BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
ĐO LƯỜNG KÊNH TRUYỀN DẪN TIỀN TỆ -
HIỆU ỨNG ERPT Ở VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU
KHỦNG KHOẢNG TÀI CHÍNH THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ i
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình vecto tự hồi quy có cấu trúc (VAR/SVAR) để
đánh giá chính sách tiền tệ nói chung và tỷ giá hối đoái nói riêng của một quốc gia có
nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế sẽ thích ứng như thế nào
trước những cú sốc về tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái. Đo lường tác động từ những cú
sốc của chính sách tiền tệ bằng nhiều biến khác nhau, phân tích độ nhạy của các biến
kinh tế trong nước trước sự thay đổi của các cú sốc từ chính sách tiền tệ nhằm mục
đích tìm hiểu xem cơ chế truyền dẫn chính sách này đã thay đổi như thế nào trước và
2.2. Vai trò của cơ chế truyền dẫn trong điều hành chính sách tiền tệ 13
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU 16
3.1. Mô hình thực nghiệm 16
3.2. Lựa chọn các biến mô hình và cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích 19
3.3. Cấu trúc và các kiểm định mô hình 21
3.3.1. Cấu trúc mô hình trong trường hợp ở Việt Nam 21
3.3.2. Kiểm tra tính dừng của các biến và độ trễ trong mô hình 23
3.4. Hàm xung lực phản hồi và phân tích phương sai 26
3.4.1. Hàm xung lực phản hồi: 26
3.4.2. Phân tích phương sai 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH 29
4.1. Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ, tỷ giá tới nền kinh tế 29
4.1.1. Phản ứng của lãi suất VND đối với các cú sốc từ bên ngoài nền kinh tế
29
iii
4.1.2. Phản ứng của nền kinh tế trong nước bao gồm: sản lượng công nghiệp, giá
cả và lãi suất trước biến động lãi suất của FED 30
4.1.3. Phản ứng của nền kinh tế bao gồm sản lượng công nghiệp, cung tiền M2
và lãi suấttrước các biến động về sản lượng và giá cả hàng hóa nội địa 31
4.1.4. Phản ứng của các biến chính sách tiền tệ đối với sự thay đổi về cung tiền,
lãi suất và tỷ giá 34
4.1.5. Phản ứng của mức giá cả trước biến động tỷ giá, cung tiền và lãi suất 37
4.2. Phân tích Variance Decompositionđể đánh giá mức độ tác động trong ngắn
hạn và trung hạn 38
4.3 Đo lường mức độ và độ trễ của tác động của hiệu ứng ERPT lên lạm phát
trước và sau đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 49
PHỤ LỤC
quy
VAR Vector autoregression – Mô hình tự hồi quy vectơ
WTO Tổ chức Thương mại thế giới.
v DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các biến trong mô hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR) 20
Bảng 3.2: Cấu trúc ma trận A
0
22
Bảng 3.3: Cấu trúc ma trận B(L) 22
Bảng 3.4: Kiểm định tính dừng của số liệu (sai phân bậc 1) 23
Bảng 3.5:Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình theo 5 tiêu chuẩn (2004-2007) 24
Bảng 3.6:Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình theo 5 tiêu chuẩn (2008-2011) 24
Bảng 3.7:Kiểm định tương quan phần dư cho hai giai đoạn 25
Bảng 3.8:Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình theo 5 tiêu chuẩn (2004-2011) 26
Bảng 3.9:Kiểm định tương quan phần dư cho giai đoạn (2004-2011) 26
Bảng 4.1:Các nhân tố tác động đến sự biến động của sản lượng, CPI, M2, Lãi suất và
Tỷ giá trước khủng khoảng 39
Bảng 4.2:Các nhân tố tác động đến sự biến động của sản lượng, CPI, M2, Lãi suất và
Tỷ giá sau khủng khoảng 40
Bảng 4.3:Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình theo 5 tiêu chuẩn (2004-2007) 42
Bảng 4.4:Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình theo 5 tiêu chuẩn (2008-2011) 43
Bảng 4.5:Kiểm định tương quan phần dư cho hai giai đoạn 43
Bảng 4.6: Hệ số Pass-through giai đoạn trước khủng hoảng 44
LỜI MỞ ĐẦU
Kuttner và Mosser (2002) và Clinton và Engert (2000) đã chỉ ra rằng, hiệu quả
của chính sách tiền tệ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của các nhà hoạch định chính
sách có thể đánh giá chính xác về thời điểm và hiệu quả của việc điều hành chính sách
tiền tệ thông qua các kênh truyền dẫn sẽ tác động như thế nào tới hoạt động kinh tế và
kiểm soát giá cả.
Kể từ sau khủng hoảng kinh tế 2007-2008, Việt Nam cùng với các nước trong
khu vực đã tiến hành những thay đổi mạnh mẽ trong việc thực hiện của chính sách tiền
tệ và lựa chọn các cơ chế điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với đặc điểm, quy mô
của nền kinh tế cũng như phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế. Một số nước đã
lựa chọn cơ chế điều hành chính sách tiền tệ được đặc trưng bởi mức độ tự chủ cao
trong việc điều hành chính sách tiền tệ hay việc lựa chọn các chế độ tỷ giá và mức độ
tự do dòng vốn quốc tế với mục tiêu chính là hướng tới một thị trường tiền tệ ổn định,
minh bạch, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định giá cả hàng hóa trong nước. Để có thể điều
hành chính sách tiền tệ hiệu quả và đảm bảo đạt được các mục tiêu vĩ mô đề ra cũng
như đánh giá các tác động bên trong và bên ngoài nền kinh tế đem lại, Ngân hàng
Trung ương (NHTƯ) nhiều nước đã tiến hành phân tích và đánh giá cơ chế truyền dẫn
tiền tệ của nước mình thông qua các nghiên cứu định lượng để từ đó đề ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ cũng như các giải pháp nhằm hạn
chế các tác động tiêu cực hoặc tận dụng các cơ hội trong quá trình hội nhập và tự do
hóa thị trường tài chính. Đối với Việt Nam, việc phân tích và đánh giá cơ chế truyền
dẫn tiền tệ, hiệu ứng ERPT đã được đề cập đến tại một số các nghiên cứu trong và
ngoài nước, tuy nhiên, việc tiếp cận phân tích định lượng vẫn còn hạn chế trong nhiều
nghiên cứu. Hy vọng góp chút gì đó về mặt định lượng trong nghiên cứu, phân tích
chính sách kinh tế Việt Nam thời gian qua. Đó là lý do nhóm thực hiện đề tài này. GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
3
Phần 3: Sử dụng phương pháp VAR/SVAR đo lường cơ chế truyền dẫn của
chính sách tiền tệ, hiệu ứng ERPT lên các yếu tố kinh tế vĩ mô của Việt Nam trước và
sau khủng hoảng 2008.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Bài nghiên cứu liên kết và phát triển các xu hướng nghiên cứu trên thế giới
nhưng áp dụng ở thực tiễn Việt Nam hiện nay về đo lường tác động hiệu ứng “pass-
through” của chính sách tiền tệ, tỷ giá lên nền kinh tế. Cung cấp những cách tiếp cận
mới về kinh tế vĩ mô thực nghiệm ở Việt Nam. Áp dụng mô hình đạt giải Nobel 2011
củaSims và Thomas Sargent giúp nhận diện và giải thích của cú sốc kinh tế trong dữ
liệu lịch sử, và giúp phân tích xem những cú sốc ấy dần dần tác động ra sao tới các
biến số vĩ mô khác. Đó cũng là nền tảng cho việc ban hành chính sách kinh tế của
nhiều nước gần đây.
Hướng phát triển của đề tài
Bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở đo lường định lượng tác động pass-through của chính
sách tiền tệ, tỷ giá tới các biến vĩ mô của nền kinh tế. Trên thế giới đã có nhiều nghiên
cứu về chủ điểm này nhưng ở Việt Nam còn rất hạn chế như:
Phân tích tác động “pass-through” của chính sách tài khóa đến hoạt động của
nền kinh tế.
Nghiên cứu về tác động truyền dẫn của những cú sốc thuế đối với hoạt động của
nền kinh tế.
Kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ trong điều hành kinh tế khi đã có những
đánh giá đúng về các kênh truyền dẫn tác động của 2 chính sách này.
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo4
5
truyền dẫn chính sách tiền tệ trong việc lan truyền tác động những cú sốc đến các thành
phần nền kinh tế Malaysia.
Còn trong bài nghiên cứu “Pass through Effect of Exchange Rate and Monetary
Policy in Sri Lanka” ( 1/2012), hai tác giả Sooriyakumar Krishnapillai và Henry
Thompson kiểm tra hiệu quả của chính sách tiền tệ trong cú sốc tỷ giá hối đoái mục
tiêu giữa các giai đoạn khác nhau ở Sri Lanka.Kết quả cho thấy gần đây chính sách tiền
tệ theo tỷ giá mục tiêu khá phổ biến chứ không nhắm theo lạm phát mục tiêu. Nguyên
nhân tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian gần đây ở Sri Lanka là do Ngân hàng trung
ương mua trái phiếu phát hành bởi chính phủ để tiền tệ hóa chi tiêu quốc phòng và tăng
tiền lương của nhân viên chính phủ trong giai đoạn này do mục đích chính trị, do đó
dẫn đến lạm phát và sự biến dạng chính sách tiền tệ. Tăng trưởng kinh tế có thể giảm
trong dài hạn nếu chính sách tiền tệ không hoạt động tối ưu trên lạm phát và tỷ giá hối
đoái mục tiêu.
Phân tích tác động của các kênh truyền dẫn tiền tệ và lãi suất, Besiik
Samkharadze đã sử dụng phương pháp VAR để phân tích tác động của các kênh truyền
dẫn tiền tệ và lãi suất ở nước Georgia từ 2002 đến 2007 (Monetary Transmission
Mechanism in Georgia: Analyzing Pass-Through of Different Channels, 2008). Kết
quả thực nghiệm từ bài nghiên cứu này cho thấy tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất cũng ảnh hưởng đáng kể thông qua GDP thực và lạm
phát. Đặc biệt ở Georia cung tiền bằng đổng tiền quốc gia thì có ảnh hưởng mạnh lên
sản lượng còn tổng cung tiền tổng thể thì hầu như không tác động. Và chính sách tiền
tệ nói chung, chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp đều có tác động đến sản lượng
thực và lạm phát ở Georgia.
Không chỉ nghiên cứu tác động “pass-through” của chính sách tiền tệ, chính
sách tài khóa cũng được nghiều nhà nghiên cứu trên thế giới phân tích. Như RAFAEL
RAVNIK và IVAN ŽILIĆ trong bài nghiên cứu “The use of SVAR analysis in
determining the effects of fiscal sốcs in Croatia” (2010) đã sử dụng phương pháp đa
biến Blanchard-Perotti SVAR để phân tích ảnh hưởng riêng biệt của chính sách tài
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
động của cú sốc tỷ giá đến giá tiêu dùng có độ trễ khoảng 10 tháng, sau 15
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo7
tháng các tác động của một cú sốc tỷ giá hối đoái trên giá nhập khẩu và giá tiêu
dùng được loại bỏ hoàn toàn. Ngân hàng Nhà nước là có thể áp dụng chính sách tiền
tệ mạnh mẽ hơn để đối phó với biến động trong thị trường tài chính do hiệu ứng ERPT
chỉ ở mức trung bình.
Đối với Việt Nam, việc phân tích và đánh giá cơ chế truyền dẫn tiền tệ đã được
đề cập đến tại một số các nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên, việc tiếp cận phân
tích định lượng vẫn còn hạn chế trong nhiều nghiên cứu. Do vậy, nhóm thực hiện bài
nghiên cứu định lượng này nhằm đóng góp một chút gì đó về mặt định lượng trong các
phân tích và đánh giá cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam nhất là giai đoạn cải cách
kinh tế hậu khủng khoảng. Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp mô hình cấu
trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR) để mô hình hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ của một
nền kinh tế thị trường với độ mở lớn như Việt Namtrước và sau năm 2008. Phương
pháp này được xem là linh hoạt vì nó có thể chứa nhiều mối quan hệ giữa các biến số
kinh tế vĩ mô dựa trên lý thuyết kinh tế và lần lượt cho phép chúng ta xác định được
những cú sốc tiền tệ trực giao. GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo8
2. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG “PASS-THROUGH” CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ
2.1. Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ
Trong một nền kinh tế mở có sự giao lưu với thế giới bên ngoài, thị trường
Đối với tiêu dùng và đầu tư: khi khối cung tiền tăng lên làm cho mức lãi suất
giảm xuống khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế chi tiêu, đầu tư nhiều hơn. Về
phía cá nhân hộ gia đình được lợi do chi phí vốn vay mua hàng hóa giảm xuống nên sẽ
tăng chi tiêu bao gồm chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu hàng hóa lâu bền. Hơn nữa lãi suất
giảm xuống sẽ không hấp dẫn họ gửi tiết kiệm mà họ sẽ tăng chi tiêu nhiều hơn. Đối
với khu vực doanh nghiệp lãi suất vốn vay giảm khiến cho chí phí vay ngân hàng giảm,
dẫn đến các dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh được triển khai mạnh mẽ hơn.
Khi lãi suất thực tăng lên sẽ có tác động ngược lại làm giảm đầu tư, tiêu dùng. Lưu ý
nhu cầu đầu tư nhảy cảm với mức lãi suất thực chứ không phải lãi suất danh nghĩa. Khi
có một sự gia tăng trong cung tiền M, mức giá cả dự tính P* và mức lạm phát dự tính
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo10
f* tăng kéo theo sự giảm xuống của mức lãi suất ir (Hiệu ứng Fisher: ir= I- f*). Có thể
khía quát ảnh hưởng như sau:
M↑→P↑→f*↑→ ir ↓→I ↑→Y ↑
Xét dưới gốc độ ảnh hưởng của thu nhập: lãi suất tiết kiệm giảm xuống người
gửi tiết kiệm bất lợi nhưng người đi vay sẽ được lợi sẽ dẫn tới phân phối thu nhập từ
người gửi tiền sang người vay tiền. Người đi vay sẽ tăng cường vay thêm phục vụ tiêu
dùng đầu tư vào danh mục, dự án đầu tư nhằm tăng thu nhập, trong khi đó người gửi
tiết kiệm sẽ chi tiêu hạn chế do thu nhập sụt giảm. Tuy nhiên sự giảm chi tiêu này thấp
hơn nhu cầu đầu tư tiêu dùng của người đi vay. Do vậy tổng chi tiêu sẽ tăng, GDP sẽ
tăng. Xét trên một khía cạnh khác khi lãi suất không quá hấp dẫn người tiết kiệm họ sẽ
có khuynh hướng nắm giữ tài sản tài chính hơn (như cổ phiếu, trái phiếu,…) giá của
các tài sản tài chính này sẽ tăng khi lãi suất giảm, làm tăng thu nhập của họ và chi tiêu
của họ cũng sẽ tăng lên.
2.1.2. Kênh Tỷ giá
Sự biến động của lượng cung tiền sẽ làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Áp dụng mô
các tài sản tài chính(cổ phiếu, trái phiếu) và tài sản thực (bất động sản), do đó mà ảnh
hưởng đến quyết định đầu tư, chi tiêu của các chủ thể kinh tế. Mối quan hệ giữa lãi suất
thị trường, giá cả của thị trường với giá trị của tài sản là nghịch chiều, khi lãi suất thị
trường giảm xuống, các chủ thể sẽ có sự di chuyển vốn sang các kênh đầu tư vào các
tài sản tăng lên, xu hướng đầu tư, tiêu dùng tăng lên sẽ làm tăng GDP. Và ngược lại khi
lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm GDP. Một cách tiếp cận khác là xem xét ảnh
hưởng củaCSTT đến giá cổ phiếu của công ty, thể hiện ở tỷ lệ giữa giá trị thị trường
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo12
của công ty với giá thay thế tài sản. Khi NHTW giảm cung tiền sẽ làm cho giá cổ phiếu
giảm bớt và ngược lại. Có thể khái quát hiệu ứng này như sau:
M↑→P*↑→q↑→I↑→Y↑
Đánh giá chung
Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu như Taylor (1995) nhìn nhận kênh lãi suất truyền
thống hoạt động thông qua chi phí vốn là cực kỳ quan trọng trong cơ chế truyền dẫn
chính sách tiền tệ, nhưng nhiều nhà nghiên cứu khác thì tỏ ra không đồng tình. Một
nghiên cứu gần đây về chi tiêu cho đầu tư tài sản cố định (Chirinko 2009) kết luận rằng
phản ứng của đầu tư đối với biến số giá cả thường nhỏ và không quan trọng so với biến
số lượng. Rõ ràng rằng các mô hình kinh tế vĩ mô được phát triển để lãi suất có ảnh
hưởng lớn nhưng những người sử dụng mô hình đó thường thấy rằng những thay đổi
lãi suất nhỏ trong trường hợp cụ thể thì có ảnh hưởng khiêm tốn.
Mặc dù có thể kênh lãi suất truyền thống không quá quan trọng, chúng ta thấy
rằng việc truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng đưa ra một kênh
khác làm cho việc thay đổi lãi suất có ảnh hưởng quan trọng đến tổng cầu. Có ba lý do
để tin rằng các kênh tín dụng là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn chính sách
tiền tệ. Đầu tiên, có rất nhiều bằng chứng để chứng minh cho quan điểm rằng những
khuyết tật của thị trường tín dụng thực sự có ảnh hưởng đến các quyết định việc làm và
chi tiêu của các doanh nghiệp. Thứ hai, có những bằng chứng, như trong Gertler và
ăn việc làm cao, NHTW có xu hướng tập trung vào các biến số cần đạt được trước khi
đạt được mục tiêu cuối cùng trên cơ sở các tiêu chí: Có thể đo lường được một cách
chính xác và nhanh chóng, có thể kiểm soát được để có thể điều chỉnh mục tiêu đó cho
phù hợp với định hướng của chính sách tiền tệ và có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu
cuối cùng (các biến số này còn gọi là biến trung gian hay mục tiêu trung gian - thường
là các mức lãi suất thị trường hoặc tổng khối lượng tiền cung ứng M1, M2, M3 ) và
các biến số có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ chính sách tiền tệ được
xác định trên cơ sở các tiêu chí: Có thể đo lường được nhằm tránh những sự suy diễn
thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của chính sách tiền tệ, có mối quan hệ trực tiếp
và ổn định với các công cụ của chính sách tiền tệ và có mối quan hệ chặt chẽ, ổn định
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo14
với mục tiêu trung gian được lựa chọn để tác động (các biến số này còn gọi là biến hoạt
động hay mục tiêu hoạt động - bao gồm lãi suất liên ngân hàng, dự trữ không vay, dự
trữ đi vay ).
Thông thường, để tác động đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ, NHTW
thực hiện điều hành các công cụ của mình theo cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp và cơ
chế kiểm soát tiền tệ gián tiếp nhằm tác động đến lãi suất dài hạn, tỷ giá hối đoái, tăng
trưởng tín dụng cũng như giá tài sản cầm cố, thế chấp và thông qua các kênh truyền
dẫn chính sách tiền tệ để tác động tới các biến số vĩ mô của nền kinh tế qua đó đạt
được các mục tiêu cuối cùng.
Cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp là cơ chế tác động của NHTW thông qua việc
sử dụng hệ thống các công cụ trực tiếp (bao gồm các công cụ như hạn mức tín dụng, lãi
suất trần, sàn tín dụng, tín dụng theo chỉ định, tín dụng theo tỷ lệ ký quỹ ) kết hợp với
kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm tác động đến cơ số tiền tệ hay rộng hơn là khối
lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp
này chỉ áp dụng trong điều kiện hoạt động của NHTW kém phát triển, nền kinh tế
đóng, không có sự giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài, một thị trường tài chính
3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU
3.1. Mô hình thực nghiệm
Cho đến cuối thập kỷ 1960, giới nghiên cứu và hoạch định chính sách vĩ mô sử
dụng những mô hình kinh tế thực nghiệm được xây dựng trên cơ sở lý thuyết Keynes
để phục vụ cho công tác phân tích và dự báo kinh tế. Một số mô hình nổi tiếng như
Multimod, Fair, Wharton, Nigem, Murphy bao gồm hàng chục, thậm chí hàng trăm
phương trình biểu diễn các quan hệ kinh tế vĩ mô quan trọng. Mỗi phương trình biểu
diễn quan hệ của một biến số vĩ mô với các biến khác trong mô hình hoặc các biến
ngoại sinh(biến ngoài mô hình). Ví dụ tổng đầu tư của nền kinh tế sẽ là một phương
trình phụ thuộc vào lãi suất và xu hướng FDI, hay lạm phát sẽ phụ thuộc vào cung tiền
và giá nguyên liệu thô trên thế giới. Vào cuối giai đoạn này các nhà kinh tế đã nhận
thấy hai khiếm khuyết quan trọng của nhóm mô hình này. Thứ nhất rất nhiều lý thuyết
cho rằng các biến số kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quan hệ hiện thời mà còn phụ
thuộc vào kỳ vọng trong tương lai, ví dụ điển hình nhất là lãi suất danh nghĩa phụ
thuộc vào kỳ vọng lạm phát. Hầu hết các mô hình lúc đó đều chỉ sử dụng biến ngoại
sinh, nghĩa là yếu tố này phải được xác định bên ngoài mô hình. Rõ ràng đây là một
khiếm khuyết cực lớn vì như vậy những phân tích/dự báo sử dụng các mô hình này
phải phụ thuộc vào giả định của biến ngọai sinh - hay nói cách khác những mô hình
loại này chẳng dự báo được gì vì cần đầu vào là một thứ dự báo khác. Thứ hai, các biến
số nộisinh trong các mô hình đó không thể tương tác qua lại với nhau ngoài một số giả
định rất đơn giản. Điều này dẫn đến vấn đềsau khi ước lượng VAR các phần dư không
có ý nghĩa kinh tế và do vậy không giúp gì cho việc phân tích kết quả mô hình.
Hai nhà kinh tế người Mỹ Thomas Sargent và Christopher Sims trong quá trình
tìm lời giải cho hai thách thức này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực mô hình
hóa kinh tế vĩ mô ( Đây cũng là hai tác giả đoạt giải Nobel Kinh tế 2011). Sims với
một loạt nghiên cứu của mình đã đưa ra một phương pháp mới ước lượng toàn bộ các
phương trình vĩ mô bằng VAR do đó cho phép các biến số có ảnh hưởng qua lại lẫn
nhau. Điểm đặc biệt trong phương pháp của Sims là khả năng phân tách từng cú sốc
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
22110
(1)
Trong đó: Y
t
là véc tơ (Nx1) các biến nội sinh tại thời gian t,
A
i
là ma trận của các tham số (NxN) với i=0, 1, 2, …, p.
và
t
là véc tơ (Nx1) sai số ngẫu nhiên với đặc tính
t
=0
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo18
Phương pháp SVAR giả định rằng những thay đổi trong cấu trúc mô hình là
trực giao, theo đó các thay đổi này không tương quan với phương sai, hiệp phương sai
S. Ma trận A
0
ở (1) trong mô hình SVAR ứng với các biến phụ thuộc.
Các tham số của mô hình SVAR sẽ được ước lượng thông qua 2 giai đoạn. Giai
đoạn 1 là giai đoạn rút gọn hay giản ước mô hình (1) thông qua việc ước lượng các
phương trình sau:
tptpttt
tptpttt
0
A
A
i
, i=1, 2, …, p và v
t
=
1
0
A
ε
t
.
Giai đoạn 2 là giai đoạn xác định các ma trận A
0
và ma trận phương sai-hiệp
phương sai thông qua phương trình sau (theo cấu trúc của Hamilton (1994)):
vAvAAAL
t
)(
2
1
)(log)2/1()2log()2/1(ln
1
0
1