LờI Mở ĐầU
Trong hơn 10 năm qua nhất là từ sau đại hội VI của Đảng công cuộc đổi
mới kinh tế đất nớc bớc đầu có những chuyển biến quan trọng, nền nông nghiệp
Việt Nam đạt bớc tiến bộ rõ rệt. Tình hình sản xuất lơng thực thực phẩm phát
triển khá đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc có dự trữ và xuất khẩu góp phần ổn
định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất nhập khẩu. Đó là kết quả
tổng hợp của việc cải tiến tổ chức sản xuất, thực hiện chính sách khoán trong
nông nghiệp, xoá bỏ chế độ bao cấp, tự do lu thông và điều hoà cung cầu lơng
thực trên phạm vi cả nớc.
Cùng với những thành tựu trong sản xuất, nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần bớc đầu đợc hình thành và vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc. Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý, Nhà nớc đã chủ động
vận dụng có hiệu quả hơn các công cụ pháp luật, kế hoạch, chính sách và các
công cụ đòn bẩy khác, trong đó việc đổi mới các chính sách giá, thuế, tín dụng,
đầu t, lu thông, kinh tế đối ngoại..., có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy nông
nghiệp phát triển. Đồng thời, Nhà nớc đã thực hiện chính sách điều chỉnh quan
hệ sản xuất ở nông thôn bớc đầu đã giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng
lao động và vốn của nhân dân.
Sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn chịu sự tác
động của nhiều nhân tố trong đó chính sách đóng vai trò gần nh quyết định, đó
chính là tác động can thiệp của Nhà nớc đối với sự phát triển nông nghiệp nông
thôn. Chính sách đóng vai trò quan trọng và là yếu tố bao trùm tác động mạnh
mẽ bảo đảm sự thành công của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội nông thôn và
phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nớc. Chính sách đúng đắn sẽ tạo
động lực cho ngời lao động, cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế
tham gia tích cực vào phát triển sản xuất mở rộng kinh doanh, phát triển kinh tế
xã hội với nhịp độ nhanh và ổn định.
Chơng I
Lý luận chung về tình hình đầu t phát triển
sản xuất nông nghiệp
I. Tổng quan về đầu t
Con đờng tất yếu có thể tăng nhanh tốc độ mong muốn là tăng cờng đầu
t nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu công nghiệp và dịch vụ, đối với các
ngành nông nghiệp, lâm ng nghiệp do hạn chế về đất đai và các khả năng sinh
học để đạt tốc độ tăng trởng từ 5-6% là khó khăn, nh vậy chính sách đầu t quyết
định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.1.5 Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của đất nớc
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu t là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta hiện nay. Để có
công nghệ thì phải tự nghiên cứu phát minh hoặc nhập công nghệ từ nớc ngoài
nhng vấn đề là phải có tiền, vốn đầu t.
2.2 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của cơ sở nào đó cần
phải xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng mua sắm lắp đặt thiết bị máy móc,
thực hiện các chi phí khác gắn liêng với sự hoạt động trong một chu kỳ của các
cơ sở vật chất - kỹ thuật. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu t, sau một
thời gian hoạt động các cơ sở này hao mòn, h hỏng và để hoạt động bình thờng
hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới thì phải đầu t nâng cấp
và tiến hành sửa chữa.
3. Đầu t phát triển cho sản xuất nông nghiệp
3.1 Đầu t trong nông nghiệp đợc tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, và còn
lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Khác với các lĩnh vực đầu t khác,đầu t trong nông nghiệp để tiến hành sản
xuất nông nghiệp, vì vậy, nó đợc thực hiện trên một địa bàn rộng (nh áp dụng
tiến bộ về giống cho cả một huyện...). Ngoài ra, việc đầu t còn lệ thuộc vào đất
đai, thời tiết, khí hậu và thuỷ văn của từng vùng. Do vậy, quá trình đầu t diễn ra
rất phức tạp, nó không đợc dập khuôn mà phải diễn ra theo một quá trình, nó đ-
ợc xuất phát từ việc điều tra các nguồn tài nguyên nông-lâm-ng nghiệp của đất
nớc cũng nh của mỗi vùng để có sự đầu t vào nghiên cứu và sử dụng các loại cây
trồng, các con vật nuôi thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn việc đầu t phát triển cơ
ợng hàng hoá xuất khẩu và đời sống nhân dân đợc tăng cao, Đảng và Nhà nớc
cần quan tâm đầu t hơn nữa đến lĩnh vực này, đồng thời có những biện pháp thu
hút mạnh mẽ các nguồn vốn khác, đặc biệt là nguồn vốn trong dân đầu t cho cải
tạo đất và phát triển nông nghiệp.
3.3 Đầu t trong nông nghiệp là quá trình đầu t phát triển hệ thống giống và
chế biến nông sản, chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Cây trồng và con vât nuôi - đối tợng sản xuất của nông nghiệp, lag những
cơ thể sống, chúng sinh trởng và phát triển theo những quy luật sinh học nhất
định. Là những cơ thể sống do đó chúng rất nhạy cảm với môi trờng tự nhiên.
Mỗi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, về sự chăm sóc của con ngời đều tác động
trực tiếp đến quá trình sinh trởng và phát triển của chúng và đơng nhiên là ảnh
hởng đến kết quả cuối cùng của sản xuất. Vì vậy, đặc trng của đầu t trong nông
nghiệp là đầu t cho phát triển hệ thống giống. Trong thời gian vừa qua, chúng ta
đã đầu t xây dựng đợc một số trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống với nhiều
loại giống tốt góp phần to lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp đạt kết quả
cao. Trong thời gian tới, để ngành nông nghiệp ngày càng phát triển, nhất thiết
chúng ta phải tăng cờng đầu t hơn nữa để cải tạo và xây dựng các trung tâm
nghiên cứu và sản xuất giống. Việc làm này không chỉ ở một số nơi mà cần mở
rộng ra nhiều nơi, mỗi vùng đặc trng ít nhất phải có một trung tâm nghiên cứu
và sản xuất giống. Ngoài việc nghiên cứu và sản xuất các loại giống mới phù
hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, cần phải đầu t hơn nữa để tạo ra các
loại giống có phẩm chất tốt nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Có nh
vậy, quá trình sản xuất nông nghiệp mới đạt kết quả cao, ngành nông nghiệp
mới khẳng định đợc vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân.
Ngoài việc đầu t phát triển hệ thống giống, đầu t cho chế biến nông sản
cũng vô cùng quan trọng, nó giúp cho các nông sản sau khi thu hoạch đợc bảo
đảm và việc chế biến nông sản làm cho giá trị nông sản hàng hoá đợc nâng cao,
góp phần tăng thu nhập cho ngời lao động.
Bên cạnh đó đầu t cũng nhằm phát triển giống cây, giống con mang năng
suất, chất lợng tốt, đồng thời chuyển đổi cơ cấu kinh tế nuôi trồng các cây, con
Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với nớc ta. Với gần 80% dân số sống
ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp đã cung cấp phần lớn t liệu sinh hoạt cho ng-
ời dân, đồng thời nó cũng đáp ứng đợc nhu cầu việc làm cho ngời lao động.
Quan trọng hơn, sản xuất nông nghiệp nớc ta đóng một vai trò to lớn trong nền
kinh tế quốc dân.
2. Nông nghiệp nông thôn là thị trờng rộng lớn, tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá của cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Đối với các nớc đang phát triển nói chung, nớc ta nói riêng, nông nghiệp
và nông thôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội và cơ cấu
dân c. Đời sống dân c ngày càng đợc nâng cao, cơ cấu nông thôn ngày càng đa
dạng và đạt tốc độ tăng trởng cao thì nông nghiệp nông thôn sẽ trở thành thị tr-
ờng tiêu thụ ngày càng rộng lớn và ổ định của nền kinh tế quốc dân. Nhờ vào sự
phát triển mà nhu cầu của ngời dân ngày càng tăng, không chỉ tiêu dùng những
t liệu sinh hoạt đơn giản phục vụ cho ăn no mặc ấm, mà nhu cầu ngày càng mở
rộng, ngời ta càng quan tâm đến ăn ngon, mặc đẹp và những phơng tiện ngày
càng hiện đại phục vụ cho đời sống vật chất cũng nh tinh thần. Cùng với quá
trình đó, sản xuất nông nghiệp cũng đòi hỏi ngày càng đợc cơ khí hoá và áp
dụng những thành tựu khoa học và công nghệ vào trong sản xuất. Chính vì vậy,
nó không chỉ dừng lại ở đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp mà sản phẩm công
nghiệp ngày càng đợc đòi hỏi nhiều hơn, ngày càng đa về phục vụ cho nông
nghiệp, nông thôn nhiều hơn. Cho nên, nó đã thúc đẩy mạnh mẽ đến sản xuất
công nghiệp và phát triển dịch vụ. Qua đó, sẽ giúp cho nền kinh tế quốc dân
ngày càng phát triển.
3. Nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho xã hội.
Đối với các nớc đang phát triển nói chung, nớc ta nói riêng, nguyên liệu
từ đầu vào là bộ phận chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều
ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Một số loại nông sản, nếu tính trên
một đơn vị diện tích, có thể tạo ra số việc làm sau nông nghiệp nhiều hơn hoặc t-
ơng đơng với việc làm của chính khâu sản xuất ra nông sản ấy. Hơn nữa, thông
là điều kiện để quá trình tái sản xuất nông nghiệp diễn ra bình thờng có hiệu
quả.
III. ả nh h ởng của chính sách nông nghiệp nông thôn đối với một số n ớc
1. Chính sách của Nhà nớc Thái Lan đối với việc đa dạng ngành nông
nghiệp
Vai trò của Chính phủ Thái Lan có tác dụng đến sản xuất các cây trồng
khác nhau. Chính phủ Thái Lan đã đề ra bốn chính sách đó là chính sách về giá
cả, tín dụng, thuỷ lợi, ngiên cứu và triển khai, các cơ quan khác nhau đã tham
gia vào các chính sách trên với sức ép hành chính của Chính phủ và chính trị
khác nhau. Kế hoạch 5 năm lần thứ sáu 1986 - 1991 xác định rõ đa dạng hoá là
quan niệm chỉ đạo trong các chính sách nông nghiệp của Chính phủ trong thời
kỳ kế hoạch, đây là một nhân tố then chốt để định hớng ngành nông nghiệp Thái
Lan. Đầu thập kỷ 80 tất cả cây trồng ngoài lúa gạo, toàn bộ ngành nông nghiệp
đẫ đợc đa ra thị trờng thế giới chuyển sang bất lợi thì không những thơng gia,
nông dân phản ứng mà bản thân Chính phủ cũng phải điều chỉnh lại. Một mặt
Chính phủ phải có sự hỗ trợ nh một hệ thống bảo dảm an toàn về thu nhập cho
nông dân, phản ứng mạnh mẽ với giá cả nông dân Thái Lan hàm ý có sự chuyển
sang chống đa dạng hoá, mặt khác với việc cung ứng các dịc vụ hỗ trợ nh tín
dụng, thuỷ lợi, nghiên cứu và triển khai về lý thuyết thì Chính phủ có những
công cụ để chuyển cơ cấu sản xuất ra khỏi các loại hàng hoá đã bị ảnh hởng bất
lợi tuy vậy nhng rất khó khăn vì chi phí về vốn khi tiến hành đầu t, các cơ cấu đã
đợc cố định thì khó co thể thya đổi một cách dễ dàng để chuyển sang sản xuất
các loại hàng hoá khác. Sự thua thiệt của nông dân Thái Lan do sự sụt giá thế
giới vào đầu và giữa thập kỷ 80 đã làm tăng sự cần thiết có một mô hình trồng
trọt đa dạng hoá làm tiêu chuẩn thực tế đối với mỗi ngời nông dân. Đối với
Chính phủ ngời ta chỉ mới thấy điều quan tâm ấy trong Cục nông nghiệp và sau
đó là trong Viện hệ thống canh tác (BAAC). BAAC đòi hỏi chính sách cho vay
của mình theo hớng tránh độc canh nhng vẫn phải xem xét đối tợng cho vay chặt
chẽ hơn. Nhóm duy nhất nằm trong phạm vi xem xét là những nông dân trồng
lúanhờ nớc trời, họ bị phân biệt đối xử là do có thu nhậo thấp, họ bán ra thị tr-
hàng nông nghiệp cho ngời trồng lúa vay, Ngân hàng trung ơng tái chiết khấu
các khoản cho vay tổng hợp với lãi suất trợ cấp.
- Các chơng trình tài trợ đặc biệt: Chính phủ Philippin đã thiết lập các chơng
trình cho vay đặc biệt hớng vào khách hàng đặc biệt đó là nhu cầu tín dụng của
những ngời nghèo.
- Tự do về tài chính trong các chi nhánh và tổ chức Ngân hàng: Ngân hàng
Trung ơng của Philippin bị hạn chế trong việc phát hành các giấy phếp thành lập
Ngân hàng mới và các chi nhánh của các nhà băng hiện có. Điều hạn chế cơ bản
của nó trong việc bảo vệ ngời gửi tiền và duy trì sự ổn địng trong hệ thống tài
chính.
- Cải cách các quy tắc: Kinh nghiệm chung đối với sự tự do tài chính đã chỉ ra
rằng quá trình tự do tài chính có nhiều mặt. Khi luật lệ gây ra sự kiềm chế tài
chính đợc cải tổ thì các bộ máy hành chính thu hành những luật trói buộc đó
cũng cần phải cải cách. Kinh nghiệm cải cách của Philippin đã làm thức tỉnh về
một cơ cấu luật lệ không tơng hợp với quyền sở hữu và quản lý của khu vực t
nhân và sự can thiệp tối thiểu của Chính phủ vào việc kinh doanh và vào xí
nghiệp.
Chơng II:
Thực trạng về chính sách đầu t với việc phát
triển sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
A. Quá trình hoàn thiện chính sách đầu t phát triển
sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Mục tiêu cơ bản lâu dài trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn nớc ta
đến năm 2000 đợc thể hiện trong Nghị quyết hội nghị Trung ơng 5 khoá VII của
Đảng Công sản Việt Nam là:
* Trên cơ sở phát triển nhanh chóng và vững chắc nông lâm ng nghiệp,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịc vụ nông thôn , nâng cao chất lợng và
hiệu quả kinh doanh thu hút đại bộ phận lao động dôi thừa, tăng năng suất lao
động xã hội, giải quyết nhu cầu lơng thực, thực phẩm cho nhân dân, đáp ứng
nhu cầu nguyên liệu nông lâm thuỷ sản cho công nghiệp tăng kim ngạch xuất
35,7% năm1992. Giá trị sản phẩm chăn nuôi cũng tăng lên và chất lợng đàn gia
súc đợc cải thiện hơn. ở nông thôn các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ cũng đợc mở mang góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế và
bộ mặt nông thôn, thu hút lao động và giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn.
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp nông thôn n-
ớc ta thao tinh thần Nghị quyết đại hội VI, VII và đợc cụ thể hoá bằng Nghị
quyết 10 của Bộ chính trị và Nghị quyết hội nghị Trung ơng 5 "Nghị quyết này
khắc phục mâu thuẫn và hạn chế trong cách "khoán 100", đổi mới một cách cơ
bản cơ chế quản lý nông nghiệp, Nghị quyết 10 là sự cụ thể hoá đờng lối đổi
mới kinh tế toàn diện do Đảng đề ra". Đây là những chiến lợc cho sự phát triển
nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nông thôn nớc ta, các chính sách nông
nghiệp tạo môi trờngthuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống
kinh tế xã hội nông htôn theo hớng tốt hơn.
* Chính sách ruộng đất: Luật đất đai năm 1993 đợc coi là một trong
những chính sách lớn tạo cơ sở tiền đề và là trung tâm trong việc giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp và nông thôn. Kèm theo Luật đất đai là
những quy định về thuế sử dụng đất và một số văn bản khác có liên quan đã có
tác dụng to lớn làm chuyển biến nền nông nghiệp, nông thôn nớc ta. Luật đất đai
năm 1993 khẳng định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc thống nhất
quản lý", còn việc sử dụng đất đai đợc Luật quy định, Nhà nớc giao cho các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Luật cũng quy định ngời
sử dụng đất có quyền chuyển nhợng, cho thuê, thế chấp, thừa kế và đợc bồi th-
ờng thiệt hại trong trờng hợp đất bị thu hồi. Có thể nói các quyền quy định trong
Luật đất đai năm 1993 là cơ sở pháp lý, dồng thời là cơ sở tiền đề cho việc thực
hiện sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hớng mở rộng và tăng diện tích đất
trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, giá trị hàng hoá lớn để mở rộng thị tr-
ờng trong nớc và xuất khẩu trên cở sở một nền nông nghiệp thâm canh và ứng
dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật.
* Chính sách thị trờng và giá cả: Nét nổi bật của chính sách thị trờng và
triển trồng mới 5 triệu hecta rừng, kết hợp với bảo vệ môi trờng và khoanh môi
tái sinh để đạt tỷ lệ phủ xanh 40% diện tích cả nớc. áp dụng chính sách sử dụng
gỗ tiết kiệm. Thực hiện nhất quán chủ trơng giao đất, giao rừng cho các hộ gia
đình thực sự làm chủ, có thể sống bằng nghề rừng, ổn định đời sống cho đồng
bào định canh, định c. Thu hẹp, tiến tới xoá tình trạng du canh, du c. Phối hợp,
tổ chức chặt chẽ có hiệu quả việc di chuyển dân ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc, không để tái diễn tình trạng di dân tự do. Tổ chức lại công nghiệp chế biến
thuỷ hải sản và các dịch vụ trên bờ, cải tạo và nâng cấp hệ thốnh hạ tầng cơ sở
nghề cá. Tạo điều kiện và khuyến khích các hộ, nhóm hộ ng dân tự đầu t mua
sắm tàu thuyền lớn ra khơi, sản xuất và chế biến hải sản, làm dịch vụ.
* Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp
hànghoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu nhập cho
nông dân nghèo. Khẩn trơng hoàn thành việc giao đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho nông dân, khuyến khích và giúp đỡ các hộ nông dân đổi
đất cho nhau để khắc phục tình trạng ruộng đất quá phân tán và manh mún.
Quản lý chặt chẽ việc chuyển nhợng quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật,
không để nông dân nghèo sống bằng nghề nông phải bán đất, ngăn chặn và xử
lý các thủ đoạn chèn ép, cỡng đoạt ruộng đất của nông dân nghèo. Cha đặt vấn
đề mở rộng mức hạn đối với đất canh tác. Kiểm tra việc thực hiện hcính sách
hạn điền đối với đất canh tác phù hợp với điều kiện đất đai ở các vùng khác
nhau, có chính sách, biện pháp quy định cụ thể, hợp lý để xử lý đối với từng loại
đất vợt hạn điền theo nguyên tắc sử dụng đất có hiệu quả, đồng thời nghiêm cấm
hành vi mua bán đất kiếm lời bảo đảm công bằng xã hội. Đành giá phân loại các
trờng hợp nông dân không còn ruộng đất để sản xuất để có chính sách, giải pháp
xử lỹ phù hợp với từng trờng hợp theo hớng vừa không để nông dân bị bần cùng
hoá do không có đất để sản xuất, vừa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất hợp lý
theo tiến trình công nghiệp hoá. Bổ xung thể chế, ngăn chặn tình trạng lãng phí
đất đai. Có chính sách phân biệt việc đền bù cho nông dân bị lấy đất để sử dụng
vào mục đích kinh doanh và mục đích công ích, giúp nông dân bị lấy đất có việc
làm và nguồn thu nhập mới.
thuế hoặc thuế suất thấp các loại nguyên vật liệu phục vụ công nghiệp nông thôn
mà trong nớc cha sản xuất đợc hoặc còn thiếu.
Xây dựng các quỹ bảo hiểm sản xuất dới nhiều hình thức. Nhà nớc có
chính sách cho nông dân nghèo vay tiền vào đầu vụ thu hoạch để không phải
bán nông sản ở thời điểm bất lợi về giá. Phát triển các loại hình king doanh kết
hợp công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu theo phơng thức ký kết hợp đồng
dài hạn với nông dân.
3. Phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các
cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ sở
quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa: tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh tế
hộ gia đình, kể cả kinh tế tiểu chủ. Tập trung chỉ đạo phát triển mạnh các hình
thức kinh tế hợp tác của nông dân theo tinh thần Chỉ thị 68/CT-TƯ của Ban bí
th Trung ơng Đảng khoá VII và Luật hợp tác xã.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông
nghiệp và nông thôn theo hớng tập trung làm dịc vụ (điện, nớc, kỹ thuật, tài
chính - ngân hàng, thơng mại, vận tải...vv) công nghiệp chế biến và chuyển giao
cho nông dân, trên cở sở đó phát triển thêm một số cơ sở quốc doanh nông, lâm
nghiệp ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đổi mới và củng cố các quốc doanh đánh
cá theo hớng tăng nhanh khả năg bám trụ dài ngày trên biển, làm dịch vụ ngoài
biển và trên bờ để tạo điều kiện cho ng dân ra khơi bám biển. Phát triển các hình
thức hợp tác giữa các doanh nghiệp Nhà nớc với các hợp tác xã và các hộ nông
dân. Xây dựng hiệp hội ngành nghề hoạt động theo cơ chế dân chủ, tự quản,
trong đó cơ sở quốc doanh trong hiệp hội có vai trò nòng cốt.
B. Thực trạng về đầu t phát triển sản xuất nông
nghiệp qua các năm
I. Tình hình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 1990-1995
1. Thành tựu đạt đợc trong nông nghiệp
Đây là thời kỳ phát triển ổn định của nông nghiệp nớc ta trên cả hai
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt phát triển toàn diện, trong đó nổi bật
nhất là sản lợng lơng thực. Sản lợng lơng thực quy thóc bình quân thời kỳ
định là một yếu tố quyết định làm tăng sản lợng lúa 5 năm qua. Cùng với yếu tố
diện tích tăng, năng suất láu trong thời gian đó cũng tăng từ 31,4 tạ/hecta lên
46,4 tạ/hecta. Nếu tính bình quân 5 năm 1991-1995 so bình quân 5 năm
1986-1990, năng suất lúa tăng từ 35,3 tạ/ha lên 40,4 tạ/ha, trở thành nguyên
nhân chủ yếu quyết định quy mô và tốc độ tăng sản lợng lúa nói riêng, lơng thực
nói chung. Bình quân hai thời kỳ, sản lợng lúa cả nớc tăng thêm 5,2 triệu tấn
(22,4 so với 17,2) riêng năng suất tăng đã làm sản lợng lúa tăng 3,1 triệu tấn.
Các yếu tố thâm canh lúa nh thuỷ lợi, phân bón, chăm sóc đặc biệt giống mới,
khuyến nông đều góp phần tích cực vào quá trình và kết quả thâm canh, tăng
năng suấtlúa những năm qua. Giá vật t, phân b ón ổnn định, số lợng và chủng
loại phong phú, phơng thức mua, bán linh hoạt lu thông tự do đã tạo điều kiện
cho nông dân thâm canh tăng năng suất lúa cao hơn các thời kỳ trớc đó.
Điều đặc biệt có ý nghĩa là: những kết quả đó đạt đợc trong điều kiện thời
tiết không thuận lợi, vụ Đông xuân 1990-1991 sâu rày phá hoại làm giảm nửa
triệu tấn lúa ở đông bằng sông Cửu Long, ma lớn ở đồng bằng sông Hồng làm
thiệt hại hơn triệu tấn thóc. Nếu không có những khó khăn khách quan trên đây,
chắc chắn sản lợng lơng thực còn đạt mức cao hơn, thành tựu còn to lớn hơn.
Hai vùng điểm lúa hàng hoá đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long,
đều đạt những tiến bộ mới về thâm canh tăng vụ, trong đó nổi lên 10 tỉnh vợt
mức lơng thực 1 triệu tấn/năm.
Màu lơng thực tuy phát triển chậm hơn, sản lợng quy thóc (từ 2,44 triệu
tấn lên 2.58 triệu tấn trong hai thời kỳ) nhng cũng có những nét mới về cơ cấu
sản xuất. Cây ngô tăng nhanh cả về diện tích lẫn năng suất 1991: diện tích 44
vạn ha, năng suất 15 tạ/ha; 1995: diện tích 53 vạn ha, năng suất 20 tạ/ha, đa sản
lợng ngô từ 67,2 vạn tấn lên 1,1 triệu tấn trong 5 năm. Đó lag một tiến bộ quan
trọng góp phần ổn định và tăng nhanh sản lợng lơng thực cả nớc theo hớng thị
trờng. Các cây màu khác nh khoai sắn... phát triển chậm và giảm sút do kém hấp
dẫn đối với thị trờng, giá cả thấp, khả năng tiêu dụng thu hẹp do đợc mùa lúa. Sự
điều chỉnh nh trên là hợp lý.
Sản xuất rau, đậu, cây công nghệ, cây ăn quả có những bớc phát triển
1991- 1995 so với bình quân 5 năm 1986- 1990, đàn trâu tăng 5,7%, đàn bò tăng
10,1%, đàn lợn tăng 24%, đàn gia cầm tăng 28,7%, sản lợng thịt hơi xuất
chuồng tăng 25,6%, sản lợng trứng tăng 33,6% là những thực tế chứng minh sự
phát triển khá nhanh và ổn định của chăn nuôi trong cơ chế mới. Không chỉ tăng
đầu t con mà trọng lợng xuất chuồng bình quân cũng tăng nhanh, nên sản lợng
thịt hơi các loại xuất chuồng tăng từ 918 nghìn tấn lên 1,15 triệu tấn trong hai
thời kỳ, riêng 1995 đạt 1,29 triệu tấn. Chất lợng sản phẩm chăn nuôi đợc nâng
cao nhất là thịt lợn, theo chơng trình nạc hoá, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nớc và xuất khẩu. Sản lợng trứng, sữa bò, mật ong... đều tăng nhanh. Đặc
biệt, chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh ở các vùng ven đô thị nhất là ngoại thành
thnàh phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tổng đàn bò sữa cả nớc năm 1995 ớc đạt 20
nghìn coc trong đó riêng thành phuố Hồ Chí Minh có trên 11 nghìn con (năm
1991 có 5492 con, 1994 có 10420 con), chủ yếu theo quy mô hộ gia đình và các
nông trại nhỏ.
Chăn nuôi phát triển, thực phẩm cung cấp cho thị trờng trong nớc và xuất
khẩu tăng nhanh, nhiều vùng chăn nuôi hàng hoá đa hình và tng trởng ổn định là
một nét mới trong sản xuất nông nghiệp nớc ta 5 năm 1991-1995. Cac sản phẩm
xuất khẩu nh thịt chế biến, trứng vịt muối, lông vịt tuy còn ít về số lợng, nhng
chất lợng có tiến bộ, nên thị trờng đợ mở rộng và ổn định hơn. Sản lợng thịt chế
biến năm 1993 lên tới 19,7 nghìn tấn, so với 12,8 nghìn tấn năm 1992.
Chăn nuôi gia súc khác có bớc phát triển mới: nhất là đàn dê tăng nhanh,
chăn nuôi hơu, nuôi ong , nuôi tằm mở rộng theo hớng sản xuất hàng hoá và đã
góp phần quan trọng cung cấp thêm nhiều sản phẩm có giá trị têiu dùng trong
nớc và xuất khẩu. Một số tỉnh đã bắt đầu phát triển đàn cừu, bổ xung nguồn thực
phẩm có giá trị phục vụ nhu cầu tiêu dùng đang tăng lên của dân c và khách sạn
du lịch. Đàn dê từ 312 nghìn con năm 1991 tăng lên 370 nghìn con năm 1994,
đàn cừu từ vài trăm con tăng lên trên một nghìn con chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận.
Tốc độ tăng trởng chăn nuôi trong những năm qua, đặc biệt 3 năm
1993-1995 khá ổn định: Đàn trâu 4,3%, đàn bò 6,4%, đàn lợn 20%, đàn gia cầm
21%, trọng lợng thịt hơi xuất chuồng 22,8% so với mức bình quân 1989-1992.
đổi: vốn bao cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh giảm hẳn và chuyển những
đầu t đó sang hình thức tín dụng vay vốn và phải trả lãi suất để tạo cho các xí
nghiệp nông nghiệp quốc doanh quan tâm đến việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Vốn ngân sách dành cho khai hoang vẫn giữ tỷ lệ 5%-7%, tỷ lệ dàng cho
các nông trờng quốc doanh từ 40% của những năm 1986-1987 giảm xuống còn
trên 10%. Đảng lu ý là vốn ngân sách tập trung đầu t cho thuỷ lợi (chủ yếu là
thuỷ nông) - một bộ quan trọng của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn cũng
giảm.
Biểu 1. Vốn và cơ cấu vốn đầu t xây dựng cơ bản của Nhà nớc trong ngành
nông nghiệp năm 1990-1995.
1990
Sốlợng Tỷtrọng
1991
Sốlợng Tỷtrọng
1992
Sốlợng Tỷtrọng
1993
Sốlợng Tỷtrọng
Tổng số
I.Trồng trọt
1.Khai
hoang
2.Nông tr-
ờng QD
Trong đó:
Cao su
Cà phê
Chè
30102 3,6
1140000 100
314000 27,5
40000 3,5
1.Chuồng
trại
2. Trạm trại
KT
III.Trạm
máy kéo
IV.Thuỷ lợi
Trong đó
thuỷ nông
4400,0 1,1
12503,0 3,7
36,0
299830,0 73,3
244435,0 59,7
400 0,06
405,000 65,8
234000 56,1
9505 1,1
20597 2,4
581636 69,2
438335 55,2
786000 69,0
Nhà nớc đã dành số vốn lớn đề thực hiện chơng trình 327 nhằm bảo vệ có
hiệu quả vốn rừng hiện có gắn với định canh định c, phủ xanh đất trống đồi trọc,
tăng khả năng phòng hộ của rừng, tạo ra sản phẩm hàng hoá, giả quyết việc làm,
góp phần phân bố lại lao động dân c và củng cố an ninh quốc phòng. Triển khai
các Hợp tác xã 109 tỷ.
Lợng vốn cho các hộ nông dân vay chủ yểu là tín dụng ngắn hạn, doanh
số cho vay chiếm 96-99%. Số lợt hộ đợc vay ở các vùng có khác nhau, theo các
thời gian cũng khác nhau. ở thời kỳ này, lãi suất cho vay uyển chuyển hơn, tỷ lệ
lãi suất theo xu hớng giảm xuống. Từ 5/1992 lãi suất cho các hộ vay là
3,3-4,2%/tháng đối với tín dụng ngắn hạn và trung hạn. Từ 8/1992 lãi suất tín
dụng giảm xuống tơng ứng còn 3.0-3.2%/tháng và 2,1-2,4%/tháng. Từ 10/1993
lại giảm còn 1,4-1,8% và 1,2%. Tuy vậy, tổ chức Ngân hàng thơng mại vẫn cha
đạt lãi suất dơng. Hàng năm Ngân hàng nông nghiệp còn bị lỗ. Năm 1992 lỗ
kinh doanh toàn ngành là 52 tỷ đồng.
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện một số mô hình tín dụng
và phơng thức chuyển tải vốn xuống các vùng nông thôn với các đối tợng: hộ
giầu, trung bình và nghèo. Có hai phơng thức cho vay tới hộ: cho vay trực tiếp
theo 2 dạng: cho vay tại Hội sở ngân hàng và thành lập tổ cho vay lu động cho
vay và thu nợ trực tiếp tới hộ nông dân, cho vay thông qua tổ nhóm tơng hỗ tín
chấp... do nông dân tự nguyện thành lập và cho vay thông qua tổ chức kinh tế tài
chính trung gian (hợp tác xã, nông trờng, xí nghiệp, ngân hàng cổ phần, hợp tác
xã tín dụng...) làm dịch vụ hởng hoa hồng (20% chênh lệch lãi suất đầu vào và
đầu ra thu nộp vào ngân hàng).
Biểu 2.
Đến 31/12/1991 Đến 31/12/1992 Đến 30/6/1993
D nợ đến
31/12/1991
Doanh
số cho
vay
D nợ Doanh
số cho
vay
D nợ Doanh
2423,4
96,9
77,6
3,1
1430,8
100
1363,9
95,3
66,9
4,7
2781,7
100
2735,3
99,7
5,7
1,7
2479,3
100
2384,3
98,3
46,4
3,8
Theo các
vùng
1.Đồng bằng
sông Hồng
2.Đồng bằng
sông Cửu
Long
1,1
60,2
6,8
29,9
25,0
45,7
43,0
6,2
287,9
249,8
404,1
285,0
95,4
165,5
126,9
241,2
145,8
53,0
338,0
262,8
477,7
302,0
165,6
283,0
202,4
428,3
305,3
112,6
3. Chính sách cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
3.1 Cơ cấu ngành nông nghiệp
Cơ cấu nông nghiệp đã từng bớc phát triển toàn diện hơn, hạn chế dần
Vùng chè tập trung chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Điều đó
đã tạo ra sự phân bố lại lao động, vốn đầu t và t liệu sản xuất, thúc đẩy các vùng
kinh tế lạc hậu phát triển.
3.4 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn nớc ta có sự
chuyển biến theo hớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành nghề
và dịch vụ phi nông nghiệp. Do đó cơ cấu kinh tế nông thôn bớc đầu có sự
chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Giá trị sản lợng nông nghiệp vẫn chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế
quốc dân: năm 1993 nông nghiệp chiếm 29,2% trong GDP và hơn 70% lực lợng
lao động. Tuy vậy, trong nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi phát triển chậm,
sản xuất và cân đối lơng thực tuy đã khá hơn những vẫn cha thật vững chắc, cây
công nghiệp bị giảm sút cả số tuyệt đối và tỷ trọng 8,1% năm 1985 xuống còn
6,6% năm 1992, chăn nuôi cha trở thành ngành chính.
Cơ cấu kinh tế nông thôn chậm biến đổi, ở nhiều nơi vẫn mang nặng tính
thuần nông, ví dụ ở đồng bằng sông Hồng, trong giá trị tổng sản lợng,phần phi
nông nghiệp mới có 15%, ở miền núi phía Bắc 10,7%. Trong nhiều năm chúng
ta thực hiện u tiên phát triển công nghiệp nặng, do đó vốn đầu t cho nông nghiệp
còn cha thoả đáng. Nếu tính bình quân 10 năm 1976-1986 vốn đầu t cho nông
nghiệp và thuỷ lợi chiếm 18,75 trong tổng vốn đầu t, riêng nông nghiệp là 9,8%
và thuỷ lợi là 8,9%. Từ năm 1986 đến nay tuy Nghị quyết của Đảng đã nêu rõ
"nông nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu" nhng vốn đầu t cho nông nghiệp vẫn
chiếm tỷ trọng thấp so với công nghiệp. Vì đầu t cho nông nghiệp cha thoả đáng
nên cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp còn thấp. Các công trình thuỷ lợi
mới đảm bảo tới đợc 40,5% diện tích gieo trồng hàng năm. Tình trạng úng hạn
xảy ra thờng xuyên, phân hoá học và thuốc trừ sâu còn thiếu , diện tích cày bừa
bằng máy mới chiếm khoảng 20%. Việc chế biến nông sản còn ở mức thấp làm
ảnh hởng đến sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu nông sản.
Mặc dù cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn nớc ta trong những năm
qua đã có những biến đổi cơ bản và tích cực nhng sự biến đổi đó diễn ra với tốc
Một số các công trình thuỷ lợi tuy đầu t vốn lớn nhng đã xuống cấp nên
năng lực phục vụ sản xuâts nông nghiệp còn hạn chế. Thực tế cho thấy rằng,
năng lực tới của các công trình thuỷ nông cả nớc mới đảm bảo tới tự chảy trên
2,2 triệu ha canh tác, tới bán điện trên 1,1 triệu ha canh tác, tổng công 3,3 triệu
ha canh tác. Nhng thực tế hàng năm chỉ khai thác đợc khoảng 90% công suất
thiết kế do máy móc cũ kỹ, kênh mơng sụt lở, thiếu điện, không đồng bộ giữa
công trình đầu mối và hệ thống kênh mơng. Cacs hồ đập thuỷ lợi tuy công suất
thiết kế tới lớn, nhng về mùa khô thờng xuyên thiếu nớc do tệ phá rừng đầu
nguồn, đốt nơng làm rẫy nên năng lực thực tế tới rất thấp. Cây trồng quan trọng
nhất của Việt Nam là cây lúa thì năm 1995 diện tích lúa đợc tới là 5,6 triệu ha,
chiếm 84% tổng diện tích gieo cây lúa cả nớc, trong đó vụ lúa Đông xuân 2,5
triệu ha, lúa Hè thu 2 triệu và 1,1 triệu ha vụ mùa. Diện tích lúa bị hạn, bị úng
hàng năm vẫn còn lớn nhất là ở vùng đồng băng sông Hồng và miền Trung.
Khả năng chống hạn, chống úng của các công trình thuỷ nông hiện có dù có khá
hơn trớc song vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu cung cấp nớc theo nhu cầu sinh tr-
ởng của cây lúa. Tỷ lệ diện tích lúa đợc tới, tiêu theo khoa học cha đạt 50% tổng
diện tích gieo cấy hàng năm.
Biểu3. Số lợng các công trình thuỷ lợi
ĐVT 1991 1992 1993 1994 1995
Số công trình
thuỷ lợi
Trong đó
- Thuỷ nông:
Đại thuỷ nông
-Trạm bơm điện
- Trạm bơm dầu
- Thuỷ điện kết
hợp thuỷ nông
- Máy kéo tiêu
chuẩn (15 CV)
975,0
5310
5180
454
2905
366
105
38000
38000
1000
5350
5215
457
3047
376
119
46800
46800
1166
5415
5319
460
3120
394
125
57500
57500
1300
II. Tình hình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ
1996-2001
định c và hơn 1,2 triệu ngời đang đợchởng lợi qua đầu t các dự án định canh
định c.
Cơ sở vật chất kỹ thuật đợc cải thiện, trong 5 năm đã hoàn thành và đa
vào sử dụng 200 công trình thuỷ lợi. Năng lực tới tăng thêm 100 nghìn ha, tạo
nguồn nớc tăng 200 nghìn ha, năng lực tiêu tăng 200 nghìn ha.
Nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đợc áp dụng, góp phần quan trọng cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn. Đến năm 2000 hơn 90% diện tích gieo trồng lúa
đã sử dụng gần 70 giống lúa mới; ngô lai chiếm 56% diện tích, bông lai chiếm
80%, giống mía mới có năng suất cao chiếm 16% diện tích. Bò lai Sind chiếm
12%, lợn có tỷ lệ nạc cao (45-50% nạc) chiếm 20%. Hơn 30 viện nghiên cứu
khoa học và nhiều cơ sở sản xuất giống cây, con đợc hình thành. Riêng ngành
thuỷ sản có hơn 3300 cơ sở sản xuất tôm giống và cá giống, đáp ứng đợc nhu
cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở các vùng.
Các loại máy móc dùng trong nông nghiệp tăng gấp 1,25 lần, tầu đánh cá
xa bờ hiện có hơn 5800 chiếc, nhiều công việc nặng nhọc đợc cơ giới hoá, tạo
điều kiện tăng năng suất và giảm sức lao động.
Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông, lâm ng nghiệp tăng từ 2,5 tỷ USD năm
1995 lên hơn 4,3 tỷ USD năm 2000, chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
Ngành nghề nông thôn đợc khôi phục và phát triển, nhiều vùng sản xuất
nông sản hàng hoá quy mô lớn, tập trung gắn với công nghiệp chế biến hình
thành, tạo thế và lực mới cho kinh tế nông nghiệp, nông thô. Đến nay đã có 400
nghìn ha cao su, 410 nghìn cà phê tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ, 86 nghìn ha chè ở Trung du, miền núi phía Bắc, Lâm Đồng. Nhiều vùng cây
ăn quả có diện tích lớn đã hình thành. Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp theo h-
ớng giảm tỷ trọng diện tích cây lơng thực từ 75,9% (1995) xuống còn 72,3%
(1999), năm 2000 còn 70,9%. Một số sản phẩm đã vơn lên tự túc đợc một phần
nhu cầu trong nớc, giảm nhập khẩu. Bông xơ năm 1999 đáp ứng 7,1% nhu cầu,
năm 1999 đáp ứng 11% nhu cầu; năm 2000 đáp ứng12% nhu cầu (nhu cầu 60
nghìn tấn, không kể cho gia công). Đờng mía từ năm 1999 đáp ứng nhu cầu,
không phải nhập. Năm 2000, sản xuất 1 triệu tấn đờng trong đó có 750 nghìn