BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
XÂY DỰNG CHỈ SỐ LẠM PHÁT CƠ BẢN TẠI
VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
1
Mục Lục
Mục Lục 1
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG 3
Lời mở đầu 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU 6
PHẦN 2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LẠM PHÁT CƠ BẢN 8
2.1. Khái quát về lạm phát cơ bản. 8
2.2. Các cách đo lường 10
PHẦN 3. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ
tiền tệ 44
5.2. Khuyến nghị một vài giải pháp xem xét lạm phát cơ bản trong điều hành chính
sách tiền tệ 45
5.3. Kết luận 47
PHỤ LỤC 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 3 DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Lạm phát cơ bản và lạm phát thông thường ở Philippin giai đoạn 2001-2011(17)
Hình 2: Lạm phát tại Mỹ giai đoạn 1990-2012 (22)
Hình 3: Lạm phát thông thường và lạm phát cơ bản tại Việt Nam giai đoạn 10/2009 đến
02/2012 (36)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Mục tiêu lạm phát của các nước theo lạm phát mục tiêu. (9)
Bảng 2: Chỉ số lạm phát cơ bản tại các quốc gia. (23)
Bảng 3: So sánh tỉ trọng từng mặt hàng hai thời kì tính chỉ số CPI (27)
Bảng 4: Biến động trong lạm phát CPI: tháng 10/2009 đến tháng 2/2012 (29)
Bảng 5: Độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên của các chỉ số lạm phát (32)
Bảng 6: Khả năng theo dõi xu hướng lạm phát của các chỉ số (33)
Bảng 7: Kiểm định sự bằng nhau của giá trị trung bình (34)
Bảng 8: Kiểm định khả năng dự báo lạm phát của độ lệch lạm phát hiện tại (40)
Bảng 9: Kiểm định hồi quy ngược (41)
kết luận.
5
Nội dung nghiên cứu: chủ yếu là làm rõ khái niệm lạm phát cơ bản và các cách đo lường
đã được sử dụng tại các nước trên Thế giới. Đồng thời phân tích 5 chỉ số lạm phát cơ bản
tại Việt Nam dựa cách tính loại trừ, bao gồm: CPI loại trừ nhóm hàng lương thực - thực
phẩm; CPI loại trừ hàng lương thực, giáo dục; CPI loại trừ hàng lương thực, giáo dục,
giao thông; CPI loại trừ lương thực – thực phẩm, giáo dục, giao thông và CPI loại trừ
lương thực – thực phẩm, giáo dục, giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng. Các cách đo
lường này được kiểm định dựa vào độ biến động, khả năng theo dõi các xu hướng và dự
báo lạm phát trong tương lai. Trong khi chỉ số CPI loại trừ lương thực – thực phẩm, giáo
dục, giao thông và CPI loại trừ lương thực – thực phẩm, giáo dục, giao thông, nhà ở và
vật liệu xây dựng không đáp ứng được yêu cầu theo dõi xu hướng lạm phát thì ba chỉ số
còn lại thì thoả mãn tiêu chuẩn này. Bên cạnh đó, hai cách tính đó còn không phù hợp so
với ba cách tính còn lại vì tỉ trọng quá thấp. Trong ba chỉ số còn lại, thì chỉ có chỉ số CPI
loại trừ lương thực, giáo dục và giao thông thoả mãn được các tiêu chuẩn còn lại. Tuy
nhiên, do hạn chế về mặt số liệu (chỉ thu thập được số liệu hàng hóa cấp I, chuỗi số liệu
ngắn) nên việc phân tích gặp một số hạn chế. Mặc dù có hạn chế như vậy, nhưng nhìn
chung, lạm phát cơ bản theo cách tính trên đã có mức ý nghĩa khá tốt và đại diện cho sự
thay đổi giá có tính chất dai dẳng của nền kinh tế. Cuối cùng, phân tích chỉ số không
dừng lại ở đó, nó nên được xem xét phục vụ cho việc đưa ra các chính sách.
Đóng góp của đề tài: đây là một nghiên cứu có tính ứng dụng khá cao, bài nghiên cứu đã
chỉ ra được chỉ số lạm phát cơ bản phù hợp nhất cho Việt Nam, đồng thời cũng đưa ra
được một vài khuyến nghị thực tế trong việc áp dụng.
Hướng phát triển của đề tài: đó là việc xây dựng một chỉ số mới khi thời gian kiểm
định dài hơn, cũng như số liệu thu thập được chi tiết hơn.
6
được chỉ số lạm phát cơ bản phù hợp nhất trong điều kiện Việt Nam thông qua các cách
7
đo lường mà các nước đã sử dụng, cũng như qua việc phân tích số liệu lạm phát của Việt
Nam.
Chuyên đề gồm có năm phần. Phần hai sẽ giải thích khái niệm lạm phát cơ bản, ngoài ra
nó còn thảo luận những kĩ thuật khác nhau được sử dụng để đo lường chỉ số lạm phát cơ
bản. Phần ba sẽ tổng quan các kết quả nghiên cứu của các tác giả, qua đó sẽ có cái nhìn
toàn diện và khách quan hơn về lạm phát cơ bản. Ngoài ra, trong phần này sẽ trình bày
kinh nghiệm của các nước trên Thế giới áp dụng chỉ số lạm phát cơ bản trong điều hành
chính sách tiền tệ. Phần bốn sẽ tiến hành kiểm định các cách đo lường khác nhau chỉ số
lạm phát cơ bản tại Việt Nam. Phần năm sẽ tổng hợp lại kết quả nghiên cứu, đồng thời
đưa ra các khuyến nghị chính sách cũng như những hạn chế của chuyên đề và các hướng
gợi mở.
8 PHẦN 2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LẠM PHÁT CƠ BẢN
2.1. Khái quát về lạm phát cơ bản.
Không có một định nghĩa duy nhất về lạm phát cơ bản trong các lí thuyết kinh tế. Có
những đề nghị khác nhau được đưa ra vì định nghĩa phụ thuộc vào mục đích của phân
tích. Eckstein (1981) cho rằng lạm phát cơ bản (core inflation) là “xu hướng tăng giá của
chi phí sản xuất” mà “phát sinh trong kì vọng dài hạn của lạm phát theo suy nghĩ của hộ
gia đình và các doanh nghiệp”. Khái niệm lạm phát cơ bản đã trở nên phổ biến vào những
(monetary phenomenon) trong dài hạn, do đó, lạm phát cơ bản nên đo lường các thành
phần thay đổi giá có liên quan đến các hiện tượng tiền tệ (Bryan và Cecchetti 1994). Bởi
vì, biến động giá do kết quả của sự thay đổi trong cầu hàng hóa liên quan hoặc cú sốc
cung, không bắt nguồn từ chính sách tiền tệ, vì thế lạm phát cơ bản nên loại trừ sự thay
đổi giá liên quan (relative prices change).
Tuy nhiên, đo lường lạm phát cơ bản, không thể được xem như là một cách đo lường lạm
phát nền tảng mà có thể thay thế cho lí thuyết chi phí sinh hoạt. Do đó, đo lường lạm phát
cơ bản thông thể thay thế cho lạm phát thông thường. Tập trung vào lạm phát cơ bản
không có nghĩa là ngân hàng Trung ương sẽ không quan tâm đến các thành phần lạm phát
đã được loại trừ từ cách đo lường này (ví dụ như thực phẩm và năng lượng). Lạm phát cơ
bản chỉ đơn giản là một hướng dẫn thuận tiện để giúp ngân hàng Trung ương đạt được
các mục tiêu trong việc kiểm soát lạm phát chung. Hầu hết các nước sử dụng lạm phát cơ
bản thêm vào với lạm phát thông thường và nó không có tính chất thay thế. Với 23 nước
theo lạm phát mục tiêu, thì chỉ có năm nước lấy lạm phát cơ bản là mục tiêu.
Bảng 1: Mục tiêu lạm phát của các nước theo lạm phát mục tiêu.
Nước Năm áp dụng Mục tiêu lạm phát
Brazil 1999 CPI
Chile 1991 CPI
Columbia 1999 CPI
Mexico 1999 CPI
Peru 2002 CPI
10
Indonesia 2000 CPI
Hàn Quốc 1998 CPI
Philippin 2002 CPI
lường phù hợp nhất về lạm phát cơ bản, lý thuyết thường phân các cách đo lường này
thành hai nhóm: thứ nhất, đó là đo lường thống kê (ví dụ : trung bình đã loại trừ, trung
bình theo tỉ lệ, trung bình di động, chuỗi cấp số nhân, hệ tự hồi quy có cấu trúc…), thứ
hai là cách đo lường dựa vào loại trừ.
Một cách đo lường tốt nên phải hội tụ cả ba tính chất:
Thứ nhất: lạm phát cơ bản nên ổn định và ít biến động hơn lạm phát thông thường.
Thứ hai: qua một thời gian dài, tỉ lệ lạm phát cơ bản trung bình nên tương xứng với tỉ lệ
lạm phát thông thường trung bình và không có độ lệch mang tính hệ thống giữa chúng.
Ngoài ra, lạm phát cơ bản có thể theo dõi được xu hướng lạm phát.
Thứ ba: nếu lạm phát cơ bản đại diện cho xu hướng cơ bản của lạm phát, nó có thể dự
báo lạm phát tốt hơn với kì vọng rằng lạm phát cơ bản chứa đựng nhiều thông tin về xu
hướng lạm phát trong tương lai hơn so với lạm phát thông thường.
Mặc dù, cách đo lường thống kê như là trung bình đã loại trừ có một ý nghĩa thống kê tốt
hơn, nhưng cách đo lường này thường khó hiểu đối với phần đông dân cư và do đó nó
gây khó khăn để giao tiếp hiệu một cách hiểu quả (khó khăn cho ngân hàng Trung ương).
Ngược lại, các cách đo lường dựa vào loại trừ được các nhà làm chính sách ưa chuộng
bởi vì sự đơn giản của nó. Họ dễ dàng giao tiếp với công chúng khi so sánh với cách đo
lường thống kê. Sự phản đối đó là các cách đo lường này thường loại bỏ hoàn toàn những
hàng hóa biến động là một phương pháp quá đơn giản và có rủi ro tiềm tàng là loại bỏ
vĩnh viễn những thông tin có ý nghĩa. Bên cạnh, mặc dù nó hấp dẫn ở điểm là đơn giản
cho người xem, nhưng thường xuyên không đáp ứng được các tiêu chuẩn kinh tế. Các
cách đo lường lạm phát cơ bản dựa vào kĩ thuật thống kê cung cấp chuỗi dữ liệu lạm phát
cơ bản hay hơn, mặc dù nó cũng không được hỗ trợ bởi nhiều lí thuyết kinh tế. Tuy
nhiên, hầu hết các nước sử dụng lạm phát cơ bản trong việc thực hiện khuôn khổ lạm
phát mục tiêu hay sử dụng lạm phát được công bố chính thức thường lựa chọn phương
pháp loại trừ. Khi làm như vậy, mục tiêu của các nhà làm chính sách là giữ cách đo lường
đơn giản, dễ hiểu và giao tiếp hiệu quả với công chúng về xu hướng lạm phát và các
quyết định chính sách.
12
Tiếp cận của Ball và Mankiw tập trung vào những cú sốc cung và xem đây là nguồn gốc
duy nhất của những cú sốc giá tương đối. Sử dụng những mô hình tương tự, Roger
(1995) và Bakhshi và Yates (1999) cung cấp một giải thích khác cho phân phối bất
thường (non-normal) của sự thay đổi giá. Họ tranh luận rằng, nếu không được điều chỉnh
thì những cú sốc phía cầu cũng có thể sẽ làm thay đổi giá tương đối. Tuy nhiên, trước đây
tất cả giá trong mô hình của họ đều được điều chỉnh với những cú sốc cầu, lạm phát cơ
bản trung bình đã được thay đổi. Do đó, họ tranh luận rằng những cú sốc cầu ngoài ra có
thể là nguyên nhân của những độ lệch tạm thời trong phân phối thay đổi giá. Hơn thế
14
nữa, một sự tăng trong độ lệch của phân phối thay đổi giá có thể được quan tâm như là
một chỉ số dự báo lạm phát dai dẳng trong tương lai và không nên lờ đi. Họ đã không loại
bỏ những giải thích của Ball và Mankiw (cho rằng những cú sốc cung là nguyên nhân gây
lệch tạm thời trong phân phối thay đổi giá), mà họ đề nghị những nguyên nhân khác có
thể ảnh hưởng đến sự thay đổi lạm phát dai dẳng. Điều này ngụ ý rằng nên xem xét một
cách cẩn thận khi tính lạm phát cơ bản theo cách loại trừ.
Cùng giai đoạn trên, Bryan và Cecchetti (1993) được biết đến với cách đo lường trung
bình đã loại trừ (Trimmed mean) và trung vị theo tỉ trọng (Weighted median) cho việc
tính toán lạm phát cơ bản. Trong bài nghiên cứu có tiêu đề “Measuring core inflation”,
hai ông cho rằng “đo lường lạm phát tổng hợp cho một sự kiện tiền tệ thì khó khăn, vì
còn các hiện tượng phi tiền tệ, như là các cú sốc của các bộ phận đặc biệt, có thể ảnh
hưởng tạm thời đến biến động giá mà từ đó có ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số lạm phát
tổng hợp ”, hai ông cũng đưa ra ví dụ, đó là “trong giai đoạn thời tiết xấu, giá cả lương
thực tăng lên do cung giảm, làm tăng tạm thời trong chỉ số lạm phát tổng hợp. Và bởi vì
thay đổi giá cả này không phải do yếu tố tiền tệ cơ bản, cơ quan tiền tệ nên tránh đưa ra
các quyết định dựa vào biến động này”. Hai ông đề xuất sử dụng trung bình loại trừ 15 %
tỉ trọng trong phân phối chéo của tỉ lệ thay đổi giá cả hàng hóa cá nhân để nâng cao hiệu
Cũng trong năm 2006, Jamie Armour trong bài nghiên cứu có tên là “An evaluation of
core inflation” đưa ra tranh luận của mình và sử dụng số liệu của Canada để tính toán.
Ông cho rằng, hầu hết các cách tính truyền thống của lạm phát cơ bản đều làm cho chỉ số
trở nên ổn định và ít biến động hơn. Sau đó, ông phân tích các cú sốc mà nước Canada
gặp phải kể từ năm 1998. Theo đó, giá dầu được xem là bất ổn định nhất trong thời kì đó,
cùng với giá điện và giá bảo hiểm. Từ sự phân tích này, ông đưa ra cách tính chỉ số lạm
phát cơ bản theo cả hai phương pháp là thống kê và loại trừ. Đồng thời, ông tính toán lạm
phát cơ bản theo một cách mới, đó là cách đo lường Cutler. Trong cách tính này, tỉ trọng
của các loại hàng hóa tỉ lệ với sự thay đổi giá của nó. Hàng hóa nào giảm giá sẽ có tỉ
trọng là 0%.
Những năm gần đây, hầu hết các nghiên cứu về lạm phát cơ bản chủ yếu không tập trung
vào việc tìm ra những khái niệm và các đo lường mới, mà tập trung vào việc phân tích
các cách đo lường đã được đưa ra trước đây. Qua những số liệu thực tế cụ thể của một
quốc gia, họ tính toán chỉ số lạm phát cơ bản theo nhiều cách khác nhau đó, sử dụng các
công cụ kiểm định để chọn ra một cách đo lường phù hợp nhất.
16
Trong bài nghiên cứu “Comparing measures of core inflation” của Clark, ông tranh luận
rằng, bên cạnh chỉ số lạm phát cơ bản được tính toán bằng cách loại trừ ra từ CPI thực
phẩm và năng lượng, thì còn có nhiều cách tính khác có thể phù hợp hơn. Ông sử dụng số
liệu lạm phát ở Mỹ và tính toán 5 chỉ số lạm phát cơ bản khác nhau, bao gồm: CPI loại
trừ thực phẩm và năng lượng, CPI loại trừ năng lượng, CPI loại trừ 8 loại hàng hóa biến
động mạnh nhất, cách tính trung bình có loại trừ và trung vị theo tỉ trọng. Ông kiểm định
các chỉ số này dựa vào hai tiêu chuẩn đó là: khả năng theo dõi xu hướng và khả năng dự
báo lạm phát trong tương lai. Sau kiểm định, ông cho rằng: hai cách tính trung bình có
loại trừ và CPI loại trừ năng lượng là hai cách tính lạm phát cơ bản phù hợp nhất.
Một hướng khác cũng được nhiều các tác giả nghiên cứu đó là việc xây dựng một chỉ số
mục tiêu trung gian dựa vào kinh nghiệm trước đó.Vì lạm phát cơ bản có những đặc tính
được mong đợi hơn khi so sánh với lạm phát thông thường, đó là: biến động thấp hơn và
khả năng dự báo cao hơn. Do đó, lạm phát cơ bản được xem là mục tiêu trung gian còn
CPI được xem là mục tiêu cuối cùng của ngân hàng Trung ương Thái Lan khi điều hành
chính sách tiền tệ theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu.
3.2.2. Philippin - lạm phát cơ bản được công bố bên cạnh CPI.
Ở Philippin, lạm phát cơ bản được đưa ra một định nghĩa chính thức và được chấp nhận
một cách rộng rãi. Ban điều hành thống kê quốc gia (NSBC) của Philippin thông qua
nghị quyết số 6/NSBC năm 2003, đã chọn một định nghĩa chính thức và phương pháp
tính toán lạm phát cơ bản ở Philippin dựa vào phương pháp loại trừ. Theo đó, lạm phát cơ
bản được tính toán hằng năm bởi NSO (Cơ quan thống kê quốc gia), lạm phát cơ bản
chính thức tại Philippin được định nghĩa là tỉ lệ thay đổi CPI thông thường sau khi loại
trừ nhóm hàng thực phẩm và năng lượng. Định nghĩa chính thức này là kết quả của cuộc
thảo luận kĩ thuật nội bộ giữa Cơ quan thống kê quốc gia (NSO), Ban điều hành thống kê
quốc gia (NSBC), Cơ quan phát triển kinh tế quốc gia (NEDA), Trung tâm nghiên cứu và
đào tạo thống kê (SRTC), Ủy ban năng suất và tiền lương quốc gia (NWPC), Bộ thương
mại và công nghiệp (DTI) và ngân hàng Trung ương Philippin.
Theo họ, phương pháp loại trừ nên được chọn để tính lạm phát cơ bản bởi vì: nó dễ hiểu
hơn khi so sánh với các phương pháp khác, nó minh bạch hơn và dễ dàng tính toán bởi
bất cứ ai từ chỉ số CPI, có thể được đưa ra cùng lúc với CPI và nó phù hợp với thực tiễn
quốc tế của việc loại trừ thực phẩm và năng lượng ra khỏi CPI.
18
Lạm phát cơ bản được cho là một khái niệm tương đối mới đối với người dân Philippin
nói chung, nên những người làm chính sách tin rằng sự đơn giản của phương pháp loại
trừ có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giúp công chúng hiểu rõ và do đó, giúp
xây dựng độ tín nhiệm trong việc sử dụng lạm phát cơ bản.
CPI mới đó thì không có ý nghĩa.
Như đã nói, không có một kĩ thuật duy nhất để đo lường lạm phát cơ bản. Tuy nhiên, vì
mục đích của chính sách, hầu hết ngân hàng Trung ương sử dụng cách đo lường loại trừ
vì nó dễ dàng cho việc giải thích. Với mục đích của chính sách tiền tệ, cách đo lường dựa
vào loại trừ được công nhận là đơn giản và có ý nghĩa ứng dụng. Và do đó, cách đo lường
này được chọn tại Ấn Độ. Một nghiên cứu gần đây nhất về lạm phát cơ bản ở Ấn Độ đã
được công bố. Trong bài nghiên cứu “Measures of Core Inflation in Indian- An
Empirical Evaluation ”, tác giả (Janak Raj và Sangita Misra) đã nghiên cứu và tính toán
sáu chỉ số lạm phát cơ bản bằng cách loại trừ các mặt hàng từ chỉ số WPI, bao gồm: WPI
loại trừ thực phẩm, WPI loại trừ năng lượng, WPI loại trừ thực phẩm và năng lượng,
hàng sản xuất không thực phẩm, WPI loại trừ năng lượng, kim loại cơ bản và sản phẩm
kim loại, và WPI loại trừ năng lượng, nhóm kim loại và thực phẩm chính. Các cách đo
lường này được kiểm định về độ biến động, khả năng theo dõi xu hướng và khả năng dự
báo. Trong khi WPI loại trừ thực phẩm cùng với WPI loại trừ thực phẩm và năng lượng
không đáp ứng tốt yêu cầu về tính biến động, thì bốn cách còn lại lại thỏa mãn những
điều kiện liên quan đến độ biến động, khả năng theo dõi xu hướng và dự báo trong tương
lai. Tuy nhiên, chỉ có chỉ số sản xuất không thực phẩm mới đáp ứng được tiêu chuẩn:
trong thời gian dài, tỉ lệ lạm phát trung bình của chỉ số lạm phát cơ bản tương xứng với
chỉ số lạm phát thông thường. Do đó, ngân hàng Trung ương đã sử dụng nó như là một
20
cách đo lường lạm phát từ áp lực phía cầu, là chỉ số mà thỏa mãn tất cả những thuộc tính
của chỉ số lạm phát cơ bản. Tỉ trọng của các mặt hàng trong chỉ số WPI chỉ là 55%, khá
thấp so với các nước khác.
3.2.4. Liên Bang Nga - Lạm phát cơ bản được đo lường bằng phương pháp trung
bình có loại trừ (Trimmed mean).
Tại Nga, cũng như nhiều nước khác trên Thế giới sử dụng CPI như là một chỉ số để đo
hàng phi lương thực và dịch vụ. Chỉ số được tính theo công thức của Laspeyres.
Hầu hết giá được ghi lại vào giữa ngày 23 đến 25 mỗi tháng. Tỉ trọng dựa vào cấu trúc
các khoản chi tiêu tiêu dùng từ năm trước đó. Cấu trúc chi tiêu được lấy từ khảo sát của
Household Budget Surveys. Thật ra có hai hệ thống tỉ trọng được sử dụng: tỉ trọng chi
tiêu và tỉ trọng địa lí. Tỉ trọng địa lí dựa vào dân cư ở khu vực địa lí. Mặc khác, tỉ trọng
để tính toán chỉ số giá là thông tin nội bộ và không được công bố.
Trong bài nghiên cứu “Constructing Core Inflation in Russia”, tác giả (Alexander
Tsyplakov) cho rằng, cách tính lạm phát cơ bản trung bình đã loại trừ không đối xứng là
một phương pháp phù hợp cho điều kiện nước Nga vì hiệu quả thống kê và sự ổn định.
Nó có hiệu quả vì đã loại ra yếu tố mùa vụ, và điều này làm cách đo lường Trimmed
mean trở nên tin cậy cho việc thực hiện các mục đích chính sách kinh tế hơn là chỉ số lạm
phát truyền thống (CPI). Dữ liệu lịch sử tại Nga cho thấy rằng, trung bình của chỉ số Core
CPI lệch với CPI khoảng 1%, và đôi khi là giống nhau. Điều này cho thấy chỉ số lạm phát
cơ bản ở Nga theo cách tính trung bình có loại trừ có một ý nghĩa thống kê lớn, và vô
cùng hữu ích cho các nhà làm chính sách.
3.2.5. Mỹ - Chỉ số lạm phát được công bố minh bạch, rõ ràng, kịp thời và đầy đủ.
Mỹ - một cường quốc đứng đầu về kinh tế hẳn nhiên có một sự khác biệt so với các nước
còn lại. Các chỉ số lạm phát được công bố một cách rõ ràng, minh bạch bởi Cục dự trữ
liên bang Mỹ (FED). Hằng tháng, các chỉ số lạm phát ở Mỹ được công bố rộng rãi và đầy
đủ. Ở đây, hầu hết các chỉ số liên quan đến việc đo lường lạm phát điều được công bố, và
các nhà lãnh đạo của FED hẳn sẽ sử dụng chúng một cách triệt để cho việc điều hành của
mình.
Việc so sánh giá cả một thời kì với một vài thời kì trước đó, như tháng trước, năm trước,
hoặc một thời kì cho trước, cho thấy một sự đo lường đơn giản về lạm phát (nếu giá tăng)
22
hay giảm phát (nếu giá giảm). Nhưng những cách đo lường đó không phân biệt mối quan
hiện nay tác động đến tổng thể CPI ít hơn so với nó của hơn 30 năm về trước. Hơn thế
nữa, biến động giá của thực phẩm tại nhà có xu hướng giảm qua thời gian.
CPI loại trừ 8 hàng hóa. Ngay cả khi giá cả tổng thể của thực phẩm và năng lượng có
biến động cao, thì một vài mặt hàng thực phẩm và năng lượng cũng có thể có biến động ít
hơn nhiều so với những hàng hóa khác, trong khi đó, một vài mặt hàng phi lương thực và
phi năng lượng lại có biến động rất cao. Với nhóm hàng năng lượng, dầu và nhiên liệu
động cơ có độ biến động vượt xa khí tự nhiên và điện. Tương tự, giá trái cây và rau quả
có sự khác nhau rất lớn qua thời gian so với mặt hàng sữa, ngũ cốc và bánh mì. Cùng thời
gian đó, quần áo cho trẻ em, phương tiện giao thông công cộng và xe hơi đã qua sử dụng
là những hàng hóa biến động mạnh nhất trong CPI.
Ngoài ra, cục phân tích kinh tế cũng đưa ra hai cách đo lường lạm phát cơ bản dựa vào
PCE, PPI, đó là: PCE loại trừ thực phẩm và năng lượng, PPI loại trừ thực phẩm và năng
lượng.
Tất cả các chỉ số này được cập nhật liên tục hằng tháng. Và chúng ta hoàn toàn có thể lấy
được số liệu, cách tính và biểu đồ thống kê của tất cả chỉ số này trên trang web của Cục
dự trữ liên bang Mỹ - FED.
Hình 2: Lạm phát tại Mỹ giai đoạn 1990-2012 24 Nguồn: Cục dự trữ liên bang Mỹ- FED
Tóm lại:
Lạm phát cơ bản hiện nay đã được rất nhiều quốc gia áp dụng theo nhiều cách đo lường
ộ
t mì, s
ả
n