Thu hút dòng vốn đầu tư trong nước vào thị trường chứng khoán niêm yết ở Việt Nam - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tài chính quốc tế
THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Phan Thanh Huy
Mã sinh viên: 0853015435
Lớp: Anh 10
Khóa: 47C
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Phạm Thành Hiền Thục
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề chung về Thị trường chứng khoán Việt Nam 4
1.1.1. Khái niệm Thị trường chứng khoán 4

2.4. Nguyên nhân sự hạn chế của dòng vốn đầu tư trong nước trên Thị
trường chứng khoán trong thời gian qua 41
2.4.1. Nguyên nhân từ tình hình kinh tế vĩ mô 41
2.4.2. Sự “bội thực” cổ phiếu phát hành thêm 44
2.4.3. Các nhà đầu tư trong nước không được trang bị kiến thức cơ bản về đầu tư
chứng khoán 46
2.4.4. Sự thiếu chính xác của bộ chỉ số giá VN-Index 47
2.4.5. Tình trạng giao dịch nội gián, thao túng giá cổ phiếu 49
2.4.6. Thông tin kém minh bạch 50
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT DÒNG VỐN
ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT
VIỆT NAM
3.1. Định hướng phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam từ nay đến
năm 2020 52
3.1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển Thị trường chứng khoán 2011 – 2020 52
3.1.2. Cơ hội và thách thức cho Thị trường chứng khoán Việt Nam trong
giai đoạn sắp tới 53
3.2. Một số giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư trong nước vào Thị trường
chứng khoán Việt Nam
3.2.1. Các biện pháp về mặt chính sách của Nhà nước 56
3.2.2. Các biện pháp về mặt kỹ thuật 62
3.2.3. Các biện pháp về mặt quản lý Thị trường 67
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lượng công ty niêm yết, vốn hóa thị trường và tình hình
giao dịch trên HOSE giai đoạn 2000 – 2005 24
Bảng 2.2. Tổng vốn hóa thị trường so với GDP giai đoạn 2005 – 2007 27
Bảng 2.3. Tình hình vốn hóa Thị trường giai đoạn 2008 – 2011 31

Việt Nam vẫn còn chứa đựng trong nó nhiều lỗ hổng, thiếu sót và mâu thuẫn gây
khó khăn cho các nhà đầu tư. Cộng thêm với việc kinh tế Việt Nam và thế giới bắt
đầu rơi vào suy thoái từ năm 2008 làm cho tình hình Thị trường những năm gần đây
ngày càng trở nên xấu đi. Điều này khiến cho ngày càng nhiều nhà đầu tư chán nản
và rời bỏ Thị trường nhằm bảo toàn vốn hoặc chuyển qua các kênh đầu tư khác.
Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài sẽ là một thách thức thật sự đối với những nhà
quản trị vốn của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung đang
trong quá trình nỗ lực vượt qua cơn bão khủng hoảng và đón đầu cơ hội mới. Vì
vậy, tất cả mọi nhà quản lý doanh nghiệp cũng như quản lý kinh tế hiện nay đều
đang phải đối mặt với một bài toán khó khăn: làm thế nào để thu hút dòng vốn của
các nhà đầu tư quay trở lại Thị trường chứng khoán.
2
Xét theo nguồn gốc của dòng vốn thì trên Thị trường chứng khoán có 2 dạng
nhà đầu tư: nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đã có rất nhiều nghiên
cứu được đưa ra nhằm thu hút và lôi kéo dòng vốn ngoại từ các nhà đầu tư nước
ngoài tham gia vào Thị trường chứng khoán Việt Nam, tuy nhiên, dòng vốn đầu tư
trong nước – vốn đóng vai trò quan trọng không kém trong việc vực dậy Thị trường
chứng khoán cũng như huy động vốn cho doanh nghiệp – lại không được chú trọng
bằng. Với quy định ràng buộc nhà đầu tư nước ngoài chỉ được tham gia tối đa 49%
vốn điều lệ của công ty trên Thị trường chứng khoán Việt Nam thì có thể nói dòng
vốn nội vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong việc góp phần nâng đỡ Thị trường những
lúc khó khăn như hiện tại. Chính vì vậy, người viết chọn đề tài “Thu hút dòng vốn
đầu tư trong nước vào Thị trường chứng khoán niêm yết ở Việt Nam” nhằm
gợi mở và đóng góp những quan điểm, giải pháp của cá nhân người viết vào một
vấn đề tuy mới nhưng lại ảnh hưởng đến sự sống còn của Thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tập trung đi sâu vào thực
trạng của dòng vốn đầu tư trong nước trên Thị trường chứng khoán niêm yết tại
Việt Nam, bao gồm Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và tìm hiểu những hạn chế cùng những

nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ muốn tồn tại và cạnh tranh được không còn cách nào
khác là phải mở rộng quy mô hoạt động nhằm tăng sức cạnh tranh của mình. Đến
lúc đó, nhu cầu về vốn xuất hiện và trong xã hội cũng phân hóa thành 2 nhóm: một
nhóm người có vốn trong tay nhưng không hoặc chưa có mục đích sử dụng số vốn
đó và nhóm còn lại là những người cần vốn để sử dụng.
Thời gian đầu, do hạn chế về mặt thông tin, địa lý và phương tiện nên 2
nguồn cung – cầu về vốn này muốn gặp được nhau phải thông qua một trung gian
tài chính, là những cá nhân hay tổ chức có mối quan hệ rộng, am hiểu thị trường, có
nhiệm vụ huy động vốn từ những người thừa vốn và điều chuyển đến cho những
người thiếu vốn. Hình thức này được gọi là kênh dẫn vốn gián tiếp và đại diện trung
gian tài chính tiêu biểu của hình thức này là hệ thống ngân hàng, chủ yếu cung cấp
các khoản vay ngắn hạn nhẳm bổ sung nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp.
Sau đó, khi công nghệ và các phương tiện thông tin đã phát triển thì những
tin tức về nguồn cung và cầu vốn được truyền đi rộng rãi và đầy đủ đến mọi thành
viên trên thị trường. Nhờ vậy mà những người nắm giữ vốn và những người thiếu
vốn không cần phải thông qua các trung gian tài chính mà tự tìm đến hợp tác với
nhau. Khi đó, các kênh dẫn vốn trực tiếp ra đời và giúp khắc phục những nhược
điểm của kênh dẫn vốn gián tiếp như chi phí vay cao làm cho lợi nhuận bị phân
phối, người có vốn không được chủ động lựa chọn đối tượng nhận vốn, thời hạn cấp
vốn thường chỉ là ngắn và trung hạn,… Sự ra đời các kênh dẫn vốn trực tiếp tạo ra
thêm một sự lựa chọn cho những nhà đầu tư trên thị trường tài chính nhằm tối đa
hóa lợi ích mang lại từ đồng vốn của mình. Trong số đó, thị trường chứng khoán
được xem là một kênh dẫn vốn trực tiếp phổ biến và phát triển mạnh mẽ nhất tính
đến thời điểm hiện tại.
5
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trường
vốn. Theo cách hiểu phổ biến, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch
mua bán (bao gồm cả việc phát hành), trao đổi, chuyển nhượng các loại giấy tờ có
giá (chứng khoán) trung và dài hạn (trên 1 năm) (Sử Đình Thành, 2008, tr.375).
1.1.2. Chức năng của Thị trường chứng khoán

TTCK được xem là “phong vũ biểu” của nền kinh tế, là nơi có khả năng dự
báo cũng như phản ánh khá chính xác và kịp thời những diễn biến dù là nhỏ nhất
của nền kinh tế một đất nước và cả thế giới. Về mặt vi mô, khi nhìn vào một loại
chứng khoán sẽ giúp cho nhà đầu tư và nhà quản lý nhận biết được giá trị, tình
hình hoạt động cũng như sức mạnh tài chính của một doanh nghiệp hoặc một
ngành, một lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế, từ đó dễ dàng có sự so sánh, đánh
giá giữa các doanh nghiệp với nhau
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể chào bán hoặc mua lại các loại trái
phiếu nhằm thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt của
mình nhằm kích thích kinh tế hay kiềm chế lạm phát. Ngoài ra, thông qua những
chính sách, quy định mang tính hành chính bắt buộc, Chính phủ còn có thể tác
động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư, “nắn” dòng chảy vốn vào những lĩnh
vực mong muốn, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các khu vực kinh tế theo
định hướng của Nhà nước.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Về mặt cơ cấu tổ chức, nếu dựa trên đặc điểm lưu chuyển của dòng vốn thì
chúng ta có thể chia TTCK ra làm 2 cấp:
• Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán, trao đổi các loại chứng khoán mới
phát hành ra công chúng (Sử Đình Thành, 2008, tr.375). Trên thị trường này,
vốn từ những nhà đầu tư mua chứng khoán sẽ chảy trực tiếp vào doanh nghiệp
hoặc chủ thể phát hành. Đây là thị trường duy nhất mang vốn đến cho chủ thể
phát hành, mọi giao dịch của chứng khoán đó về sau không ảnh hưởng đến
nguồn vốn điều lệ của công ty.
• Thị trường thứ cấp: là thị trường mua bán, trao đổi các loại chứng khoán đã
phát hành trên thị trường sơ cấp (Sử Đình Thành, 2008, tr.375). Khác với thị
trường sơ cấp, luồng vốn trên thị trường thứ cấp chỉ luân chuyển giữa những
người đầu tư và kinh doanh chứng khoán (như các công ty môi giới, các tổ chức
cho vay kinh doanh chứng khoán) với nhau, không ảnh hưởng đến số vốn điều
lệ ghi nhận trên sổ sách của doanh nghiệp hay chủ thể phát hành khác.
7

đem toàn bộ số vốn đó đi đầu tư, có thể là đầu tư vào các doanh nghiệp chưa
niêm yết bằng cách góp vốn, mua cổ phần hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp
8
trên sàn niêm yết bằng cách mua chứng khoán của doanh nghiệp đó và chia lợi
nhuận cho những nhà đầu tư cá nhân theo tỷ lệ vốn góp.
Tại Việt Nam, hiện có 5 chứng chỉ quỹ được niêm yết trên TTCK, và toàn bộ đều
thuộc sàn HOSE, bao gồm Quỹ đầu tư tăng trưởng Manulife (MAFPF1), Quỹ đầu
tư cân bằng Prudential (PRUBF1), Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VFMVF1),
Quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VFMVF4) và Quỹ đầu tư năng động
Việt Nam (VFMVFA).
1.1.5. Chỉ số giá chứng khoán
Mỗi loại chứng khoán niêm yết trên thị trường đều có một mức giá xác định
của nó trong từng phiên giao dịch dựa trên kết quả giao dịch khớp lệnh của nhà đầu
tư đối với chứng khoán đó trong phiên. Nhìn vào đó người ta có thể biết được sự
biến động về giá, tăng hoặc giảm bao nhiêu phần trăm. Tuy nhiên, để xác định “giá”
của toàn bộ TTCK nói chung không phải đơn giản, vì yêu cầu đầu tiên là mức “giá”
đó phải phản ánh được toàn bộ diễn biến giá của hàng trăm loại chứng khoán khác
nhau được niêm yết trên thị trường. Vì vậy, để ghi nhận và đánh giá tình hình phát
triển của TTCK, người ta sử dụng một công cụ gọi là Chỉ số giá chứng khoán.
Có nhiều cách tính chỉ số giá chứng khoán, và mỗi thị trường tại mỗi quốc
gia đều có riêng cách tính cho bộ chỉ số của mình. Tuy nhiên, nhìn chung thì
phương pháp được sử dụng nhiều và rộng rãi nhất chính là phương pháp tính chỉ số
bình quân gia quyền Passcher. Phương pháp này tính sự biến động theo % của giá
ngày hiện tại so với ngày gốc với cùng giá trị quyền số là số lượng chứng khoán
niêm yết ở ngày hiện tại. Công thức tính như sau:


×
×
=

Phương pháp tính chỉ số này được sử dụng ở hầu hết những TTCK lớn trong
khu vực và trên thế giới như Mỹ (Chỉ số S&P 500), Hàn Quốc (KOSPI), Anh
(FTSE-100), Nhật (TOPIX), Hong Kong (Hang Seng),… Con số phía sau các chỉ số
là để chỉ số lượng cổ phiếu nằm trong rổ đại diện, như S&P 500 là chỉ số được tính
dựa trên biến động giá của 500 cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất TTCK Mỹ.
Ở Việt Nam cũng sử dụng phương pháp này với bộ chỉ số giá VN-Index trên
sàn HOSE và HNX-Index trên sàn HNX. Về quy định chọn rổ hàng hóa đại diện, cả
2 sàn chứng khoán của Việt Nam đều sử dụng tất cả các cổ phiếu niêm yết trên thị
trường để đưa vào rổ tính chỉ số. Những ưu và nhược điểm của việc tính chỉ số giá
này của TTCK Việt Nam sẽ được đề cập trong các phần sau.
1.1.6. Các chủ thể tham gia Thị trường chứng khoán
Các chủ thể tham gia TTCK Việt Nam bao gồm:
• Nhà phát hành: là những tổ chức có nhu cầu về vốn và thực hiện huy động
vốn thông qua TTCK bằng việc cung cấp các loại chứng khoán khác nhau cho thị
trường. Nhà phát hành trên TTCK bao gồm những đối tượng sau:
- Chính phủ và chính quyền địa phương.
- Tổ chức tài chính.
- Doanh nghiệp
• Nhà đầu tư: theo khoản 10 điều 6 Luật chứng hoán 2006 thì nhà đầu tư là
“tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên
thị trường chứng khoán”. Theo định nghĩa trên, có nhiều căn cứ để phân loại nhà
đầu tư trên TTCK. Nếu căn cứ vào quy mô tổ chức thì chúng ta có thể phân biệt nhà
đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức. Còn nếu căn cứ vào nguồn gốc của nhà đầu tư
thì chứng ta có thể chia ra nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Đây là
đối tượng nghiên cứu chính của chúng ta trong đề tài này.
• Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
Bao gồm các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, các trung gian tài chính có hoạt
động bao gồm một hay một số nghiệp vụ như môi giới, tự doanh chứng khoán, tư
vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý tài sản, quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán.

thúc đẩy kinh tế phát triển.
Một diễn biến nữa càng làm nâng cao vai trò của dòng vốn trong nước trên
TTCK hiện nay là tình hình huy động vốn của doanh nghiệp qua hệ thống ngân
hàng đang gặp nhiều khó khăn. Như chúng ta đều biết, về cơ bản có 2 cách để một
doanh nghiệp thực hiện huy động vốn: một là đi vay thông qua hệ thống các ngân
hàng thương mại, hai là phát hành cổ phiếu và trái phiếu trên TTCK. Thế nhưng với
11
tình hình lãi suất cho vay hiện nay của các ngân hàng đều ở mức rất cao, 17 – 18%,
cá biệt có ngân hàng chào mức lãi suất trên 20% kèm theo những điều kiện cho vay
và trả nợ khắt khe đã làm cho việc tiếp cận nguồn vốn này của đa số các doanh
nghiệp đều đang gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, tuy nói TTCK sơ cấp là nơi tạo vốn cho doanh nghiệp, là thị
trường quan trọng cần sự hỗ trợ ngay lúc này nhưng cũng không thể xem nhẹ vai
trò của thị trường thứ cấp. Nhiệm vụ quan trọng nhất của TTCK thứ cấp chính là
tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán, từ đó giúp cho việc phát hành trên thị
trường sơ cấp trong những lần sau có nhiều khả năng thành công hơn Nếu không
có thị trường thứ cấp thì nhà đầu tư sẽ phải gặp nhiều khó khăn và mất thời gian
hơn trong việc tự tìm người có nhu cầu mua chứng khoán và sẽ không còn mặn mà
với những đợt phát hành tiếp theo, từ đó gây khó cho việc huy động của doanh
nghiệp. Vì vậy, các biện pháp nhằm hỗ trợ và khắc phục những hạn chế hiện nay
của thị trường thứ cấp cũng cần được xem xét một cách nghiêm túc và khoa học,
tránh để xảy ra hiện tượng cổ phiếu bị chính các nhà đầu tư trong nước thờ ơ.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong nước
trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
Hiểu rõ vai trò quan trọng của dòng vốn đầu tư trong nước trên TTCK, bước
tiếp theo chúng ta cần tìm hiểu những yếu tố nào có thể tác động đến việc ra quyết
định đầu tư của các nhà đầu tư trong nước trên thị trường, là những chủ thể nắm giữ
dòng vốn đó. Trong phần này, chúng ta chỉ tìm hiểu các khái niệm, xu hướng tác
động cũng như tình hình cơ bản hiện tại của những yếu tố đó trên thị trường. Việc
đi sâu tìm hiểu thực trạng cũng như phân tích sự ảnh hưởng của những yếu tố này

TTCK khi mà lãi suất đó phản ánh xu hướng chủ đạo của lạm phát. Nói cách khác,
chỉ khi nào lãi suất giảm và lạm phát cũng có xu hướng giảm thì giá cổ phiếu mới
có thể tăng bền vững và ngược lại, lãi suất tăng và lạm phát cùng tăng thì cổ phiếu
sẽ rớt giá. Bởi vì trong trường hợp lạm phát thấp nhưng lãi suất cao, điều này cũng
có thể báo hiệu một nền kinh tế đang trong quá trình tăng trưởng và nhu cầu về vốn
đang lấn át nguồn cung khiến cho lãi suất tăng cao. Khi đó, việc đầu tư vào cổ phiếu
có thể vẫn sẽ mang lại những khoản lãi lớn và nhà đầu tư vẫn sẵn sàng tham gia vào
thị trường.
• Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: đây được
xem như là một rào cản do các nhà quản lý đặt ra trong trường hợp muốn ngăn sự
phát triển quá nóng của TTCK khi tăng thuế đánh trực tiếp lên thu nhập của các nhà
đầu tư trên thị trường, làm giảm lợi nhuận của họ. Ngược lại, trong những lúc thị
13
trường gặp khó khăn do thiếu thanh khoản, việc giảm thuế sẽ có tác dụng kích thích
các nhà đầu tư quay trở lại thị trường.
• Chính sách tín dụng của Chính phủ đối với chứng khoán: đây là biện pháp
nhằm tăng cường hay hạn chế nguồn cung tiền từ các tổ chức tín dụng đổ vào
TTCK. Một số nhà đầu tư chứng khoán muốn tăng tỷ suất lợi nhuận trên một đồng
vốn mình bỏ ra thường hay sử dụng những khoản vay từ ngân hàng và các tổ chức
tín dụng. Ví dụ một nhà đầu tư bỏ 10 đồng vốn mua cổ phiếu và cổ phiếu sau đó
tăng giá 50% thì lợi nhuận của người đó là 5 đồng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn là
50%. Trong trường hợp người đó đi vay thêm 10 đồng để mua 20 đồng cổ phiếu thì
lợi nhuận tương đương sẽ là 10 đồng, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn là 100% (chưa trừ lãi
vay). Đây gọi là việc sử dụng đòn bẩy tài chính, chính điều này làm tăng sức hấp
dẫn của TTCK so với các kênh đầu tư khác. Vì vậy, khi Nhà nước có quy định buộc
các ngân hàng siết nguồn cho vay để kinh doanh chứng khoán thì những nhà đầu tư
này không còn tìm thấy sự hấp dẫn trên Thị trường, và sẽ đi tìm kênh đầu tư khác
phù hợp hơn.
• Ngoài ra cũng có một số nguyên nhân từ các yếu tố phi kinh tế như chính trị,
an ninh – xã hội cũng ảnh hưởng đến TTCK, từ đó tác động đến các nhà đầu tư.

cao hơn thì thường sẽ được các nhà đầu tư đánh giá cao. Tuy nhiên, khi sử dụng
ROA, các nhà đầu tư cũng cần phải xem xét đến tỷ lệ đòn bẩy, tức trong 1 đồng tài
sản đó có bao nhiêu phần trăm là vốn vay và lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được
có đủ bù đắp chi phí lãi vay hay không, nếu không thì doanh nghiệp sẽ gặp phải rủi
ro thanh khoản khi các khoản vay đến hạn. Một điều cần lưu ý nữa là các tỷ lệ trên
giữa các ngành nghề khác nhau là không giống nhau, cho nên việc so sánh ROE,
ROA hay tỷ lệ đòn bẩy giữa các nhóm ngành nghề khác nhau là không có ý nghĩa
và không giúp ích được cho việc ra quyết định của nhà đầu tư.
Ngoài các chỉ tiêu trên, tình hình hoạt động và quản lý doanh nghiệp cũng
nằm trong số những quan tâm của các nhà đầu tư. Những thông tin về việc doanh
nghiệp cải tiến dây chuyền sản xuất, phát minh ra một công nghệ mới có khả năng
ứng dụng trong sản xuất hay việc mở rộng thị trường tiêu thụ,… thường thu hút
được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư. Tương tự như vậy với việc thay đổi nhân
sự quản lý hoặc định hướng chiến lược phát triển công ty, nếu những thay đổi đó
được đánh giá là tích cực và khả thi sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư, đặc biệt là những
nhà đầu tư dài hạn, sẵn sàng bỏ vốn vào giúp doanh nghiệp tiếp tục phát triển và
thực hiện những mục tiêu của mình.
1.3.3. Các trường phái đầu tư
Đối với các nhà đầu tư chứng khoán trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng, việc ra một quyết định đầu tư không chỉ đơn thuần là những nhận định,
15
phán đoán mang tính chủ quan của bản thân nhà đầu tư mà thường phải dựa trên
nền tảng của những phân tích, nghiên cứu chặt chẽ, khoa học. Trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện các kỹ thuật phân tích chứng khoán đã chia thành hai
trường phái cùng tồn tại và phát triển song song với nhau.
Trường phái thứ nhất là ra quyết định đầu tư dựa theo phân tích cơ bản.
Phân tích cơ bản là những phân tích, tính toán các chỉ tiêu về giá và khả năng sinh
lời của cổ phiếu dựa trên những số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu mà nhà đầu tư thường hay quan tâm nhất là tỷ lệ giá cổ phiếu/thu nhập
(P/E), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS – earning per share), giá trị sổ sách của cổ

đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với chung toàn
bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu
thế có thể xảy ra trong tương lai (Roberb D. Edwards và John Magee, 2001, tr.4).
Những giả định làm cơ sở để hình thành phương pháp này là: giá của cổ phiếu do
quan hệ cung – cầu trên Thị trường xác định, nó đã bao gồm tất cả các thông tin vi
mô, vĩ mô nên những thông tin đó không còn tác động đến sự biến động của giá; sự
thay đổi trong khuynh hướng hiện tại là do thay đổi tương quan cung – cầu và sớm
muộn cũng sẽ được nhận diện thông qua phản ứng của chính Thị trường; và cuối
cùng là lịch sử có tính tự lặp lại trong những điều kiện tương tự nhau (về giá và
khối lượng). Các nhà đầu tư kỹ thuật thường sử dụng những mô hình và lý thuyết
nổi tiếng như lý thuyết sóng Elliot, lý thuyết Dow, mô hình hai đáy, mô hình đỉnh –
đầu – vai,… trong quá trình phân tích kỹ thuật.
Lợi thế nổi bật của phương pháp phân tích kỹ thuật là về mặt thời gian. Tư
liệu đầu vào dễ kiếm, chính xác, không mất thời gian phân tích tình hình ngành và
doanh nghiệp nên nhà đầu tư có thể đưa ra những quyết định nhanh chóng và kịp
thời. Thêm nữa, nó còn có thể xác định được đâu là thời điểm tham gia cũng như
rời khỏi Thị trường với độ chính xác đến từng phiên giao dịch, giúp nhà đầu tư đạt
được lợi nhuận cao nhất. Chính vì vậy, trường phái này phù hợp với những nhà đầu
tư cơ hội ngắn hạn do yêu cầu phải đưa ra quyết định ngay khi thời cơ xuất hiện đôi
khi chỉ trong vài giây.
Ngược lại, do phương pháp này dựa quá nhiều trên những giả định nên
nhược điểm lớn nhất của nó chính là việc trong thực tế, một trong số các giả định
đó rất nhiều khả năng không thể thỏa mãn, từ đó sẽ làm sai lệch kết quả phân tích,
ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư.
17
Hai trường phái trên tuy khác nhau hoàn toàn về bản chất và phương pháp
nhưng trong một số trường hợp lại không phủ định mà còn bổ sung, hỗ trợ nhau để
giúp các nhà đầu tư ra quyết định một cách tự tin và chính xác hơn.
1.3.4. Tâm lý của nhà đầu tư
Với hai phương pháp phân tích trên, có lẽ mọi người đều sẽ nghĩ đầu tư vào

thời điểm hợp lý để tách khỏi “bầy”, bởi chỉ cần những nhà đầu tư “đầu đàn” –
những người đã hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng hiện tại – đột ngột tách khỏi
“đàn” thì lập tức “bầy đàn” sẽ trở nên hỗn loạn và xu hướng hiện tại sẽ nhanh chóng
đảo chiều. Lúc đó những người lãnh hậu quả nặng nề nhất chính là những người
vẫn còn đi theo xu hướng đó – những ngươi vẫn còn mang trong mình một sự cả tin
và xen lẫn chút tham lam rằng thị trường sẽ vẫn tiếp tục như vậy, cứ “cố chờ đợi
thêm một chút nữa xem sao”. Đó là những biểu hiện tâm lý thường thấy của các nhà
đầu tư trên TTCK. Để tránh điều đó, nhà đầu tư không những phải tự học cách kiềm
chế cảm xúc của mình trước mỗi diễn biến của thị trường mà còn phải có khả năng
phán đoán được thời gian của một xu hướng mà mình muốn theo đuổi, từ lúc bắt
đầu đến khi kết thúc, để có những bước đi thích hợp nhằm đạt được lợi nhuận tối
đa. Muốn như vậy thì việc am hiểu tâm lý của thị trường, đặc biệt của những nhà
đầu tư lớn và chuyên nghiệp – những người thường bắt đầu một xu hướng – là một
trong những kỹ năng bắt buộc, mặc dù không phải ai cũng có thể đạt được.
1.3.5. Tính thanh khoản
Theo định nghĩa về mặt tài chính, tính thanh khoản (liquidity) chính là khả
năng một loại tài sản được mua bán trên thị trường mà không làm giảm đi giá trị
của tài sản đó. Tính thanh khoản của chứng khoán là khả năng người nắm giữ
chứng khoán đó có thể bán được nó tại mức giá thị trường hiện tại. Theo lý thuyết
thì nhà đầu tư thường thích nắm giữ những loại chứng khoán có tính thanh khoản
cao hơn, vì trong trường hợp cần tiền để thanh toán hay hiện thực hóa lợi nhuận
cũng như cắt lỗ thì họ đều có thể chuyển đổi số chứng khoán mình sở hữu ra tiền
mặt một cách dễ dàng với một mức giá chấp nhận được.
Trên TTCK, yếu tố được quan tâm nhiều nhất khi nói đến tính thanh khoản
của một loại cổ phiếu và của cả thị trường chính là khối lượng giao dịch. Khối
lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu, chứng khoán được mua và bán trong một
phiên (tuần, tháng,…). Một cổ phiếu càng được nhiều người giao dịch đồng nghĩa
với nguồn cung và cầu của cổ phiếu đó càng lớn, và việc gặp nhau của hai nguồn
cung – cầu này cũng dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó, một yếu tố nữa cũng giúp xác định tính thanh khoản của chứng

tượng trên, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến những nhà đầu tư khác trên Thị trường,
những người đang tìm kiếm cơ hội để trở thành cổ đông hoặc trái chủ của doanh
nghiệp. Đó phải được xem là trách nhiệm, là nghĩa vụ của bản thân doanh nghiệp
niêm yết, của các cơ quan quản lý và các công ty kiểm toán đối với cá nhân các nhà
đầu tư cũng như đối với toàn bộ các thành viên tham gia thị trường. Có như vậy thì
TTCK mới thực sự hấp dẫn và trở nên an toàn hơn trong mắt các nhà đầu tư.
20
1.3.7. Ảnh hưởng của các kênh đầu tư khác
TTCK về bản chất cũng chỉ là một kênh đầu tư, vì vậy nhà đầu tư hoàn toàn
có thể lựa chọn cho mình một kênh đầu tư khác phù hợp hơn với yêu cầu về tỷ suất
lợi nhuận và mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Hai yếu tố này luôn tồn tại song
song với nhau, lợi nhuận lớn luôn đi cùng với rủi ro cao, và ngược lại. Đó chính là
quy luật cơ bản mà bất cứ nhà đầu tư nào cũng thuộc lòng. Và một khi có một kênh
đầu tư nào đó có thể đáp ứng được cả kỳ vọng lợi nhuận và khả năng chấp nhận rủi
ro của nhà đầu tư thì họ sẽ lập tức rời bỏ kênh đầu tư hiện tại để chuyển dòng vốn
của mình sang kênh mới. Hiện tại ở Việt Nam, ngoài TTCK, các nhà đầu tư trong
nước còn có thể bỏ vốn của mình vào những kênh đầu tư sau:
Gửi tiết kiệm: đây có thể xem là một nghịch lý của hệ thống tài chính của
Việt Nam. Ở các nước, lãi suất tiền gửi tiết kiệm rất thấp, xấp xỉ ở mức bằng 0%,
thậm chí một số nước còn buộc người gửi tiền đóng phí cho ngân hàng, xem như đó
là dịch vụ giữ hộ tiền cho người dân của ngân hàng. Nhưng nhìn chung thì mức lãi
suất tiền gửi so với lạm phát thường là thực âm. Còn ở Việt Nam thì từ nhiều năm
nay, lãi suất ngân hàng luôn ở mức cao hơn lạm phát, tức lãi suất là thực dương.
Chính vì vậy, người dân chỉ cần đơn giản đem tiền của mình gửi vào ngân hàng,
định kỳ đến ngân hàng rút lãi. Đây có thể xem là kênh đầu tư an toàn nhất, rủi ro
mất vốn là vô cùng thấp, trong khi vẫn có lãi. Từ đó hình thành nên tâm lý của đại
đa số người dân là thích gửi tiền vào ngân hàng hơn là mang số tiền ấy đi đầu tư,
ảnh hưởng đến việc huy động vốn của kênh chứng khoán.
Đầu tư bất động sản: thị trường bất động sản được đánh giá là có tính thanh
khoản kém xa TTCK do giá trị tài sản trên thị trường này khá lớn và nguồn cầu tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status