BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính
Giáo viên: Vũ Thị Anh Thư
BẢNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ CỦA CÁC THÀNH VIÊN
STT Họ và tên MSSV Nhiệm vụ
1 Nguyễn Thị Hạnh 030127110383 Tìm số liệu, phân tích thị trường mở
2 Trần Thị Thu Hậu
030127110429
Khái quát thị trường mở ưu nhược, biện pháp
3 Đoàn Thị Hậu
030127110424
Tìm số liệu, phân tích thị trường LNH
4 Nguyễn Văn Hiền 030127110448 Tìm số liệu, phân tích thị trường mở
5 Cao Bảo Long 030127110820 Tìm số liệu, phân tích thị trường LNH
6 Lê Thị Ngọc Lý 030127110860 Khái quát TTLNH, ưu nhược, biện pháp
7 Phí Thị Nga
030127110960
Lý thuyết thị trường mở
8
Huỳnh Thị Tuyết
Ngân
030127110971
Khái quát TTLNH ưu nhược, biện pháp, tổng
hợp bài
9 Trịnh Đỗ Yến Nhi Lý thuyết thị trường mở
10
Nguyễn Thị Kim
Phượng
A. THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG:
I. Khái niệm:
Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng phát triển cùng với sự phát
triển của nền kinh tế. Tuy nhiên mỗi TCTD có những thế mạnh khác nhau vì thế mà
trong quá trình hoạt động, có TCTD thiếu hụt dự trữ hoặc dư thừa vốn. Để giải quyết vấn
đề thiếu hụt vốn tạm thời, các TCTD thiếu vốn có thể đi vay các TCTD thừa vốn để đáp
ứng nhu cầu vốn tạm thời, đảm bảo tín thanh khoản, giảm áp lực tăng lãi suất huy động.
Từ đó hình thành thị trường liên ngân hàng (TTLNH). Đó là nơi trao đổi vốn khả dụng
(vốn ngắn hạn ) của các TCTD, đặc biệt là ngân hàng thương mại (NHTM).
II. Đặc trưng của thị trường:
1. Là thị trường vô hình, liên kết toàn cầu
Thông qua các hệ thống giao dịch hiện đại, các vụ mua bán trên TTLNH được
thực hiện trên cơ sở liên kết toàn cầu. Một ngân hàng ở một quốc gia này có thể giao dịch
với hầu hết với các ngân hàng khác trên thế giới. Do đó sự biến động của một thị trường
(đặc biệt là thị trường lớn) sẽ dẫn đến sự ảnh hưởng sâu sắc đến các thị trường khác,
thậm chí ảnh hưởng đến tất cả thị trường trên toàn cầu.
2. TTLNH là thị trường cực kì nhạy cảm và là thị trường thông tin
TTLNH là một mạng lưới các quan hệ ngân hàng đại lý, ngân hàng này mở tài
khoản ở ngân hàng khác. Độ nhạy cảm thông tin còn phụ thuộc vào trình độ hiện đại của
hệ thống thanh toán liên ngân hàng, vì đặc điểm của các khoản ngân quỹ là ngắn hạn nên
đòi hỏi mức độ kịp thời trong luân chuyển ngân quỹ.
3. TTLNH chủ yếu là thị trường bán buôn
Đây là thị trường mà các giao dịch có giá trị rất lớn (bán buôn), các giao dịch nhỏ
lẻ khác sẽ được thực hiện trên thị trường bán lẻ của những người kinh doanh nhỏ hay các
ngân hàng nhỏ.
4. TTLNH là thị trường có độ tin cậy cao
Các thành viên chủ yếu là các ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính đáp
ứng các yêu cầu về vốn, ký quỹ, chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và giấy phép hành
nghề.
5. TTLNH là thị trường vốn ngắn hạn (mặc dù các quốc gia không quy định)
mở, cầm cố giấy tờ, chiết khấu…. Về mặt lý thuyết, NHTW không tham gia vào hoạt
động của TTLNH nhưng nó có vai trong rất quan trọng trong việc cung cấp vốn khả dụng
cho các ngân hàng bằng cách cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường
Lãi suất TTLNH được coi là lãi suất chuẩn, thường được các tổ chức tài chính
dùng làm cơ sở khi tính toán lãi suất cho vay áp dụng đối với khách hàng và là cơ sở thực
hiện các giao dịch liên quan đến lãi suất. Nó có ý nghĩa quan trọng với NHTW trong việc
thực hiện chính sách tiền tệ.
4. Các tổ chức tín dụng khác
Có vai trò chủ yếu là người đi vay trên TTLNH. Các tổ chức này thường là công
Trang 2
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
ty bảo hiểm, bảo hiểm tiền gửi, quỹ đầu tư,…
IV. Các loại hàng hóa:
Hàng hóa trong TTLNH vô cùng đa dạng nhưng chủ yếu ta có thể chia làm 2 loại
chính như sau: các khoản dự trữ thừa tạm thời và các giấy tờ có giá ngắn hạn.
V. Các nghiệp vụ chủ yếu:
1. Hoạt động vay vốn giữa các NHTM với nhau
Ngoài hoạt động vay vốn lẫn nhau, các NHTM còn trao đổi các giấy tờ có giá.
2. Hoạt động vay vốn giữa các NHTM với NHTW
Trên TTLNH, NHTW chỉ can thiệp khi cần thiết nhằm thực hiện điều tiết vĩ mô
về tiền tệ - tín dụng theo yêu cầu của chính sách tiền tệ trong mỗi thời kì. Qua các công
cụ của chính sách tiền tệ, NHTW điều hòa khối lượng tiền tệ trong lưu thông, can thiệp
vào quá trình tạo tiền của các NHTM qua các công cụ:
+ Tái cấp vốn: tái chiết khấu hay cho vay cầm cố.
+ Cho vay đáp ứng nhu cầu thanh toán: cho vay thanh toán, cho vay mất khả
năng thanh toán, lãi suất, tỷ giá.
+ Quản lí dự trữ bắt buộc.
+ Giao dịch trên thị trường ngoại hối (thị trường ngoại tệ liên ngân hàng).
VI. Vai trò của trị trường liên ngân hàng đối với nền kinh tế:
Đối với các thị trường khác: TTLNH là thành viên của thị trường tiền tệ nên có
của các tổ chức trong hệ thống không được NHNN công khai.
Kết quả là giao dịch liên ngân hàng bằng VNĐ giảm gần 50% còn 37.843 tỷ
đồng. Giao dịch bằng USD cũng giảm 67% xuống còn 30.190 tỷ đồng. Các giao dịch liên
ngân hàng chủ yếu tập trung vào kỳ hạn qua đêm và một tuần chiếm 83% tổng doanh số
giao dịch. Lãi suất giao dịch bình quân bằng VNĐ các kỳ hạn từ qua đêm đến 3 tuần và
kỳ hạn 12 tháng đều tăng trong khi ở kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, lãi suất giảm. Đối với các
giao dịch bằng USD, lãi suất bình quân kỳ này giảm đối với kỳ hạn qua đêm và 1 tháng
và tăng ở các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 3 tháng.
Sau khi được triển khai, thông tư 21 cơ bản đã đạt được những thành công nhất
định khi giúp NHNN phát huy vai trò của mình, đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu các
TCTD, sắp xếp lại hoạt động TTLNH đã bị buông lỏng quản lý một thời gian dài…Vì
thế, các TCTD yếu kém đã lộ diện và buộc phải tái cơ cấu theo phương án của mình hoặc
theo yêu cầu của NHNN khi không thể bước chân vào TTLNH. Nhờ vậy, bước đầu quá
trình tái cơ cấu các TCTD đã thành công với khoảng 10 TCTD được hợp nhất, sáp nhập
với các TCTD khác.
Trật tự được lập lại, TTLNH được trả về chức năng chính của nó là điều
chỉnh vốn ngắn hạn để hỗ trợ thanh khoản thay vì mục đích kinh doanh vốn. Đồng thời,
giúp cho NHNN thực hiện được vai trò là “người cứu cánh” cuối cùng cho các TCTD
trên thị trường tiền tệ chứ không phải là các TCTD trường vốn như trong thời gian qua.
Lãi suất bình quân LNH hiện chỉ dao động và ổn định ở mức từ 6-9% /năm cho kỳ hạn 1
tháng và doanh số giao dịch cũng chỉ còn khoảng một nửa so với mức trước đó.
Tuy nhiên, với thông tư 21, NHNN chính thức lái hoạt động gửi tiền trên LNH
sang cho vay. Do đó, thay vì giao dịch tín chấp như trước đây, giao dịch trên LNH sẽ
được điều chỉnh “chọn mặt gửi vàng” với từng TCTD nhất định và yêu cầu tài sản bảo
đảm tiền vay. Hệ lụy là hàng loạt ngân hàng nhỏ và công ty tài chính bị gạt ra ngoài cuộc
chơi do không đáp ứng đủ các yêu cầu tài sản thế chấp. Đồng thời, mỗi khoản cho vay ra
trên LNH thì ngân hàng cho vay đều phải trích lập dự phòng, vì vậy, lợi nhuận sẽ bị bào
Trang 4
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
mòn.
thực hiện kinh doanh vốn dễ dàng hơn và các TCTD khác có nhu cầu thanh khoản tạm
thời cũng dễ dàng được đáp ứng mà không cần phải nhờ sự hỗ trợ của NHNN.
Đồng thời, giao dịch vốn dễ dàng hơn trên LNH cũng phần nào giúp khơi thông
dòng vốn cung cấp cho thị trường 1 (dân cư), tạo đà cho phục hồi kinh tế. Chính vì vậy,
mở lại cánh cửa gửi tiền giữa các TCTD hiện nay là bước đi cần thiết đáp ứng nhu cầu
của cả NHNN và các TCTD nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của cả hệ thống.
Trang 5
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
Nguồn: Website NHNN
Kể từ đầu năm, giao dịch trên TTLNH chủ yếu tập trung vào kỳ hạn dưới 1 tháng
(giao dịch qua đêm, kỳ hạn 1 tuần và kỳ hạn 2 tuần) với tổng doanh số giao dịch là
1.448.138 tỷ đồng, tương đương 86,7% tổng doanh số giao dịch. So với cùng kỳ năm
ngoái, doanh số giao dịch kỳ hạn dưới 1 tháng tăng 2% so với cùng kỳ (86,7% so với
84,7%). Lãi suất cao nhất trên liên ngân hàng chỉ còn 7,5%, đối với kỳ hạn 9 tháng, tuy
nhiên các giao dịch kỳ hạn này phát sinh không đáng kể. Theo số liệu của NHNN, tính
đến thời điểm ngày 19/6/2013, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
quý 2 là 867.850 tỷ đồng, giao dịch bình quân là 15.319 tỷ đồng/ngày.
Khối lượng giao dịch và doanh số giao dịch bình quân/ngày tuy có cải thiện hơn
so với quý 1 (với số liệu tương ứng là 797.169 tỷ đồng và 13.625 tỷ đồng/ngày). Tuy
nhiên, so với 6 tháng đầu năm 2012, doanh số giao dịch và khối lượng giao dịch trong
ngày 6 tháng đầu năm 2013 chỉ đạt 1.665.019 tỷ đồng, tương đương với mức giao dịch
bình quân là 14.472 tỷ đồng/ngày, chưa bằng ½ doanh số giao dịch cùng kỳ năm ngoái.
Trang 6
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
Nguồn: Website NHNN Nguồn: Website NHNN
Dư nợ trên TTLNH cũng đang giảm mạnh, tính đến thời điểm ngày 19/6, dư nợ
trên thị trường là 179.091 tỷ đồng, giảm 23.230 tỷ đồng so với cuối năm 2012 và giảm
98.062 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2012.
Lãi suất trên thị trường đang giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn so với đầu năm, tuy
nhiên, doanh số giao dịch và dư nợ trên thị trường này cũng giảm mạnh cho thấy thanh
cũng như khả năng điều tiết của NHNN và mức điều chỉnh nếu có trong thời gian tới
cũng không tăng quá 2%.
Trang 7
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
Việc điều chỉnh tỷ giá lần này nhằm thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 7/1/2013
về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế- xã
hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, theo đó NHNN có trách nhiệm điều hành
tỷ giá theo tín hiệu thị trường, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam, thực hiện các biện
pháp đồng bộ để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.
Và thực tế là trong cả năm 2012 và những tháng đầu năm 2013, mặc dù thị trường tài
chính quốc tế có nhiều biến động, tỷ giá và thị trường ngoại hối trong nước diễn biến khá
ổn định tạo điều kiện NHNN mua ngoại tệ tăng mạnh dự trữ ngoại hối Nhà nước. Tâm lý
găm giữ ngoại tệ giảm đáng kể, tình trạng đô la hóa được đẩy lùi một bước. Đây là kết
quả của việc Ngân hàng Nhà nước triển khai đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp
điều hành chính sách tiền tệ và ngoại hối cùng với cam kết mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà
nước về việc tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá trong năm 2013, góp phần củng cố niềm tin
vào đồng Việt Nam.
Sau một năm rưỡi duy trì tỷ giá bình quân liên ngân hàng ổn định ở mức 20.828
VND/USD, việc điều chỉnh tỷ giá lần này nhằm phản ánh chính xác hơn cung cầu ngoại
tệ trên thị trường, tạo sự ổn định vững chắc cho thị trường ngoại tệ. NHNN sẽ áp dụng
mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo sự ổn định của tỷ giá.
B. THỊ TRƯỜNG MỞ ( OMO):
I. Khái niệm:
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) ra đời từ những năm đầu thế kỷ XX ở Mỹ và
Trang 8
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
một số nước Châu Âu. Ở Việt Nam, thị trường mở( TTM) chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 12/7/2000. Hiện nay, công cụ này được hầu hết các nước sử dụng như một công cụ
chủ yếu để điều hành chính sách tiền tệ.
Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa TTM nhưng trong điều kiện Việt Nam,
-Ngoài ra còn có: trái phiếu Kho bạc; trái phiếu công trình Trung ương; công
trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng Phát triển Việt Nam được
Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành, trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban
nhân dân các thành phố trực thuộc trung ương phát hành.
Các giấy tờ có giá quy định trên đây phải có đủ các điều kiện sau: Được lưu ký
Trang 9
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
tại NHNN; thuộc quyền sở hữu hợp pháp của TCTD; tổ chức phát hành không được sử
dụng các loại giấy tờ có giá do tổ chức đó phát hành để tham gia giao dịch với NHNN.
III. Chủ thể tham gia thị trường mở:
TTM là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên tham gia thị trường
này rất đa dạng với nhiều mục đích. Thông thường chủ thể tham gia bao gồm: NHTW,
các NHTM, các TCTD và doanh nghiệp… Điều kiện tham gia TTM ở Việt Nam được
quy định tại điều 2 quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi và bổ sung điều 5 trong quyết
định số 01/2007/QĐ-NHNN về “công nhận thành viên tham gia NVTTM” được tóm tắt
như sau: Các TCTD được công nhận là thành viên tham gia NVTTM khi có đủ các điều
kiện sau đây: có tài khoản tiền gửi tại NHNN, có đủ các phương tiện cần thiết để tham
gia NVTTM gồm: máy FAX, máy vi tính nối mạng internet và phải có giấy đăng ký tham
gia NVTTM. Theo đó, các chủ thể chủ yếu tham gia là:
1. Ngân hàng trung ương (NHTW):
NHTW đóng vai trò là người tổ chức và vận hành TTM. NHTW tham gia TTM
không phải vì mục tiêu lợi nhuận kinh doanh, mà để quản lý, điều tiết thị trường nhằm
thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ đề ra. NHTW tác động đến thị trường thông qua
việc mua, bán các giấy tờ có giá nhằm can thiệp vào dự trữ của hệ thống ngân hàng và
gián tiếp tác động đến lãi suất thị trường.
2. Ngân hàng thương mai (NHTM):
NHTM là thành viên chủ yếu tham gia TTM, đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW, bởi: (1) NHTM là một tổ chức tài
chính lớn và phân bố rộng, (2) NHTM là trung gian cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế:
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Tham gia vào TTM không những giúp các
b. Giao dịch hoàn lại (Mua bán tạm thời):
Đây là hình thức giao dịch được sử dụng trong các giao dịch tạm thời thông qua
hợp đồng mua lại (Repo) hay hợp đồng mua lại đảo ngược. Hợp đồng mua lại và hợp
đồng mua lại đảo ngược là 1 loại hình nghiệp vụ chứng khoán phái sinh. Có thể hiểu một
cách đơn giản hai loại hình giao dịch này là việc nhà đầu tư đi vay tiền và dùng giấy tờ có
giá để thế chấp. Hợp đồng mua lại (mua lại đảo ngược) được định nghĩa là NHTW thực
hiện một giao dịch mua (bán) giấy tờ có giá từ một đối tác trên thị trường và thỏa thuận
bán (mua) lại cho đối tác đó vào một ngày thỏa thuận trong tương lai. Thông thường thời
gian đáo hạn của hợp đồng trong giao dịch hoàn lại là rất ngắn, thường là qua đêm.
3. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở:
a. Giao dịch song phương:
Giao dịch song phương là bất cứ thủ tục giao dịch nào mà NHTW trực tiếp giao
dịch với một hoặc một số ít tổ chức thông qua thủ tục đấu thầu. Có hai loại thủ tục song
phương: Giao dịch trực tiếp của NHTW với các đối tác ( thường là hạn chế)và giao dịch
của NHTW thông qua sở giao dịch chứng khoán.
b. Giao dịch theo phương thức đấu thầu:
Đấu thầu khối lượng (Đấu thầu không cạnh tranh lãi suất): Là phương thức đấu
thầu với mức lãi suất được NHTW công bố trước và khối lượng giấy tờ có giá cần mua
hoặc cần bán. Các ngân hàng dự thầu khối lượng giấy tờ có giá đó theo lãi suất được
niêm yết trước. Nếu tổng khối lượng dự thầu vượt quá khối lượng NHTW cần mua hoặc
cần bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên tỷ lệ với khối lượng đặt thầu của
thành viên đó.
Đấu thầu lãi suất (Đấu thầu cạnh tranh lãi suất): Đây là phương thức mà NHTW
công bố khối lượng giấy tờ có giá cần mua hoặc cần bán. Các ngân hàng đăng ký số tiền
Trang 11
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
ứng với mức lãi suất do mình chọn. Các đơn dụ thầu được sếp theo thứ tự lãi suất giảm
dần nếu NHTW đóng vai trò là người mua, thứ tự lãi suất tăng dần nếu NHTW trong vai
trò người bán. Và lãi suất trúng thầu là mức lãi suất thấp nhất (cao nhất) mà tại đó đạt
được khối lượng giấy tờ có giá mà NHTW cần mua (cần bán).
tăng
Giá TPKB
giảm
Lãi suất thị trường
tăng
Đầu tư giảm
Cung vốn
NHTW giảm
Dự trữ giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
Lãi suất thị
trường tăng
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
tín phiếu kho bạc (TPKB) , giá giảm làm lượng mua tăng vì khi đó [giá bán(mệnh giá) –
giá mua(giảm)] tăng, làm cho lợi suất đầu tư tăng. Dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư
sang tín phiếu kho bạc lớn. Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư,
lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi đó, lợi nhuận thu được từ việc đầu tư chứng khoán
không còn hấp dẫn nữa → đầu tư giảm.
Thứ hai: dự trữ của các ngân hàng giảm tác động đến cung quỹ cho vay, làm cho
lãi suất ngắn hạn thay đổi. Mức lãi suất ngắn hạn này qua dự đoán của thị trường và các
hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất Arbitrage sẽ truyền tác động đến mức lãi suất
trung và dài hạn trên thị trường tài chính → ảnh hưởng đến đầu tư.
2. Thực trạng thực tế:
NVTTM là kênh chủ đạo để NHNN bơm tiền ra nền kinh tế và thu về từ lưu
thông, từ đó góp phần quan trọng trong việc điều hoà vốn khả dụng của các NHTM. Đặc
biệt, từ đầu năm 2013 đến nay, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) bằng công
cụ OMO một các thường xuyên và mạnh mẽ với tần suất liên tục. Thêm vào đó, đây còn
dược coi là một trong những công cụ đắc lực để giữ tỷ giá ổn định.
Để kịp thời xử lý việc tỷ giá có xu hướng tăng do các NHTM dư thừa thanh
thể nói OMO là công cụ hữu hiệu còn lại mà NHNN có thể điều hành một cách uyển
chuyển theo mục tiêu bảo đảm thanh khoản và ổn định tỷ giá.để đảm bảo cho thanh khoản hệ
thống NHTM vẫn tiếp tục ổn định thì NHNN đã dần phát đi tín hiệu có thể tăng dần lượng tiền cho vay ra
qua thị trường mở. Việc điều hành qua công cụ thị trường mở thay cho công cụ tái cấp vốn sẽ tăng
thêm tính linh hoạt trong việc điều hành thị trường tiền tệ của NHNN. NHNN có thể chủ
động điều hành lượng cung tiền hàng ngày mà không phải chờ đợi khoảng thời gian kéo dài từ 3 – 6
tháng như khi thực hiện công cụ tái cấp vốn.
Diễn biến trên thị trường mở trong tháng 8 tương đối ảm đạm sau khi NHNN điều
chỉnh hạ lãi suất 0,5%/năm (từ mức 6%/năm xuống còn 5,5%/năm) kể từ cuối tháng 7.
Trong tháng 8, khối lượng trúng thầu trên thị trường mở chỉ đạt 4.593 tỷ đồng (giảm
Trang 14
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
35.399 tỷ đồng so với tháng 7); trong khi đó khối lượng đáo hạn là 19.839 tỷ đồng.Như
vậy, NHNN đã hút ròng tiền từ lưu thông qua thị trường mở tổng cộng 12.246 tỷ đồng
trong tháng 8. Tính đến ngày 30/8, số dư trên thị trường mở là 1.066 tỷ đồng.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng không tốt hơn khi có rất ít doanh nghiệp tổ chức phát
hành trái phiếu để huy động vốn. Chỉ có duy nhất thỏa thuận đạt được giữa CII và VCB là VCB sẽ mua
toàn bộ 1.000 tỷ đồng trái phiếu do CII phát hành. Đây là trái phiếu doanh nghiệp có thời hạn 6 năm, lãi
suất cố định 13,2%/năm.
Trong tháng 8, NHNN cũng tiếp tục giảm cung tín phiếu ra thị trường. Tổng khối
lượng tín phiếu trúng thầu trong tháng 8 đạt 26.718 tỷ đồng (giảm 7.010 tỷ đồng so với
tháng trước), trong khi khối lượng tín phiếu đáo hạn là 39.202 tỷ đồng.Như vậy, trong
tháng 8, NHNN bơm ra thị trường thông qua nghiệp vụ bán tín phiếu là 12.490 tỷ
đồng.Tính đến ngày 30/8, dư nợ tín phiếu là 42.808 tỷ đồng.Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn
hạn, NHNN đã bơm ra 95.109 tỷđồng qua thị trưởng mở trong nửa đầu năm 2013, giảm mạnh 69%so
với cùng kỳ năm 2012. Thanh khoản ngân hàng dồi dào là lý do khiến hoạt động đấu thầu trên thị trường
mở trầm lắng mặc dù lãi suất cho vay trên OMO đã giảm từ 7% xuống 6%.
Để tránh áp lực lên lạm phát, NHNN đã phát hành 138.070 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày, 56
ngày, 91 ngày và 182 ngày nhằm hút tiền từ hệ thống ngân hàng, trong đó: tín phiếu kỳ hạn 28 ngày
chiếm 22,1%; tín phiếu kỳ hạn 56 ngày chiếm 1,1%; tín phiếu kỳ hạn 91 ngày chiếm 41,6% và kỳ hạn 182
07-13 27.115 39.992 12.877 13.312 28.016 33.728 5.712 54.298
08-13 16.663 4.417 (12.246) 1.066 39.208 26.298 (12.910) 41.388
(Nguồn: SBV, VCBS; Đơn vị tỷ đồng)
C. KẾT LUẬN VỀ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TỪNG LOẠI THỊ TRƯỜNG:
I. Thị trường liên ngân hàng:
1. Ưu điểm:
Là một trong những mấu chốt quan trọng của thị trường tài chính chung, TTLNH
ngày càng phát huy điểm mạnh của mình theo chiều đi lên của sự phát triển kinh tế đất
Trang 16
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
nước. Ta có thể dễ dàng nêu ra một số ưu điểm như sau: Thông qua TTLNH mà NHTW
có thể can thiệp sâu vào hệ thống nhằm điều tiết vĩ mô về tiền tệ, tín dụng theo yêu cầu
của từng thời kỳ thông qua các công cụ như tái cấp vốn, lãi suất, dự trữ bắt buộc v.v
Nhờ tính nhất quán của thị trường mà các mức thông số về lãi suất, tỷ giá trong các
NHTM được quản lý một cách chặt chẽ, có hệ thống, đảm bảo vai trò người "cứu cánh"
cuối cùng cho hệ thống NHTM.
Ngoài ra, nhờ có TTLNH mà các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh
nghiệp xuất, nhập khẩu có thể thanh toán cho đối tác trong và ngoài nước một cách dễ
dàng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác khu vực, thế giới.
Các nghiệp vụ hỗ trợ vay vốn, mua bán và chiết khấu các giấy tờ có giá, hợp
đồng tín dụng lẫn nhau giữa các NHTM hay giữa NHTM và NHTW cũng đảm bảo tính
thanh khoản trong hệ thống. Với phương thức thanh toán điện tử linh hoạt, nhất là hệ
thống thanh toán bù trừ thông qua NHTW mà các giao dịch ngày càng trở nên dễ dàng
hơn bao giờ hết. Đối với các cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàng, sự ra đời của dịch vụ
bao thanh toán, kết hợp và mở rộng mạng lưới chấp nhận các loại thẻ khác nhau đã tạo
điều kiện cho người sử dụng có một mạng lưới cung cấp ATM rộng khắp.
2. Hạn chế:
Tuy nhiên, khi nhìn về thực tế, bên cạnh những thành công nhất định, ta có thể
thấy rõ TTLNH tại Việt Nam còn tồn tại rất nhiều hạn chế do tính phổ biến thị trường
còn chưa cao, quy mô hạn chế , số lượng thành viên tham gia thị trường còn khá ít hay
Mục đích của TTLNH là giải quyết nhu cầu vốn khả dụng, đồng thời tạo
điều kiện cho NHNN thực hiện vai trò là người cho vay vốn cuối cùng. Tuy nhiên thị
trường này vẫn chưa phát triển như mong muốn cần có nhiều giải pháp có tính khả thi và
toàn diện cụ thể:
-Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường liên ngân hàng : Trên cơ sở mô hình TTLNH
mới cần hướng tới xây dựng ở trên , các cấp có thẩm quyền cần ban hành các văn bản
pháp quy cần thiết để sớm đưa thị trường vào hoạt động. NHNN cần mở rộng các thành
viên tham gia thị trường: Ngoài NHTM , tất cả các TCTD được kinh doanh vốn ngắn hạn
đều được tham gia thị trường. Bên cạnh đó nên quyết định thành lập công ty môi giới tiền
tệ: Công ty này cần có những văn bản điều chỉnh riêng do khả năng tham gia vào chính
sách tiền tệ và tính chất nhạy cảm của nó.
-Hợp tác kĩ thuật giữa NHNN và các NHTW khác về xây dựng và phát triển TTLNH: Việc hợp tác quốc tế
này nên được tiến hành trước hết là giữa NHNN Việt Nam và NHTW các nước trong khu vực Đông Nam
Á. Trong đó, các hoạt động cần chú trọng hợp tác là đào tạo cán bộ về trình độ quản lý vốn khả dụng tại
NHNN và các NHTM; các kĩ thuật vận hành hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng trong các bước
vận hành của nó; kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các nhà mua giới tiền tệ.
Kết hợp thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng thành TTLNH thống nhất:
Nếu chúng ta vẫn duy trì hai TTLNH riêng biệt, điều này dễ tạo ra những bất cập về dòng
luân chuyển vốn không thống nhất giữa nội tệ và ngoại tệ. Sự chuyển tải các tín hiệu của
ngân hàng nhà nước đến nền kinh tế không kịp thời và chính xác.
-Hình thành tổ chức xếp hạng tín nhiệm(Rating) : Tổ chức xếp hạng tín nhiệm là một công ty độc lập có
chức năng thu thập phân tích và xếp hạng tín dụng đối với các doanh nghiệp, các TCTD theo các chỉ tiêu
tài chính của mình. Tổ chức này giúp NHNN đánh giá, phân loại các tổ chức tín dụng để phân tích tư cách
thành viên, uy tín tín dụng trong các hoạt động thế chấp tài sản bằng giấy tờ có giá trên thị trường tiền
tệ.
II. Thị trường mở ( OMO):
Thời gian vừa qua, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài gia tăng
đột biến và khu vực tài chính đã mở rộng cửa hơn cho cạnh tranh quốc tế ,trở thành động
lực cũng như điều kiện tốt thúc đẩy quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh trong nước phát
triển, đồng thời cũng mang lại nhiều khó khăn, bất lợi cho việc ổn định kinh tế vĩ mô.
chúng và các quyết định của NHTM. Việc sử dụng lượng dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở
rộng tín dụng không chỉ phụ thuộc vào quyết định của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác.
Hoạt động ngiệp vụ thị trường mở chưa thực sự sôi động, là một nghiệp vụ khá
mới nhất là đối với ngân hàng thương mại cổ phần – tham gia không nhiều và không
thường xuyên vì chưa nhận thức được đầy đủ các ưu điểm của các công cụ này.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động thị trường mở ở Việt Nam :
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang theo đuổi chính sách phát triển kinh tế với
tốc độ tăng trưởng ổn định. Do đó NHTW đã sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất
thị trường để từ đó đạt được các mục tiêu này. Và trong số đó NVTTM là nghiệp vụ quan
Trang 19
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.
trọng nhất do tính chất linh hoạt và chủ động của nó. Để khắc phục một số hạn chế trên
của TTM, trong thời gian tới ta cần phải thực hiện một số giải pháp sau:
-Cần phải tăng cường chủng loại hàng hoá vốn dĩ đang rất nghèo nàn bằng
cách: Đưa vào sử dụng những giấy tờ có giá chất lượng tốt đã được lưu hành như: thương
phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu Ngân hàng. Kinh nghiệm cho thấy đây là những hàng
hoá được mua bán rất phổ biến trong NVTTM ở các nước phát triển. Bên cạnh đó cần tạo
điều kiện cho các loại hàng hoá mới ra đời bằng việc ban hành khung luật pháp về việc
phát hành và lưu thông giấy tờ có giá .
-Mở rộng phạm vi đối tác trong hoạt động NVTTM. Với những đối tác đã được
lựa chọn, tức là các TCTD đủ tiêu chuẩn, hiện chỉ có khoảng 30% trên tổng số tham gia
NVTTM . Để NVTTM trở nên hấp dẫn hơn với các đối tác thì bản thân lãi suất trong các
phiên đấu thầu cần phù hợp với thị trường và dễ chấp nhận hơn. Ngay cả vấn đề thủ tục
thanh toán cần được đơn giản hoá, đảm bảo nhanh gọn, an toàn, chính xác.
-Tăng cường hiệu quả sử dụng phương thức giao dịch hợp đồng mua lại:Về
định giá chứng khoán: Trước mắt, có thể tạm chấp nhận công thức tính giá của hợp đồng
mua lại chưa tính đến yếu tố đảm bảo rủi ro nhưng về lâu dài cần phải sử dụng công thức
tính toán chính xác để đảm bảo an toàn cho NHTW như ở các nước phát triển. Muốn vậy,