NGUYỄN TRUNG THÀNH VÀ TÁC PHẨM “ RỪNG XÀ NU” doc - Pdf 12

NGUYỄN TRUNG THÀNH VÀ TÁC
PHẨM “ RỪNG XÀ NU”
I-TÁC GIẢ NGUYỄN TRUNG THÀNH
Tiểu sử
Ông quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1950, khi đang học trung
học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt
Nam, chủ yếu hoạt động ởTây Nguyên – chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ.
Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông làm phóng viên báo Quân đội nhân dân liên
khu V và lấy bút danh Nguyên Ngọc. Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Ông
viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba
Na, tiêu biểu là anh hùng Núp và dân làng Kông-Hoa, dưa trên câu chuyện có thật
của Đinh Núp. Sau này cuốn truyện được dựng thành phim.
Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy tên là Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở
khu V, là chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp
chí Văn nghệ quân giải phóng của quân khu V. Thời gian này ông sáng tác
truyện Rừng xà nu. Trong cả hai cuộc kháng chiến, ông gắn bó mật thiết với chiến
trường Tây Nguyên, là đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là bạn và dành nhiều
tình cảm trân trọng đối với Nguyễn Thi, Nguyễn Khải.
Sau chiến tranh ông có thời gian làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam,
Tổng biên tập báoVăn nghệ. Trong thời kỳ Đổi Mới và phong trào Cởi Mở ông đã có
những đổi mới quan trọng về nội dung tư tưởng của tờ báo và được coi là người có
công phát hiện, nâng đỡ nhiều nhà văn tên tuổi sau này như Nguyễn Huy
Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thị Hoài Tuy nhiên, sau đó báoVăn nghệ bị chính
thức phê phán là "chệch hướng" và Nguyên Ngọc đã thôi chức Tổng biên tập để thay
thế bằng Hữu Thỉnh.
Sau thời kỳ làm báo, ông tham gia tích cực trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục,
gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và chấn hưng giáo dục Việt Nam. Ông đã dịch một số
tác phẩm lý luận văn học nhưĐộ không của lối viết (Rolland Barthes), Nghệ thuật tiểu

Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện
ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con
người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm
chính là hình tượng cây xà nu.
Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà
nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng
xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt
trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi
bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi
sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội ”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của
người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xô
Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu.
Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc,
chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng
bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều
rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí
căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật
trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật
của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và
khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy ít có loài cây nào
ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên
giữa bầu trời cao rộng.
Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh
rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn
cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân
mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào
ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục
máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn
vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con
mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên

riêng và của người Tây Nguyên nói chung.
Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững,
đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó với cánh rừng
anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để
đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung
dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình
yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu,
cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than.
Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số
phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm
chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”.
Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những
câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh,
nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt.
Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp
hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn
vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú
thêm cho nền văn học dân tộc.
Đề 2:Phân tích tác phẩm "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành

I . ĐẶT VẤN ĐỀ .
Rừng xà nu là tác phẩm để lại một dấu ấn sâu đậm trong kí ức mỗi chúng ta .
Nguyễn Trung Thành được coi như là nhà văn của Tây Nguyên theo đúng nghĩa của
nó . Cả cuộc đời ông sống, chiến đấu và gắn bó với núi rừng , với đồng bào Tây
Nguyên dù ông không hề được sinh ra trên mảnh đất này . Ông cũng chính là người
phản ánh một cách sinh động đời sống, tính cách và tâm hồn đồng bào Tây Nguyên
trong tác phẩm của mình , và phần Tây Nguyên đó được đánh giá là hay nhất trong sự
nghiệp cầm bút của nhà văn .
Với vốn sống phong phú và một sự gắn bó đến kì lạ, mảnh đất Tây Nguyên đi
vào tác phẩm của Nguyễn Trung Thành một cách tự nhiên, chân chất như cái bụng của

thương . Những ngày cách mạng Việt Nam còn chìm trong bão tố chiến tranh, dân
làng Xô Man cũng như rừng xà nu cùng chung số phận : Làng ở trong tầm đại bác của
giặc, chúng nó bắn đã thành lệ hai lần mỗi ngày Sự sống nằm trong sự huỷ diệt của
bạo tàn, của bom đạn chiến tranh . Do vậy cả rừng xà nu không cây nào không bị
thương . Có nhiều cây xà nu bị đạn chặt đứt làm đôi, gục ngã nhưng cũng có cây xà nu
chỉ để lại vết thương nhẹ , chóng lành . Cũng như xà nu, những con người Xô Man,
thân thể và trái tim họ đầy thương tích . Cũng có những đời người như những cây xà
nu bị chặt đứt tuổi xuân . Mai ngã xuống khi hạnh phúc lứa đôi và tình yêu tuỏi trẻ
đang tràn trề Đó là chuỗi ngày đau thương của người dân làng Xô Man, những quần
chúng bị giết vì nuôi cán bộ . Anh Suốt bị giết, bà Nhan bị chặt đầu lưng Tnú ngang
dọc những vết dao, mười đầu ngón tay anh bị kẻ thù thiêu cháy . Những người con ưu
tú đã ngã xuống : anh Quyết, Mai, cả đứa con thân yêu của Tnú nhưng cũng như
cây xà nu niềm tin bất diệt vào cuộc sống đã giúp họ vươn lên, vượt qua đau thương
để chờ đón ngày ngày hạnh phúc .
Nguyễn Trung Thành lấy hình tượng cây xà nu đặt trong mối tương quan mật
thiết với con người không phải chỉ là gần gũi trong đời sóng sinh hoạt . Rừng xà nu
còn là hiện thân của sức sỗng mãnh liệt và bất diệt . Bản năng tự bảo tồn và sự thèm
khát vươn tới bầu trời và ánh sáng đã khiến rừng xà nu chiến thắng được sự huỷ diệt
của đạn bom . Nghĩa là tại một nơi mà sự sống và cái chết đối diện nhau, sự sống vẫn
bất diệt ngay trong sự huỷ diệt . Cũng giống như lịch sử của dân làng Xô Man , đó là
lịch sử của sự sống không bao giờ bị dập tắt , một tư thế sống không hề biết cúi đầu .
Thanh niên không thể nuôi cán bộ thì cụ già, và khi cụ già ngã xuống thì đến lượt Mai,
Tnú , và khi Mai không còn nữa đã có Dít thay thế đến cả Tnú, khi mười đầu ngón
tay không còn nữa, anh vẫn ra đi làm chiến sĩ giải phóng quân bởi anh nghĩ còn cử
động ngón tay được nghĩa là còn khả năng cầm súng chiến đấu . ý chí của Tnú hay nói
cách khác, khát vọng sống và bảo vệ cuộc sống trong anh nói riêng và của dân làng
Xô Man nói chung là mạch nguồn để chiến thắng cái chết, chiến thắng bạo tàn .
Bên cạnh đó cây xà nu còn là loại cây ham ánh sáng, ham khí trời cũng giống
như dân làng Xô Man yêu thích tự do . Họ biết yêu thương gắn bó với quê hương, gắn
bó với cách mạng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ : Đảng còn, Bác Hồ còn là đất

bị kẻ thù giết hại . Mái ấm gia đình từng là mơ ước của biết bao đôi thanh niên ấy
bỗng chốc tan nát bởi sự tàn ác của kẻ thù . Tnú không cứu được vợ, được con , đau
đớn hơn chính bản thân anh cũng trở thành nạn nhân của sự bạo tàn mà kẻ thù đang sử
dụng . Vì sao vậy ? Vì Tnú cũng chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí . Hình ảnh
mười đầu ngón tay rừng rực cháy bởi nhựa xà nu như mười ngọn đuốc không chỉ có ý
nghĩa tố cáo tội ác quân thù hay nói lên lòng dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng
mà còn nói lên một chân lí sâu sắc và tàn nhẫn : khi một Tnú có ý chí mà tay không
thì ngay thứ nhựa xà nu thân thiết cái khối chất thơm ngào ngạt và như đọng nắng quê
hương kia cũng có thể trở thành ngọn lửa hủy diệt chính những bàn tay vẫn hằng ngày
chăm sóc, vun trồng cho nương rẫy .
Tnú không cứu được mẹ con Mai … Lời cụ Mết vang lên “Mày nhớ không
Tnú, mày không cứu được vợ mày …Tau không nhảy ra cứu mày . Tau cũng chỉ có
hai bàn tay không” . Những lời ấy của cụ Mết như một minh chứng cho qui luật :
không thể chiến đấu với quân thù bằng tay không và lòng căm thù mù quáng . Chỉ còn
cách cầm vũ khí , lúc đó lửa xà nu sẽ tắt trên bàn tay của Tnú . Lửa xà nu chỉ còn soi
xác giặc ngổn ngang . Núi rừng Xô Man sẽ ào ào rung động . “Tiếng chuông nổi lên
… và lửa cháy khắp rừng …Nghe rõ chưa các con, rõ chưa . Nhớ lấy, ghi lấy . Sau
này tau chết rồi , bay còn sống phải nói lại cho con cháu : Chúng nó đã cầm súng,
mình phải cầm giáo …” . Đó là một chân lí lớn của cách mạng miền Nam : phải dùng
bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
Và có lẽ việc Tnú đi lực lượng cũng bắt nguồn từ lí tưởng đó . Anh đi lực
lượng để hiện thực hóa việc “cầm giáo” mà cụ Mết truyền dạy và cũng để có điều kiện
chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược . Ra đi để trả thù nước, rửa thù nhà . Dù bàn tay
anh mỗi ngón chỉ còn hai đốt, nhưng cử động được có nghĩa là cầm súng được . Anh
đi bộ đội, trở thành tấm gương lớn soi sáng cả một thế hệ ở làng Xô Man . Đối với dân
làng, Tnú là một biểu tượng cho sức mạnh, niềm tin và ý chí . Bên cạnh cụ Mết, người
cha tinh thần, Tnú là hiện thân của những khát vọng vươn lên . Mỗi một việc làm của
anh đều đem lại sự nhận thức cho mọi lứa tuổi . Anh về thăm quê, cấp trên cho chỉ có
một đêm, mặc dù nhớ làng bản, nhớ người thân nhưng anh vẫn vui vẻ bởi có chấp
hành nghiêm túc nội qui quân đội mới là Tnú . Chính những lúc vui vẻ nhất, anh định

trong quá trình đấu tranh giải phóng .
3 . Chất sử thi của “Rừng xà nu” .
Truyện ngắn “Rừng xà nu” tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi của Văn học
Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mĩ
cứu nước .
Trước hết nên hiểu thế nào là khuynh hướng sử thi trong văn học . Đó là một
khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý
nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Nhân vật trung tâm trong những tác phẩm viết
theo khuynh hướng sử thi thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân
tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đòng. Và khi
khẳng định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói , người nghệ sĩ không
nhân danh cá nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh cộng đồng. Khuynh hướng sử thi
thường gắn liền với khuynh hướng lãng mạn .
Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, khuynh hướng sử thi được thể hiện khá rõ ở
việc lựa chọn đề tài, việc xây dựng nhân vật, việc sử dụng hình ảnh lẫn giọng điệu của
tác phẩm Đề tài của truyện “Rừng xà nu” nói đến vấn đề sinh tử hết sức hệ trọng
không chỉ của cả cộng đồng dân làng Xô Man mà của cả dân tộc Việt Nam. Truyện
viết về một thời điểm lịch sử trọng đại của cách mạng Miền Nam những năm đen tối
sau Hiệp định Giơ-ne-vơ cho đến lúc Đồng khởi, nhưng đây là thời điểm tức nước vỡ
bờ, nhân dân Miền Nam chuẩn bị vũ trang chiến đấu . Chủ đề của tác phẩm mang đậm
tính sử thi : trước sự tàn ác của kẻ thù, nhân dân Miền Nam chỉ có một con đường duy
nhất là cầm vũ khí vùng lên chiến đấu giải phóng quê hương. Những nhân vật trong
tác phẩm, tiêu biểu như Tnú, cụ Mết, thực chất là những kết tinh cao độ những phẩm
chất tiêu biểu của cả cộng đồng (gắn bó với dân làng, trung thành với cách mạng, căm
thù giặc sâu sắc, kiên cường bất khuất, dũng cảm chiến đấu hi sinh ) . Lí tưởng sống
của những nhân vật này luôn gắn liền với vận mệnh của cả cộng đồng. Hơn nữa, các
nhân vật ở đây cũng được xây dựng thể hiện sự tiếp nối giữa các thế hệ cách mạng
làng Xô Man. Cụ Mết đại diện cho thế hệ cách mạng từ thời kháng chiến chống thực
dân Pháp, cụ truyền lại cho con cháu truyền thống oanh liệt đó của dân làng; Tnú tiêu
biểu cho ý chí và sức mạnh của cả cộng đồng; Dít, Heng là thế hệ non trẻ tiếp nối cha

trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tính thế bị o ép của làng Xô Man
trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào
miền Nam trong những ngày Mĩ - Diệm thi hành luật 10-59, khủng bố dữ dội những
người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương
mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm
đánh Mĩ và thắng Mĩ - một gương mặt rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử
thách mới.
Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng
thành công hình tượng một tập thể anh hùng. Những anh hùng được kể tới trong đó
đều có tính đại diện cao, mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc. Tập thể anh
hùng trong Rừng xà nu là tập thể đa dạng về lứa tuổi và giới tính. Mỗi gương mặt anh
hùng đều có những nét riêng, thể hiện một số phận riêng trong cuộc đời chung. Tất cả
họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản : gan dạ, trung thực, một lòng một dạ đi
theo cách mạng. Chiến công của mỗi người tuy đa dạng mà thống nhất. Cuốn sử vẻ
vang của làng Xô Man, của Tây Nguyên không phải do riêng một người mà do tất cả
mọi người viết ra. Bản trường ca của núi rừng không chỉ trỗi lên một giọng mà là sự
tổng hoà của nhiều giọng. Anh Quyết, cụ Mết, anh Tnú, chị Mai, cô Dít, bé Heng là
những nhân vật tiêu biểu, nhưng bên cạnh họ, đằng sau họ còn có bao người khác nữa
cũng không chịu sống mờ nhạt, vô danh. Tất cả họ đều thi đua lập công, đều muốn
góp phần mình vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Dĩ nhiên, hình tượng văn học nào
cũng là sự thống nhất giữa cái cá biệt và cái phổ quát, nhưng ở Rừng xà nu, cảm hứng
hướng về cái chung đã mang tính chất chi phối.
Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các
sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục. Các chi tiết
đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng
làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật. Tả cụ Mết, nhà văn chú ý tới
giọng nói "ồ ồ dội vang trong lồng ngực" của cụ. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm
vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng của núi rừng, của lịch sử. Và quả thật, cụ là
hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải
nghiệm của cả một dân tộc. Nó cô đúc, sâu sắc, vang vọng như những chân lí. Chả thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status