LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất, là hoạt động sinh
lời lớn nhất song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng thương mại. Rủi ro
này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất làm giảm thu nhập, gây thiệt
hại về tài chính cũng như uy tín của cả ngân hàng cũng như doanh nghiệp. Chính vì
vậy, vấn đề chất lượng thẩm định tín và nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng luôn
là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân hàng.
Trong quá trình đổi mới vừa qua, các DNV&N đã được tạo điều kiện thuận lợi
và có sự phát triển đáng kể cả về lượng và chất, có đóng góp tích cực trên nhiều mặt
cho sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay việc mở rộng cho vay đối tượng DNV&N
cho phép phân tán rủi ro cho các ngân hàng thương mại. Để nâng cao hơn nữa chất
lượng, hiệu quả và tăng quy mô đầu tư, hạn chế rủi ro tín dụng DNV&N, các Ngân
hàng thương mại phải không ngừng nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng đối với
loại hình doanh nghiệp này.
Xuất phát từ thực tiễn quan sát, tìm hiểu nghiên cứu hoạt động tín dụng nói
chung và công tác thẩm định tín dụng DNV&N nói riêng, em đã lựa chọn đề tài
“Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng DNV&N tại Ngân hàng Đầu tư và phát
triển Cao Bằng” cho chuyên đề thực tâp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chuyên đề chỉ rõ những thành công và những khó khăn trong hoạt động thẩm
định tín dụng đối với khách hàng là DNV&N tại BIDV Cao Bằng. Từ đó chuyên đề
xây dựng và đề xuất các ý kiến mang tính khoa học, thích hợp và có hiệu quả hơn vào
công tác này.
3. Đối tương và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài về thẩm định tín dụng DNV&N do đó đối tượng nghiên cứu
của đề tài này là toàn bộ những nội dung liên quan đến công tác phân tích, đánh giá
khách hàng là DNV&N trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phạm vi nghiên cứu
của chuyên đề là nghiên cứu về công tác thẩm định tín dụng khách hàng là DNV&N
tại BIDV Cao Bằng.
1
lượng lao động, số vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận,...Tiêu chí này phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế, tính chất ngành nghề, vùng lãnh thổ, tính
chất địa lý, mục đích phân loại,...
2
Ở Việt Nam, để tạo điều kiện cho phát triển các DNV&N, Chính Phủ đã ban
hành các nghị định 90/NĐ-CP ngày 23-11 về trợ giúp phát triển DNV&N, theo điều3
của nghị định này định nghĩa: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương trong quá
trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng cả hai
chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên ”.
Theo nghị định này thì DNV&N bao gồm :
- Các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, bao
gồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty
hợp doanh.
- Các hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 02/2000/NĐ-
CP của Chính Phủ ngày 03/02/2000.
1.2 Đặc điểm của DNV&N
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình doanh nghiệp, do đó nó mang đầy
đủ những đặc điểm của một doanh nghiệp song nó cũng mang những đặc trưng riêng
của một DNV&N. Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc trưng cơ
bản sau:
Thứ nhất. DNV&N hoạt động đa dạng, phong phú trong mọi lĩnh vực, mọi
thành phần kinh tế, mọi địa bàn, thu hút nguồn lao động và vốn lớn. Theo thống kê ở
Việt Nam số lượng DNV&N chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp, năm
2005 chiếm khoảng 80%, hiện nay thì số lượng này chiếm khoảng trên 90% và sẽ tiếp
tục gia tăng trong các năm tới. Các DNV&N chiếm khoảng 31% tổng giá trị sản
lượng công nghiệp, chiếm 78% tổng mức bán lẻ,...Cả nước có khoảng 50.000
phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, DNV&N góp phần thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưu
các nguồn lực tại địa phương.Thứ tư, DNV&N góp phần quan trọng trong việc tạo
lập sự phát triển cân đối và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ.
Thứ năm, DNV&N góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và tăng nguồn thu
cho Ngân sách Nhà nước.
Thứ sáu, DNV&N hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp quy mô lớn, là cơ sở để
hình thành doanh nghiệp lớn.
3 Các kênh huy động vốn của DNV&N
4
Các DNV&N với xuất phát điểm là nguồn vốn ít, vốn tự có là rất hạn chế, chỉ
chiếm khoảng 5%-10% nguồn vốn trong kinh doanh, do đó để đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh họ bắt buộc phải huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau. Đối
với DNV&N, họ có thể huy động từ các nguồn sau :
- Kênh huy động vốn không chính thức
+ Vay thông qua mua hàng trả chậm
+ Vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi
+ Vay từ người thân
+ Vay từ những người cho vay nặng lãi
Ở Việt Nam, vốn huy động không chính thức chiếm tỷ lệ khá cao. Điều kiện
vay vốn ở kênh này là khá đơn giản chủ yếu là tín chấp, thoả thuận miệng mà không
cần hợp đồng. Tuy nhiên kênh phân phối này cũng có nhiều hạn chế như lãi suất cho
vay cao, thời hạn ngắn, môi trường quản lý chưa chặt chẽ dẫn đến rủi ro.
- Kênh huy động vốn chính thức
+ Nguồn vốn hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.
+ Nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức quốc tế : ODA, FDI, ADB,...
+ Nguồn vốn huy động trên thị trường chứng khoán: Bằng cách phát hành
trái phiếu hoặc bán cổ phiếu ra công chúng doanh nghiệp sẽ huy động được lượng
vốn mà mình cần. Hiện nay đã có một số DNV&N niêm yết trên thị trường chứng
khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên để có thể huy động vốn trên thị
khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh
hưởng đến chất lượng tín dụng. Cần lưu ý rằng các bậc tiền bối đã bằng từ “credo”
hoặc “tín” để đặt tên cho “credit” hoặc “tín dụng” không phải là vấn đề ngẫu nhiên.
• Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên
tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác
phải xác định lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát).
Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên trong một số
trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn
tại trong một giai đoạn ngắn.
• Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn
trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như
hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu (promissory note), trong đó bên
đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
2. Vai trò tín dụng của NHTM đối với DNV&N
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các hình thức của tín dụng ngân
6
hàng cũng ngày càng đa dạng, phong phú và hiện đại, vai trò tín dụng của ngân hàng
ngày càng tăng lên, đặc biệt đối với DNV&N .
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời và phát triển
của các DNV&N. tín dụng ngân hàng không những hỗ trợ vốn cho các DNV&N
trong quá trình hợt động và phát triển mà ngay từ khi hình thành và đi vào hoạt động
ban đầu, nếu không có nguồn hỗ trợ tích cực của tín dụng từ ngân hàng thì nhiều
doanh nghiệp cực kỳ khó khăn, thậm chí không hình thành được.
Tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho DNV&N phát triển.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thường dựa vào ba nguồn vốn chủ yếu là
vốn từ ngân sách, vốn ngân hàng và vốn tự có. Tuy nhiên, đối với DNV&N nguồn
vốn ngân sách cấp rất ít ỏi, nguồn vốn tự có thì hạn chế. Chính vì vậy tín dụng ngân
hàng là nguồn vốn quan trọng giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Tuy nhiên,
Đảng và Nhà nước.
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hình thành đồng bộ hệ thống các yếu tố
“đầu vào” và “đầu ra” cho các DNV&N. Đa số các DNV&N có vốn lưu động tự có
rất thấp so với nhu cầu cần thiết. Nguồn vốn để mua vật tư, hàng hoá dự trữ cho sản
xuất kinh doanh chủ yếu được bù đắp bằng vốn tín dụng ngân hàng. Mặt khác, tín
dụng ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ vào việc tiêu thụ sản phẩm cho các doanh
nghiệp thông qua mở rộng tín dụng tiêu dùng, cho vay hoặc bảo lãnh để các tổ chức
kinh tế, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá. Tuy nhiên ngân hàng
chỉ cho vay những đối tượng hàng hoá có chất lượng cao, có sức cạnh tranh tốt, qua
đó thúc đẩy việc xác lập cơ cấu kinh tế mới theo hướng tiến lên hiện đại.
3. Các hình thức tín dụng của NHTM
Dựa theo nhu cầu tài trợ vốn của DNV&N, ngân hàng thường phân theo tiêu
thức thời hạn cấp tín dụng. Khi đó sẽ có hai hình thức tín dụng là : Tín dụng ngắn
hạn, tín dụng trung và dài hạn.
a. Tín dụng ngắn hạn : Là khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng
nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo
yêu cầu vốn thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động,... Đây là
loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được
các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế.
Vì thế lãi suất thường thấp hơn so với loại tín dụng khác
Có hai hình thức tín dụng ngắn hạn :
- Tín dụng ứng trước : Là hình thức ngân hàng ứng trước tiền cho doanh nghiệp
để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn. Có hai phương thức ứng trước
là : cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng. Cho vay từng lần là
việc cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu cầu cho vay của từng đối tượng cụ thể .
Cho vay theo hạn mức tín dụng là sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách
8
hàng về việc ngân hàng sẽ dành cho doanhh nghiệp một mức dư nợ nhất định
trong một thời gian xác định và doanh nghiệp có thể rút bất cứ lúc nào trong
thời gian đó. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng mà các NHTM Việt
9
chỉ có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với hợp đồng mà hai bên đã ký kết,
ngoài ra đối với các hợp đồng khác họ không chịu trách nhiệm liên quan.
Còn đối với cho vay hợp vốn gián tiếp là phương thức cho vay mà có nhiều
ngân hàng cùng tài trợ vốn cho doanh nghiệp nhưng chỉ thông qua một hợp
đồng tín dụng duy nhất giữa một ngân hàng làm đại diện với doanh nghiệp.
Vì thế có thẻ có hai trường hợp xảy ra : có thể mỗi ngân hàng là một thành
viên trong hợp đồng tín dụng, khi đó trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi ngân
hàng thành viên trong hợp đồng tín dụng cao hơn và ngược lại doanh
nghiệp vay vốn phải có trách nhiệm hoàn trả vốn vay đối với các ngân
hàng thành viên trong hợp đồng tín dụng. Với trường hợp ngân hàng tham
gia cho vay không phải là thành viên trong hợp đồng tín dụng thì ngân
hàng tham gia không có quan hệ pháp lý hoặc nghĩa vụ trực tiếp với doanh
nghiệp đi vay.
4. Rủi ro tín dụng trong cho vay DNV&N
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại - hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ
cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là
cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín
dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có
thể dự đoán chính xác vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có
thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả
năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ
ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm
nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế,
chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến
lược hoạt động chung của ngân hàng.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Quản lý rủi ro tín dụng cần
xác định những nguyên nhân cụ thể, xác thực gây rủi ro tín dụng để có biện pháp hạn
chế.
bao gồm trình độ và đạo đức nghề nghiệp không đảm bảo là nguyên nhân của rủi ro
tín dụng.
Để hạn chế rủi ro tín dụng thì một trong những nội dung quan trọng ngân hàng
cần phải làm là nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trước khi cấp tín dụng cho
khách hàng.
III. Phương pháp đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng đối với
DNV&N của NHTM
1. Sự cần thiết của công tác thẩm định tín dụng trong cho vay DNV&N
11
Nghiệp vụ cho vay mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, song con
đường tìm kiếm lợi nhuận của các ngân hàng luôn gặp phải một rào cản đó là rủi ro.
Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro các ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó
biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng số một là phải phân tích, đánh giá khách hàng
một cách toàn diện. Nếu khách hàng được đánh giá là tốt thì sẽ được ngân hàng xem
xét cho vay. Ngược lại, nếu khách hàng nào không đáp ứng được yêu cầu của ngân
hàng thì ngân hàng có quyền từ chối cho vay.
Nội dung của việc thẩm định tín dụng là ngân hàng phân tích, đánh giá mọi
khía cạnh của doanh nghiệp : năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự,
năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, thẩm định phương án. dự án kinh
doanh,...Kết quả thu được từ quá trình phân tích, đánh giá là cơ sở cho ngân hàng đưa
ra các quyết định tín dụng như : giá trị tài trợ, lãi suất tài trơ, thời hạn cho vay. Đây
cũng là cơ sở để ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Thông qua hoạt động thẩm định tín dụng ngân hàng đã giảm được sự không
cân xứng về thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp, giúp cho ngân hàng giảm
thiểu rủi ro khi cấp tín dụng. Với các cán bộ làm công tác tín dụng có kinh nghiệm
thực tế, tiếp xúc với nhiều dự án trong các lĩnh vực khác nhau, mặt khác họ lại dứng ở
vị trí khách quan là người cung ứng vốn khi thực hiện thẩm định dự án, phương án
của doanh nghiệp có thể đưa ra những lời khuyên có giá trị cho doannh nghiệp, nâng
cao tính khả thi của dự án.
Như vậy công tác thẩm định khách hàng là DNV&N trong hoạt động tín dụng
- Thông tin từ những nhà cung cấp, những nhà phân phối cho doanh nghiệp :
mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp, các nhà phân phối sẽ được quyết
định việc thanh toán đúng hạn và đủ giá trị.
- Thông tin thu được từ các tổ chức cung cấp thông tin. Đây là nguồn thông
tin có độ tin cậy cao và có giá trị. Ngân hàng phải trả phí khi sử dụng thông
tin này. Hiện nay ở Việt Nam đã có Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
trực thuộc NHNN, trung tâm này tập hợp được một lượng lớn các thông tin
về các doanh nghiệp trong cả nước : tình hình kinh doanh, tình hình nhân
sự, điều hành, lịch sử tín dụng của các doanh nghiệp,...phục vụ cho công
tác phân tích tín dụng của các NHTM.
- Thông tin từ bên ngoài khác : các thông tin từ các cơ quan hữu quan, cơ
quan chủ quản của các DNV&N, từ phương tiện thông tin đại chúng ( báo,
tạp chí ), từ các ngân hàng khác,... đã giúp cho ngân hàng có cơ sở vững
chắc để đưa ra quyết định tín dụng hợp lý.
- Thông tin thu thập được qua điều tra tại cơ sở hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, giúp cho CBTD có cái nhìn thực tế về tình hình hoạt động
13
của doanh nghiệp : cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, số lượng lao động, sổ
sách kế toán,...
d. Thông tin từ nội bộ ngân hàng
Đây là thông tin mà ngân hàng có được trong quá trình hoạt động cung ứng
dịch vụ cho doanh nghiệp. Nó vô cùng quan trọng và đáng tin cậy để ngân hàng phân
tích, đánh giá khách hàng. Mối quan hệ tín dụng bên trong quá khứ, việc chấp hành
về thời hạn trả nợ sẽ là cơ sở để ngân hàng tin tưởng vào khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
Từ những thông tin thu thập từ các nguồn khác nhau, áp dụng các phương
pháp phân tích đánh giá CBTD sẽ thu được những thông tin mới có giá trị hơn các
thông tin ban đầu phục vụ cho công tác ra quyết định tín dụng..
3. Quy trình thẩm định tín dụng
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách
sản có thể phát mại khi cần thiết…
Nội dung thẩm định bao gồm:
• Thẩm định tư cách và uy tín của doanh nghiệp
• Thẩm định năng lực pháp lý của doanh nghiệp
• Thẩm định điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp
• Thẩm định tài chính của doanh nghiệp
• Thẩm định phương án kinh doanh, dự án đầu tư của doanh nghiệp
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tin dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ
(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách
hàng một khoản tín dụng (hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoảng thời gian và lãi
suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính tính pháp luật xác định quyền
và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều
khoản của pháp luật, quy định. Do vậy cả ngân hàng lẫn khách hàng đều cần cân nhắc
kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng tín dụng. Sau đây là nội dung chính của hợp đồng
tín dụng:
Khách hàng: họ tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân(nếu có)
Mục đích sử dụng: khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì.
Số lượng tín dụng: là số tiền (hoặc hạn mức tín dụng) ngân hàng cam kết cấp
cho khách hàng. số lượng tín dụng có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời gian
khác nhau và dưới các hình thức tiền tệ khác nhau.
15
Lãi suất: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả đồng thời
xác định tính chất của lãi suất (là lãi suất cố định hay biến đổi trong suốt kỳ hạn tín
dụng). Nếu lãi suất có thay đổi thì phải xác định rõ các điều kiện thay đổi đó.
Phí: để có được các cam kết tín dụng có thể khách hàng phải trả cho ngân
hàng một khoản phí (ví dụ phí cam kết) được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên hạn mức
cam kết. Mức phí và các điều kiện nộp phải được thể hiện trong hợp động tín dụng.
Thời hạn tín dụng: Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày,
tháng, năm) và ghi trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam
phong toả tài sản, điều kiện và phương thức phát mại tài sản, nộp báo cáo định kỳ,
phạt vi phạm hợp đồng…
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm cấp
tiền (hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như thoả thuận. Kèm theo việc cấp
tín dụng, ngân hàng kiểm soát khách hàng: sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng
tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu
hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ…Quá trình này cho phép ngân hàng thu nhập thêm
các thông tin về khách hàng. nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy
chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị
đe dọa, ngân hàng cần có các biện pháp xử lý kịp thời. Ngân hàng được quyền thu hồi
nợ trước hạn, ngừng giải ngân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Ngân hàng
có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay…khi thấy cần
thiết để đảm bảo an toàn tín dụng. Đối với ngân hàng đây là bước đi nguy hiểm. Do
vậy cho tài trợ gắn liền với kiểm soát khách hàng giúp ngân hàng ngăn chặn các ý đồ
sử dụng tiền vay không đúng mục đích của khách hàng. Đây cũng chính là quá trình
ngân hàng thu nhập thêm các thông tin bổ sung cho các thông tin ở bước 1 và ra các
quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu.
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các khoản tín
dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Một số
trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ, đúng hạn.
việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các “trục trặc” trong hoạt
động của khách hàng. Việc xem xét, tìm nguyên nhân là rất quan trọng để giúp ngân
hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn của khoản tín
dụng.
Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa,
hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương án
17
thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản nợ, bao gồm
phải ngân hàng khác. Đặc biệt là mối quan hệ của doanh nghiệp với những ngân hàng
trước.
18
4.2 Thẩm định năng lực pháp lý của doanh nghiệp
Năng lực pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ
phải thực hiện. Đối với doanh nghiệp đi vay thì năng lực pháp lý của doanh nghiệp
chính là khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ trả nợ. Một doanh
nghiệp có năng lực pháp lý phải thoả mãn những điều kiện sau :
- Được nhà nước hoặc pháp luật thành lập hoặc thừa nhận.
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm trước
tài sản đó.
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Để đánh giá được tư cách pháp nhân của DNV&N, ngân hàng thường đòi hỏi
doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng các tài liệu như : quyết định thành lập doanh
nghiệp, giấy phép dăng ký kinh doanh do cấp có thẩm quyền cấp, quyết định bổ
nhiệm giám đốc hay những tài liệu chứng minh quyền điều hành hợp pháp của lãnh
đạo doanh nghiệp. Mục đích của việc đánh giá năng lực pháp lý của doanh nghiệp để
đảm bảo rằng ngân hàng sẽ được pháp luật bảo vệ khi các doanh nghiệp vi phạm các
cam kết.
4.3 Thẩm định năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Ngân hàng thường đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp dưới 2 góc
độ : Nguồn lực và năng lực điều hành của doanh nghiệp
- Nguồn lực của doanh nghiệp : Bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực
của doanh nghiệp. Nguồn lực vật chất đó là : cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật,
nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào, quy mô, hiện trạng TSCĐ, khả năng khai
thác công suất tài sản, các tài sản vô hình của doanh nghiệp,...trong đó phải kể
đến tính tiên tiến và hiện đại của tái sản đó. Nguồn nhân lực là số lượng lao
động và chất lượng lao động có khả năng đáp ứng kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp,nguồn nhân lực cần đáp ứng các yêu cầu tối thiểu
liệu thay thế.
CBTD cũng cần phải xem xét mặt hàng kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp
là gi ? Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng như thế nào? Sản phẩm này có nhiều sản
phẩm thay thế khác trên thị trường hay không? Tính khác biệt của sản phẩm doanh
nghiệp?...Dự báo xu hướng biến đổi của người mua kết hợp với kế hoạch phát triển
của doanh nghiệp trong tương lai để đánh giá tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.
20
Tóm lại, thông qua phân tích, đánh giá môi trường kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ giúp cho CBTD có cơ sở đánh giá cơ hội và thách thức của doanh nghiệp.
Từ đó đưa ra những lời tư vấn cho doanh nghiệp khi thực hiện.
4.5 Thẩm định năng lực tài chính của doanh nghiệp
Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng
Đánh giá tài sản của khách hàng:
Các doanh nghiệp đều có bảng cân đối kế toán (bảng cân đối tài sản), trong đó
phần tài sản phản ánh số kết dư giá trị tài sản tại một thời điểm, hoặc kết dư trung
bình trong kỳ. Đối với hộ, hoặc người tiêu dùng ngân hàng yêu cầu các thông tin về
tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác. Các thông
tin về tài sản cho thấy quy mô, chất lượng tài sản, khả năng quản lý của khách hàng
rất quan trọng đối với quyết định cho vay. Hơn nữa, tài sản (tất cả hoặc một phần )
của khách hàng luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ
khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
• Ngân quỹ: Bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải
thu. Tiền gửi và tiền mặt là tài sản có thể dùng để chi trả ngay, song thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng. Các khoản phải thu (chủ yếu là tiền bán
hàng hoá và dịch vụ chưa thu được tiền ) luôn có khả năng chuyển thành tiền gửi
hoặc tiền mặt. Ngân hàng cần xem xét kỹ các khoản này để loại trừ các khoản bán
chịu không thu được, khó thu được hoặc đã bán lại cho người khác. Các khoản cho
vay ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ của khách hàng, đặc biệt thời
hạn cho vay có thể tính toán dựa trên số ngày của kỳ thu tiền.
• Các chứng khoán có giá: Là các tài sản tài chính của doanh nghiệp. Các tài
Nhiều khách hàng tạo ra lợi nhuận trong quá khứ, thậm chí có khả năng tạo ra
lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên việc trả nợ ngân hàng lại liên quan chặt chẽ tới
ngân quỹ của người vay (ví dụ cho vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là các khoản thu nhập
bằng tiền của người vay, kỳ hạn thu nợ có thể lệch pha với các khoản thu của người
vay). Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời, trên thực
tế, tỷ lệ dòng tiền /tổng các khoản nợ là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với việc dự đoán
các vấn đề tín dụng trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều khoản mục liên quan đến dòng
tiền không được chỉ dẫn đầy đủ trong cân đối tài sản công ty: Phần lớn luồng tiền sau
tháng 12 đều không ghi vào bảng cân đối (các tài khoản chỉ ghi lại nhữ gì đã xảy ra
trong năm vừa qua), phần lớn các trách nhiệm thanh toán không được chỉ ra trong cân
đối khi mà vào thời điểm đó nó không tồn tại. Bán hàng là nguồn tiền quan trọng để
trả nợ song bảng cân đối trình bày rất ít về bán hàng.
22
Để hỗ trợ cho ngân hàng và khách hàng, các luồng tiền trong tương lai- phụ
thuộc vào kế hoạch chi tiêu trong tương lai- cần được dự kiến. Kế hoạch này ghi lại
vận động hàng tháng của các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanh
toán hàng tháng. Người vay có lợi nhuận trong hiện tại có thể có dự án chi trong
tương lai cao và với doanh thu bán hàng không đổi, sẽ có thể có luồng tiền âm (không
có khả năng chi trả).
Phân tích tài chính doanh nghiệp thông qua các hệ số tài chính
Các chỉ tiêu chính dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được chia
làm bốn nhóm sau:
Nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Chỉ tiêu Khả năng thanh toán ngắn hạn : chỉ tiêu này thường được dùng trong
việc đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có thể tính được
dựa vào số liệu từ Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp qua công thức sau
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp có đủ tài sản lưu động có thể chuyển đổi
ra tiền trong thời gian ngắn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không. Rõ ràng
chỉ tiêu này cần phải lớn hơn 1, nếu không doanh nghiệp dễ gặp khó khăn trong thanh
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động
Chỉ tiêu Vòng quay hàng tồn kho: (Inventory turnover ratio)
Công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
Tử số trong chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho là giá vốn hàng bán vì hàng tồn
kho thường được định giá theo giá mua
Chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp có quản lý hàng tồn kho hiệu quả hay
không. Nó đo lường số lần vốn đầu tư vào hàng tồn kho quay vòng trong năm. Nếu
vòng quay hàng tồn kho cao thì có thể doanh nghiệp dự trữ một mức hàng tồn kho
quá ít mà điều này có thể không tốt vì không đủ hàng hoá cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có thể bị mất khách vì thiếu hàng. Nếu chỉ tiêu
này quá thấp thì có thể doanh nghiệp đã mua sắm hàng hoá, sản xuất hoặc kiểm soát
hàng tồn kho không tốt hoặc có thể doanh nghiệp đang trong tình trạng ứ đọng vốn.
Chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân: (Average collection period ratio)
Công thức:
Kỳ thu tiền bình quân =
24
Chỉ tiêu này cho thấy thời hạn tín dụng thương mại bình quân mà doanh
nghiệp áp dụng cho khách hàng của mình. Ngoài ra, thời gian quay vòng các khoản
phải thu còn dùng để đánh giá hiệu quả việc kiểm soát các khoản phải thu của doanh
nghiệp và quy mô các khoản phải thu.
Cần chú ý rằng chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân có thể không phản ánh được thời
hạn tín dụng bình thường trong năm của doanh nghiệp nếu Bảng cân đối kế toán lập
ra ở một thời điểm đặc biệt.
Chỉ tiêu Vòng quay tài sản cố định: (Fixed assets turnover ratio)
Công thức:
Vòng quay tài sản cố định =
Chỉ tiêu này nếu quá thấp cho thấy năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bị hạn chế, còn nếu quá cao cho thấy doanh nghiệp đầu tư quá ít vào tài sản cố
định.