc điều tra xã hội học. Sự phản
ứng của công chúng xuất phát từ vấn đề kinh tế, nhưng có thể tác động đến sự
ổn định chính trị và do vậy, phản ứng kinh tế vĩ mô của các chính phủ là tìm
mọi biện pháp chống lạm phát, cho dù cái giá phải trả là khá cao.
1.4.Các lý thuyết về lạm phát
Lạm phát là sự tăng giá chung của toàn bộ nền kinh tế,mà các yếu tố đưa
đến tăng giá lại rất đa dạng và phức tạp,tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của một
nền kinh tế
1.4.1 .Lạm phát cầu kéo
Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản
lượng đã đat hoặc vượt quá tiềm năng.trong thực tế khi xảy ra lạm phát cầu kéo
người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng

sách vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỉ lệ lạm phát và
điều này dặc biệt đúng với thời kì ngắn hạn khi ngân sách thâm hụt lớn, các
chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là
một nguyên nhân gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt
mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục
tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường diễn ra trong thời kì siêu lạm phát.
1.4.5 .Lạm phát và lãi suất
Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỉ lệ lạm phát.
Khi tỉ lệ lạm phát tăng lên, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của
việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt đúng trong các
cuộc siêu lạm phát.
1.5 Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Lạm phát và thất nghiệp là hai căn bệnh nặng của nền kinh tế thị trường
Đường Philips ban đầu
Đường này cho biết mối quan hệ nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp. Lý thuyết
này gợi ra rằng có thể đánh đổi lạm phát lấy thất nghiệp thấp. Khi thất nghiệp
thực tế thấp hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát xảy ra. Đường Philips gợi cho
những người làm chính sách lựa chọn các chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính
sách tài khóa và tiền tệ.
Đường Philips mở rộng
Đường này cho biết khi thất nghiệp bằng tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát bằng tỉ lệ dự
kiến. Nếu thất nghiệp thực tế cao hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát thấp hơn tỉ lệ tự
nhiên. Khi thất nghiệp và lạm phát tăng lên - không có sự đánh đổi giữa thất
nghiệp và lạm phát trong ngắn hạn - đó là thời kì đình trệ thất nghiệp. Sự điều
tiết bằng chính sách tiền tệ và tài khóa giữ cho nền kinh tế ổn định sản lượng.
Đường Philips dài hạn
Trong dài hạn tỉ lệ thất nghiệp thực tế có thể bằng tỉ lệ thất nghiệp dự kiến bởi
sự tác động của các chính sách tài khóa và tiền tệ.
Tỉ lệ thất nghiệp thực tế luôn bằng tỉ lệ tự nhiên dù tỉ lệ lạm phát thay đổi như
thế nào. Vậy trong dài hạn lạm phát và thất nghiệp không có mối quan hệ với

tiền. Từ tháng 5 trở đi, nhờ những nổ lực ổn định hóa quyết liệt của chính phủ,
CPI đã liên tục giảm tốc và rơi xuống dưới 1% kể từ tháng 8/2011.
Năm 2012 tình hình lạm phát đang có những chuyển biến tích cực.Tổng
cục thống kê Việt Nam vừa công bố Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tháng 6.
Không nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia, CPI tháng 6 có mức giảm 0,26%
so với tháng 5/2012. Đây là tháng đầu tiên CPI cả nước có chỉ số âm sau 38
tháng dương liên tiếp. So với tháng 6 năm 2011, CPI tháng 6 năm 2012 tăng
6,9% và so với tháng 12 năm 2011 tăng nhẹ 2,52%. Bình quân 6 tháng đầu năm
2012 tăng 12,2% so với cùng kỳ.
( Vietbao.vn)
2.1.6. Tình hình lạm phát năm 2012
Trong những tháng đầu năm, làn sóng tăng giá hàng thiết yếu đã đẩy
người dân vào một mặt bằng giá mới khá bất lợi. Những làn sóng tăng giá các
hàng thiết yếu nêu trên - vốn chiếm tỷ trọng lớn trong rổ tính CPI của Việt Nam
- đang và sẽ làm cho mục tiêu an sinh xã hội bị đe dọa, mức sống thực tế của
người dân bị hạ thấp. Hơn nữa, chúng còn gây áp lực tăng lạm phát chi phí đẩy
khiến CPI tháng 3-2012 sẽ khó bắt đầu chu kỳ giảm theo thông lệ, mà ngược
lại, có thể sẽ tiếp tục tăng với mức cao.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2012 tăng nhẹ ở mức 0,16% so với
tháng trước; tăng 2,55% so với tháng 12/2011; tăng 14,15% so với cùng
kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 15,95%
so với bình quân cùng kỳ năm 2011.
Tăng trưởng kinh tế tuy không cao nhưng là mức tăng hợp lý trong điều kiện cả
nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát. Chỉ số giá tiêu
dùng có xu hướng tăng chậm lại. Xuất khẩu hàng hóa tăng khá. Những khó
khăn trong vấn đề thanh khoản của các ngân hàng đang dần được khắc
phục.Tuy nhiên, kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục phải đối mặt với không ít khó
khăn, thách thức.Tình hình thế giới biến động phức tạp, thị trường giá cả hàng
hóa thay đổi khó lường. Việc thực hiện lộ trình điều chỉnh giá một số mặt hàng
như: Điện, than, xăng dầu theo cơ chế thị trường sẽ ảnh hưởng đến cả chỉ số giá

Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa
phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong
lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích sự
tiêu dùng của chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát
tăng lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì
lạm phát tăng lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi
giữa lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất
nghiệp thấp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
Tranh luận ở trên sẽ kéo theo tranh luận khác rằng liệu con số lạm phát cao hơn
sẽ thúc đẩy nền kinh tế. Trên lý thuyết tiền lương gắn liền với năng suất lao
động, nhưng người lao động thường miễn cưỡng chấp nhận bị giảm lương điều
này đôi khi góp phần duy trì quan hệ sản xuất. Với một tỷ lệ lạm phát hợp lý có
thể biến mọi thứ dễ dàng hơn khi điều chỉnh tiền lương tương đối.
Với lĩnh vực lưu thông
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị
mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu
vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời
gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài,
thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro.
Lạm phát tăng lên cao thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan
hiếm hàng hoá. Lúc này những người thừa tiền và giàu có dùng tiền của mình
để vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, tình trạng này càng làm mất cân đối
nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường giá cả hàng hoá tăng
lên nhiều hơn. Ngoài ra khi tỷ lệ lạm phát khó phán đoán thì việc đầu cơ vốn
vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao. Do có nhiều người tham gia vào
lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở lên hỗn loạn. Tiền vừa ở trong tay
người bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông ,tốc độ lưu
thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.

và buộc nhân dân phải giảm số lượng về hàng hóa tiêu dùng đặc biệt là đời sống
cán bộ công nhân viên càng khó khăn. Mặt khác hiện tượng mọi người thích
tháo chạy khỏi đồng tiền tức là không muốn cất giữ đồng tiền mất giá bằng cách
họ sẽ tìm mua bất kỳ hang hóa dù không có nhu cầu cất giữ từ đó làm giàu cho
những người có đầu cơ tích trữ.
Hành vi tiêu dùng của người dân thời lạm phát cũng thay đổi. Khi có tiền nhàn
rỗi, người tiêu dùng thích gửi tiền vào quỹ tiết kiệm của ngân hàng, sau đó là
mua vàng. Kết quả điều tra cũng cho biết, những lĩnh vực người tiêu dùng phải
cắt giảm chi tiêu trong thời lạm phát là du lịch, hàng xa xỉ, thời trang, dịch vụ
thẩm mỹ, mua sắm điện máy, giải trí, thông tin liên lạc (điện thoại, Internet).
Nhóm ngành hàng thiết yếu là nhóm mà họ không thể cắt giảm, bao gồm: giáo
dục, đi lại, ăn uống, điện nước, chăm sóc sức khỏe
Tác động khác
Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu
được trong những trường hợp nhất định. Nếu hệ thống thuế tăng dần (thuế suất
lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải
đóng thuế cao hơn, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà
không phải thông qua luật. Trong thời kỳ lạm phát giá cả hàng hóa – dịch vụ
tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương danh nghĩa cũng theo xu
hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động nói chung có thể
vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy giảm.
Lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trong nước. Khi các mức giá cả
trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ
trở nên khó thực hiện hơn. Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong
tương lai của họ bị giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy mà kém đi.
Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục
lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân
hàng không tăng lãi suất tiền gửi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng
mà tìm cách đầu cơ vào đất đai khiến giá cả đất đai tăng cao). Lạm phát cao đặc
biệt ảnh hưởng xấu đến những người có thu nhập không tăng kịp mức tăng của

Năm 2008 khép lại với mức lạm phát kỷ lục 19.89% - nếu so với tháng
12/2007, và xấp xỉ 23% - nếu so với giá tiêu dung bình quân của năm 2007.
3.1.2 Năm 2009:
Đỉnh điểm là vào tháng 12/2009. Nguyên nhân có thể do kỳ vọng về một
quy mô thị trường tiêu thụ lớn dịp Tết Nguyên đán, đang khiến nhiều nguồn
hàng tiêu dùng thiết yếu bị “găm” lại để chờ thời. Trở lại với diễn biến giá cả
tháng này, động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy CPI tăng mạnh đến từ mặt hàng
lương thực, với mức tăng tới 6,88%. Được sự tiếp sức của hàng thực phẩm
(tăng 0,89%) và ăn uống ngoài gia đình (tăng 0,69%), nhóm hàng ăn và dịch vụ
ăn uống “cầm cờ” trong các nguyên nhân tác động đến CPI tháng 12/2009, với
mức tăng tới 2,06%. Dù quyền số thấp hơn nhưng mức tăng cao hơn, nhóm
giao thông tháng này xác lập mức tăng cao nhất, với 2,47%. Nguyên nhân chủ
yếu đến từ đợt tăng giá xăng dầu cuối tháng 11/2009. Những hàng hóa, dịch vụ
có chu kỳ tăng cuối năm cũng đang rục rịch tăng giá. Chỉ số giá nhóm nhà ở,
vật liệu xây dựng tháng này cũng tăng mạnh tới 1,4% do giá sắt thép, vật liệu
xây dựng tiếp tục xu hướng tăng và thị trường bước vào mùa hoàn thiện công
trình xây dựng.Tương tự là nhóm đồ uống, thuốc lá tăng tới 0,97%; nhóm may
mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,81%; các nhóm còn lại tăng không nhiều trong
tháng 12/2009. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, duy nhất
chỉ số giá tháng 12/2009 nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% so với tháng
trước đó. Trong một tháng qua, chỉ số giá vàng đã tăng 10,49%; chỉ số giá USD
tăng 3,19%. So với một năm trước, các con số tương ứng là 64,32% và 10,7%.
Bình quân cả năm 2009 so với năm 2008 tương ứng tăng 19,16% và 9,17%.
Năm 2009 khép lại với mức tăng CPI trong vòng kiểm soát, nhưng gạo
và xăng dầu, hai mặt hàng có quyền số lớn trong rỏ hàng hóa, dịch vụ tính CPI
vẫn luôn là yếu tố bất định trong năm qua. Nhìn về phía trước, cung hàng hóa
và dịch vụ đang vào chu kỳ tăng; trong khi đó, giá thế giới đang phục hồi cùng
với độ trễ chính sách tài chính, tiền tệ là những nhân tố tác động đến CPI.
3.1.3 Năm 2010:
Nguyên nhân chính là do nhiều mặt hàng thiết yếu giảm như: giá gạo

ngoại từ đầu tháng 3-2012 sẽ tăng từ 10 – 12%. Giá của một số mặt hàng hóa
mỹ phẩm, nhất là xà bông cục, nước rửa tay, chăm sóc cơ thể, tẩy rửa, băng vệ
sinh, một số đồ dùng và thực phẩm giành cho trẻ em cũng bị ép tăng từ 5-10%.
Giá nước sinh hoạt ở nhiều đô thị lớn cũng tăng mạnh, như từ ngày 1-1-2012
TP.HCM tiếp tục tăng10%, còn TP.Hải Phòng tăng khoảng 40%. Đặc biệt, theo
dự thảo thông tư về khung giá nước sạch sinh hoạt do Bộ Tài chính xây dựng
đầu năm 2012, giá nước sạch có thể lên tới 18.000 đồng/m3. Giá thành điện
2012 dự kiến sẽ là 1.242 đồng mỗi kWh, tăng 4,6% so với 2011.
3.2.Các giải pháp đối với lạm phát ở Việt Nam
Phải kết hợp đồng bộ các chính sách về tiền tệ với chính sách tài khoá và
chính sách tỉ giá để nâng cao hiệu quả đầu tư của kinh tế nhà nước, giảm bớt
sức ép của chính sách tiền tệ đến hoạt động của các ngân hàng thương mại và
doanh nghiệp, bảo đảm các doanh nghiệp có nguồn tín dụng để mở rộng đầu tư,
làm cho việc chống lạm phát không ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng và việc
làm.
Thắt chặt tiền tệ: Các biện pháp dành cho chính sách thắt chặt tiền tệ
hiện nay cần phải được áp dụng một cách linh hoạt. Xuất phát từ nhận định lạm
phát thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, chúng ta cần hạn chế
lượng tiền trong lưu thông bằng cách: Tăng lãi suất cho vay vốn và lãi suất tái
chiết khấu và hạn chế mức tăng tín dụng. Quy định dự trữ bắt buộc hợp lí để
vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồng thời nâng cao được khả năng thanh khỏan
trong hoạt động ngân hàng. Thêm nữa là việc phát hành tín phiếu và phân hạn
sức mua cho các NHTM để rút bỏ bớt tiền trong lưu thông.
Về mặt tiền tệ - tín dụng, cần khắc phục các hạn chế, bất cập trong năm trước
để dự báo đúng, dự báo sớm, tránh bị động, lúng túng, chậm trễ. Trong đó
có một số biện pháp đáng lưu ý.
* Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng. Theo đó Chính phủ sẽ điều
hành thắt chặt lại, kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng tối đa là 20%, nếu cần
thiết thì có thể là 17-19%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%. Giảm
tốc độ và tỉ trọng cho vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh

chặt những khoản chi chưa thực sự cần thiết nhưng tạo mọi điều kiện cho đầu tư
tư nhân và đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng.
Sử dụng công cụ tỉ giá: Nên điều chỉnh tăng nhẹ VND so với USD. Điều này
cũng phù hợp với việc đồng đô la Mỹ liên tục bị giảm giá so với các đồng tiền
khác. Tăng nhẹ giá trị VND tuy có ảnh hưởng đến xuất khẩu nhưng không quá
lớn. Tăng giá VND sẽ làm giá hàng nhập khẩu giảm, tăng nguồn cung, có tác
dụng giảm mức tăng giá trên thị trường nội địa, nhất là trong điều kiện nhập
khẩu hiện chiếm tỉ lệ cao trong GDP của nước ta. Tăng giá VND cũng góp phần
kìm giữ giá luơng thực hiện đang tăng tăng cao và có khả năng còn tiếp tục tăng
trước nhu cầu của thị trường thế giới.
Năm 2012, nước ta chịu nhiều sức ép từ các nhân tố truyền thống đến các nhân
tố phi truyền thống, từ các nhân tố bên ngoài đến các nhân tố bên trong. Nền
kinh tế phát triển của Việt Nam còn nhiều yếu kém, chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh còn thấp, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng, thanh khoản của một
số ngân hàng thương mại ……. Mục tiêu ưu tiên của Việt Nam năm 2012 là
kiềm chế lạm phát dưới 10%, các năm sau thấp hơn, đến năm 2015 lạm phát
khoảng 5 đến 7%, đây là mục tiêu cần thiết, nhưng không dễ đạt được, nếu
thiếu các nỗ lực và sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía và nhiều loại công cụ,
giải pháp, mà nổi bật là:
* Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ
* Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ
* Tăng cường quản lý nhà nước về giá
* Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và quản lý thị trường để hạn chế
thấp nhất các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý và đầu cơ.
* Tiểm soát chặt chẽ hơn việc nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích để
giảm nhập siêu và cải thiện cán cân thanh toán.
* Thúc đẩy trên thực tế quá trình tái cấu trúc kinh tế vĩ mô và vi mô
* Cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản
xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường.
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status