Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ tin học Thành phố Hồ Chí Minh (AISC) thực hiện - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp được rất
nhiều đối tượng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau quan tâm và đòi hỏi sử dụng
những thông tin đáng tin cậy để đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trước
khi đưa ra các quyết định kinh tế liên quan. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế hiện
nay, khả năng nhận được những thông tin tài chính kém tin cậy rất cao. Rủi ro về
thông tin do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sự khó khăn trong tiếp cận nguồn
thông tin, động cơ của người cung cấp thông tin, lượng thông tin phải xử lý và độ
phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, v.v Để giảm bớt những rủi ro, cung cấp
sự đánh giá tin cậy của Báo cáo tài chính, tiết kiệm chi phí kiểm tra cho đông đảo các
đối tượng sử dụng, góp phần bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế, kiểm tóan Báo cáo tài
chính là giải pháp tốt nhất để kiểm tra và cung cấp những nhận xét chính xác, trung
thực về Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Vì vậy, kiểm tóan báo cáo tài chính
được coi là một trong những giải pháp tốt nhất làm giảm thiểu rủi ro về thông tin kinh
tế và trở thành một trong những công cụ bảo vệ ổn định của nền kinh tế.
Trong kiểm toán tài chính, tùy theo quy mô và tính chất của hoạt động tài chính,
quy mô và tính chất của các nghiệp vụ phát sinh tại khách thể kiểm toán mà kiểm
toán tài chính có thể chia tách các phần hành kiểm toán cơ bản hoặc gộp chung những
khoản mục có liên quan thành một chu trình cụ thể. Nhưng dù phân chia theo cách nào
thì kiểm toán mỗi khoản mục hay chu trình cũng phải thực hiện theo một quy trình
thống nhất, vừa tuân thủ quy trình chung, vừa phù hợp với mục tiêu kiểm toán khoản
mục, chu trình đó.
Trong mỗi doanh nghiệp, TSCĐ là một trong những tiêu thức đánh giá quy mô
và sự phát triển của doanh nghiệp. TSCĐ là một trong các yếu tố thể hiện năng lực
sản xuất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. TSCĐ là yếu tố quan trọng tạo góp
phần giúp cho doanh nghiệp đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững, tăng năng suất lao
động, giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm dịch vụ, đồng thời TSCĐ là khoản mục
có giá trị lớn thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản trên Báo cáo tài chính của
doanh nghiệp nên kiểm toán TSCĐ là một trong các nội dung kiểm toán quan trọng
mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán quan tâm. Đối với công ty kiểm toán, việc
thực hiện tốt quy trình kiểm toán TSCĐ sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả

TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ
DỊCH VỤ TIN HỌC TPHCM THỰC HIỆN
1.1 Đặc điểm khoản mục TSCĐ ảnh hưởng đến kiểm toán BCTC
1.1.1 Đặc điểm chung về TSCĐ của khách thể kiểm toán
Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên cần có chế độ quản lý và khai thác sử
dụng hợp lý nhằm sử dụng có hiệu quả, có kế hoạch đổi mới khi tài sản hết giá trị sử
dụng.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, phản ánh năng lực
sản xuất, trình độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của đơn vị, đồng thời là một yếu tố quan trọng quyết định việc nâng cao năng
suất lao động từ đó giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, mở
rộng thị phần, tăng khả năng cạnh tranh, góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện mục
tiêu tăng trưởng bền vững. Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải
có chủ trương đầu tư và quản lý, sử dụng TSCĐ một cách khoa học và hợp lý.
TSCĐ được phân loại theo nhiều cách, cụ thể như sau:
Theo công dụng kinh tế:
- TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh
- TSCĐ hành chính sự nghiệp
- TSCĐ phúc lợi
- TSCĐ chờ xử lý
Theo nguồn hình thành:
- TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước cấp
- TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay
- TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung
- TSCĐ nhận liên doanh, liên kết với đơn vị khác
Theo tính chất sở hữu:
- TSCĐ thuộc quyển sở hữu của đơn vị
- TSCĐ thuê ngoài
Trong TSCĐ thuộc quyền sở hữu của đơn vị, phân loại theo tính chất và đặc

nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế theo cả ba loại TSCĐ trên.
Trong công tác quản lý TSCĐ, doanh nghiệp cần theo dõi về mặt hiện vật và
mặt giá trị vì trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ giữ nguyên hình thái vật chất
ban đầu nhưng giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Như vậy,
KTV khi tiến hành kiểm toán cần chú trọng xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của
đơn vị có đảm bảo quản lý TSCĐ một cách có hiệu quả, điều đó không những làm cơ
sở cho việc xác định các thủ tục kiểm toán, mà đồng thời là cơ sở cho việc đề xuất các
kiến nghị trong thư quản lý, giúp khách hàng có biện pháp quản lý TSCĐ tốt hơn.
1.1.2 Hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán
1.1.2.1 Hệ thống tài khoản
Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ tài
chính về việc ban hành Chế độ Kế toán doanh nghiệp, trong hạch toán Tài sản cố
định, TSCĐ được phân thành những nhóm khác nhau và sử dụng những tài khoản và
tiểu khoản khác nhau, cụ thể là:
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản
Cấp 1 Cấp 2
211 Tài sản cố định hữu hình
2111 Nhà cửa, vật kiến trúc
2112 Máy móc, thiết bị
2113 Phương tiện vận tải, truyền dẫn
2114 Thiết bị, dụng cụ quản lý
2115 Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
2118 TSCĐ khác
212 TSCĐ thuê tài chính
213 TSCĐ vô hình
2131 Quyền sử dụng đất
2132 Quyền phát hành
2133 Bản quyền, bằng sáng chế
2134 Nhãn hiệu hàng hoá
2135 Phần mềm máy vi tính

Hệ thống chứng từ và quy trình luân chuyển chứng từ đối với phần hành TSCĐ
đều rất có ý nghĩa đối với kiểm toán. Hệ thống chứng từ đầy đủ sẽ giúp việc phân tích,
quản lý dễ dàng, khoa học các TSCĐ tăng, giảm trong năm. Dựa vào đó, khi kiểm tra
chứng từ liên quan đến nghiệp vụ về TSCĐ, KTV xác định được những chứng từ cần
có để chứng minh cho tính hiện hữu, giá trị, tính chính xác nghiệp vụ đó. Đồng thời,
KTV kiểm tra được trình tự thực hiện nghiệp vụ đó thông quy trình luân chuyển
chứng từ, từ đó đánh giá được hiệu quả của việc kiểm soát, phê duyệt đối với các
nghiệp vụ xảy ra. Nếu một nghiệp vụ phát sinh mà không có đầy đủ chứng từ kèm
theo, cũng như không theo một trình tự nhất định, không được phê duyệt của cấp có
Chứng từ tăng, giảm tài
sản (các loại)
(2)
(3)
Xây dựng, mua sắm hoặc
nhượng bán, thanh lý
Quyết định tăng hoặc
giảm TSCĐ
(1)
Kế toán TSCĐ
Lập thẻ TSCĐ (huỷ thẻ),
ghi sổ TSCĐ
Hợp đồng giao nhận,
thanh lý TSCĐ
thẩm quyền thì nghiệp vụ đó không đảm bảo tính có thật cũng như tính chính xác,
nguy cơ gian lận, sai sót xảy ra là rất lớn. Các nghiệp vụ về TSCĐ phát sinh thường ít
nhưng có giá trị lớn, đòi hỏi phải có được phê duyệt ở cấp cao và được kiểm soát chặt
chẽ.
1.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do Chi
nhánh Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ tin học Thành phố Hồ Chí Minh
(AISC) thực hiện

mang lại đều được hạch toán.
Mọi TSCĐ đều được tính khấu hao đầy đủ và
đúng quy định.
Quyền và nghĩa vụ Các TSCĐ có tồn tại và thuộc về doanh nghiệp,
doanh nghiệp sử dụng TSCĐ trong khuôn khổ hoạt
động của mình.
Các TSCĐ không thuộc sở hữu của doanh
nghiệp, tài sản nhận giữ hộ được theo dõi trên các TK
ngoài Bảng Cân đối kế toán.
Tính chính xác cơ học Giá trị được tính vào nguyên giá TSCĐ phải
chính xác và không bao gồm các yếu tố phải ghi vào
chi phí.
Các TSCĐ phản ánh trên sổ chi tiết đã được ghi
chép đúng, tổng cộng đúng và phù hợp với tài khoản
tổng hợp trên sổ cái.
Định giá Giá trị TSCĐ và khấu hao TSCĐ được đánh giá
phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành
Phân loại và trình bày Các TSCĐ được phân loại phù hợp, giá trị hao
mòn được phản ánh đúng vào từng loại chi phí.
Nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế được phản
ánh đúng trên BCTC.
Đối với chi phí khấu hao, mục tiêu kiểm tóan chủ yếu là đánh giá sự đúng đắn
khi xác định mức khấu hao và phân bổ cho các đối tượng liên quan. Điều này được
quyết định bởi phương pháp tính khấu hao,các dữ liệu là cơ sở cho việc tính tóan phân
bổ chi phí khấu hao và tiêu thức phân bổ chi phí khấu hao.
Mục tiêu kiểm tóan đối với giá trị hao mòn lũy kế là kiểm tra việc ghi nhận đầy
đủ, đúng đắn giá trị hao mòn lũy kế tăng lên do khấu hao, giảm đi do nhượng bán
thanh lý TSCĐ và việc phản ánh chính xác vào từng đối tượng cụ thể.
1.3 Quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do Chi

và tổng hợp các thông tin cơ bản về khách hàng, như:
1.3.2.2.1 Thu thập thông tin chung về khách hàng:
- Năng lực Ban lãnh đạo Công ty;
- Quá trình hình thành, phát triển của Công ty;
- Bộ máy tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty;
- Kết quả SXKD của Công ty
- Mục tiêu, phương hướng phát triển chiến lược của công ty trong giai đoạn
hiện tại;
- Các thông tin về nguồn tài trợ, nhân sự chủ chốt, các bên có liên quan của
khách hàng, các đối tác thường xuyên;
- Ngành nghề kinh doanh của khách hàng, đặc biệt quan tâm đến ngành nghề
đặc thù và sản phẩm truyền thống của Công ty;
- Hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty:
+ Các thông tin về việc chấp hành các quy định pháp luật
+ Các thông tin về thực hiện Luật thuế
+ Hệ thống kế toán, chính sách kế toán, các quy định về thực hiện chế
độ hạch tóan kế toán trong Công ty
+ Hệ thống thông tin
+ Các thủ tục khóa sổ lập báo cáo tài chính
+ Các thông tin nhân sự
+ Các hợp đồng kinh tế.
- Các thông tin về tài sản như: Văn phòng, nhà xưởng; quyền sử dụng đất; máy
móc thiết bị; bằng phát minh sáng chế; phần mềm vi tính…
Đối với khoản mục TSCĐ: KTV phần hành TSCĐ có nhiệm vụ thu thập các
thông tin liên quan đến TSCĐ. Cụ thể:
- Lĩnh vực kinh doanh của khách hàng ảnh hưởng đến TSCĐ: tùy theo ngành
nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp sẽ có chương trình và mức
đầu tư vào TSCĐ phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đó. Ví dụ, nếu khách hàng là
doanh nghiệp sản xuất thì TSCĐ thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản, và TSCĐ
sẽ bao gồm chủ yếu các máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất. Điều này là

KTV ghi chép kết quả của việc thực hiện thủ tục phân tích ban đầu, bao gồm cả
mức kỳ vọng khi thực hiện các thủ tục phân tích này sau đó lưu vào hồ sơ kiểm toán.
Dựa vào đó, KTV sẽ tiến hành đánh giá kết quả phân tích, rút ra những biến động cần
chú ý để có kế hoạch kiểm toán phù hợp nhằm tìm hiểu nguyên nhân giải thích cho
các biến động đó.
1.3.2.2.3 Xác định mức trọng yếu kế hoạch và đánh giá rủi ro
Trong kiểm toán BCTC, do lấy mẫu cũng như các hạn chế tiềm tàng khác nên
KTV không thể phát hiện được mọi sai lệch trong BCTC. Tuy nhiên, KTV phải đảm
bảo hợp lý rằng nếu sai lệch còn tồn tại trên BCTC đã được kiểm tóan thì các sai lệch
này sẽ không gây ảnh hưởng trọng yếu. Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm tóan, KTV
phải xác lập mức độ trọng yếu chấp nhận được để căn cứ vào đó thiết kế các thủ tục
kiểm toán thích hợp nhằm phát hiện những sai lệch có thể ảnh hưởng trọng yếu đến
BCTC.
Trong các trường hợp chung, KTV xác định mức độ trọng yếu tổng thể dựa vào
chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế, doanh thu, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn. Tùy vào
từng cuộc kiểm toán, KTV lựa chọn những chỉ tiêu để xác định mức trọng yếu cho
phù hợp.
Bảng : Mức trọng yếu tổng thể
STT Chỉ tiêu Mức độ trọng yếu (%)
1 Doanh thu 0,4 – 0,8
2 Lợi nhuận trước thuế 4 – 8
3 TSLĐ & ĐTNH 1,5 – 2
4 Nợ ngắn hạn 1,5 – 2
5 Tổng tài sản 0,8 – 1,5
Trong công ty AISC, dựa trên kinh nghiệm của mình cũng như đánh giá về khả
năng xảy ra sai lệch và chi phí kiểm tra khoản mục TSCĐ, KTV thường phân bổ mức
trọng yếu của khỏan mục TSCĐ bằng 50% mức trọng yếu tổng thể. Ở giai đoạn chuẩn
bị kiểm tóan, do thường chuẩn bị khi chưa kết thúc niên độ kế toán nên các số liệu chủ
yếu trên BCTC như lợi nhuận, doanh thu, chưa xác định được. Do đó, KTV phải
ước tính các số liệu này một cách hợp lý để làm cơ sở xác lập mức trọng yếu. Ở giai

như:
- Tính hiện hữu: TSCĐ có thực vào thời điểm báo cáo
- Quyền và nghĩa vụ: TSCĐ thuộc về doanh nghiệp
- Phát sinh: ghi nhận các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ, chi phí khấu hao, chi phí
sửa chữa
- Đầy đủ: mọi nghiệp vụ đều được ghi chép, trình bày trên BCTC
- Đánh giá và chính xác: mọi nghiệp vụ đã ghi chép trong sổ chi tiết đúng, tổng
cộng đúng và phù hợp với tài khoản tổng hợp trên sổ cáivà chi phí khấu hao phải đựợc
phân bố đúng kỳ, đúng đối tượng
- Trình bày và công bố: các nghiệp vụ phải được thể hiện và phân loại đúng trên
BCTC theo đúng chuẩn mực kế toán hiện hành.
Công việc này chủ yếu là để nhận diện các điểm yếu và điểm mạnh của hệ thống
KSNB, nhằm thiết chương trình kiểm toán cho phù hợp
KTV dựa vào đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát để đánh giá
rủi ro phát hiện thông qua bảng sau:

Đánh giá của kiểm toán viên về
rủi ro kiểm soát
Cao Trung bình Thấp
Đánh giá
của
kiểm toán
viên về
rủi ro
tiềm tang
Cao Thấp nhất Thấp Trung
bình
Trung
bình
Thấp Trung

a- Chứng kiến kiểm kê thực tế tại thời điểm khóa sổ kế toán:
- Kiểm tra xem khách hàng có tuân thủ các quy định về kiểm kê TSCĐ
hay không?
- Khi xem xét việc kiểm kê của khách hàng, chú ý tập trung vào những
khoản mục có giá trị lớn
- Thông qua việc phỏng vấn và quan sát, ghi lại trên giấy làm việc các
TSCĐ chưa sử dụng, không sử dụng, hư hỏng, chờ thanh lý, nhượng bán, lỗi
thời.
- Đảm bảo rằng các TSCĐ bị loại ra khỏi danh mục TSCĐ (tài sản nhận
ký cược) đã được loại ra trong quá trình kiểm kê, loại trừ một cách chính xác,
mô tả đặc điểm và lý do khiến chúng bị loại ra.
- Thực hiện xác nhận đối với TSCĐ do người khác giữ, gửi thư xác
nhận bên TSCĐ hoặc giữ TSCĐ về số lượng và chất lượng.
- Kết luận về độ tin cậy của kết quả kiểm kê.
b- Trường hợp không tham gia kiểm kê tại thời điểm kết thúc niên độ:
- Thu thập các tài liệu liên quan đến cuộc kiểm kê mà khách hàng đã
thực hiện (báo cáo kiểm kê, cách thức kiểm kê, các chỉ dẫn đối với nhân viên thực
hiện…)
- Phỏng vấn khách hàng về các thủ tục kiểm kê mà họ đã thực hiện để
đánh giá mức độ tin cậy của tài liệu kiểm kê đã nhận được.
- Thực hiện kiểm kê mẫu một số khoản mục quan trọng tại thời điểm
kiểm toán (nếu có thể).
- Quan sát hoạt động sản xuất và ghi chép lại các phát hiện về TSCĐ
không sử dụng (ngừng sử dụng), trao đổi với khách hàng về vấn đề này.
c- Thu thập hoặc lập bảng tổng hợp theo nhóm các tài sản về nguyên giá TSCĐ,
khấu hao TSCĐ thể hiện: số dư đầu kỳ, các khoản tăng giảm trong kỳ, số dư cuối kỳ.
d- So sánh số dư chi tiết đầu kỳ với số dư chi tiết năm trước. Đối chiếu số phát
sinh và số dư TSCĐ, khấu hao TSCĐ cuối kỳ giữa sổ kế toán chi tiết với sổ cái kế
toán tổng hợp và BCTC.
e-Nguyên giá TSCĐ:

và sự tồn tại đối với các TSCĐ vô hình, đối chiếu TSCĐ tăng trong kỳ với nguồn vốn
tăng tương ứng. Kiểm tra tăng TSCĐ với nguồn hình thành TSCĐ (quyết định đầu tư
mua sắm sử dụng nguồn ngân sách, tự bổ sung, vay…).
- TSCĐ vô hình giảm: nhượng bán, đối chiếu số TSCĐ giảm trong kỳ với
nguồn vốn giảm tương ứng…
- Đối chiếu số dư cuối kỳ trên sổ kế toán Bảng cân đối kế toán và kiểm tra lại
trên cơ sở tính toán.
* Đối với TSCĐ thuê tài chính:
- TSCĐ đi thuê tài chính tăng: kiểm tra các tài liệu chứng minh quyền sở hữu
và sự tồn tại.
- TSCĐ đi thuê tài chính giảm: kiểm tra các tài liệu chứng minh do hết thời
gian đi thuê…
- Xem xét tính phù hợp giữa hợp đồng thuê tài chính với các quy định hiện
hành, tóm tắt các hợp đồng thuê và lưu ý đến thời hạn kết thúc của hợp đồng thuê.
- Xem xét việc hạch toán TSCĐ đi thuê, tính toán chi phí trả lãi vay.
* Đối chiếu với các phần hành khác để tìm kiếm các khoản thanh lý TSCĐ chưa
được vào sổ:
- Đối chiếu, kiểm tra giữa TSCĐ giảm trong kỳ với các khoản thu về thanh lý,
nhượng bán TSCĐ trong kỳ.
- Kiểm tra các biên bản họp của ban lãnh đạo, giấy xác nhận của ngân hàng, xác
nhận vay và đảm bảo rằng các khoản thanh lý, cầm cố, thế chấp đã được ghi chép
đúng đắn.
f- Xem xét các tài liệu liên quan để phát hiện các TSCĐ đã được đem ra thế
chấp, cầm cố hoặc TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng vẫn
được ghi nhận trên khoản mục TSCĐ.
g- Thu thập danh sách chi tiết TSCĐ tại thời điểm cuối kỳ, kiểm tra để khẳng
định rằng những tài sản này đủ điều kiện được ghi nhận là TSCĐ và được phân loại
phù hợp.
h- Kiểm tra các giao dịch đầu năm sau để xem có TSCĐ nào phải ghi nhận năm
nay mà đơn vị ghi nhận vào năm sau hay không?

1.3.2.2.4.3 Kết luận của cuộc kiểm toán
* Lập trang kết luận kiểm toán dựa trên kết quả công việc đã thực hiện,
trong đó nêu rõ:
- Các bút toán đề nghị điều chỉnh
- Các vấn đề hạn chế liên quan đến ý kiến kiểm toán hoặc thư
quản lý
* Lập lại Thuyết minh chi tiết nếu có sự điều chỉnh của kiểm toán viên
1.3.2.3 Kiểm tra quá trình lập kế hoạch
AISC xây dựng sẵn bảng câu hỏi kiểm tra quá trình lập kế hoạch nhằm giúp
kiểm toán viên kiểm tra và xác nhận rằng tất cả các khâu trong quá trình lập kế hoạch
đã hoàn tất. Mục đích trả lời các câu hỏi trong bảng câu hỏi này là nhằm khẳng định
chắc chắn các nội dung sau:
- Nhóm kiểm toán đã hoàn tất biểu Thông tin lập kế hoạch;
- Cuộc họp triển khai chiến lược kiểm toán đã được thực hiện và đảm bảo các
thành viên đã hiểu tóm tắt nhiệm vụ và vai trò của từng người cũng như phương pháp
tiếp cận kiểm toán sẽ áp dụng;
- Các điểm lưu ý chuyển tiếp từ năm trước đã được xem xét và có kế hoạch và
thủ tục kiểm toán được áp dụng để giải quyết trong năm nay;
- Thư xác nhận tính độc lập đã được lập theo đúng chuẩn mực kiểm toán;
- Có thể xác nhận rằng tất cả kế hoạch kiểm toán đã được soạn thảo.
1.3.2.4 Phê chuẩn kế hoạch
Đây là bước công việc đòi hỏi cam kết của KTV rằng đã kiểm tra các yếu tố về
rủi ro và gian lận, đã kiểm tra kế hoạch kiểm toán, đảm bảo rằng kế hoạch kiểm toán
đã được lập phù hợp với quy định và thủ tục của Công ty. Khi đã hoàn tất bảng câu
hỏi này, KTV tiến hành in, ký chính thức vào lưu vào hồ sơ kiểm toán
1.3.3 Thực hiện kiểm toán
1.3.3.1 Thử nghiệm kiểm soát
Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục
TSCĐ là giúp KTV có hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách
hàng, từ đó lên kế hoạch kiểm toán thích hợp. Công việc này giúp cho KTV không

7. Có quy định về chức năng
nhiệm vụ của các phòng ban không?
Các câu hỏi trên thường được trả lời dưới dạng “Có” hoặc “Không”.Sau khi có
được các câu trả lời, KTV tổng kết những kết quả, những phát hiện thu được. Nếu
những phát hiện này trùng với đánh giá ban đầu trong kế hoạch kiểm toán thì các thủ
tục kiểm toán cơ bản được giữ nguyên theo kế hoạch. Nếu không, trưởng nhóm kiểm
toán sẽ thảo luận lại với khách hàng về việc cung cấp các đảm bảo khác, hoặc mở
rộng phạm vi các thủ tục cơ bản.
Đối với kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán từng khoản mục nói riêng,
việc đánh giá rủi ro kiểm soát là cao, thấp hay trung bình ảnh hưởng đến việc đánh giá
rủi ro kiểm toán, từ đó ảnh hưởng đến việc xác định phạm vi mẫu kiểm toán và các
thủ tục kiểm toán tương ứng. Bởi vậy, xác định rủi ro kiểm soát thường được KTV
thực hiện rất cẩn trọng.
1.3.3.2 Thủ tục phân tích
Ở giai đoạn này, KTV tiến hành so sánh và tìm hiểu sự biến động nguyên giá và
chi phí khấu hao theo từng nhóm tài sản giữa kỳ này với kỳ trước và kế hoạch đầu tư
mua sắm tài sản của doanh nghiệp để tìm ra biến động bất thường. Cụ thể:
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV đã tiến hành phân tích sơ bộ tình
hình tăng, giảm TSCĐ để tìm ra xu hướng biến động chung của TSCĐ. Số liệu để
phân tích là số liệu tổng hợp về TSCĐ trên Bảng cân đối kế toán. Đến giai đoạn này,
KTV tiến hành thủ tục phân tích đối với khoản mục TSCĐ ở mức độ chi tiết hơn. Cụ
thể, KTV so sánh TSCĐ theo phân chia các nhóm tài sản về cả nguyên giá và hao
mòn lũy kế, đồng thời KTV tiến hành phân tích theo các tỷ suất: KTV thường so sánh
các tỷ lệ: tỷ lệ TSCĐ trong tổng tài sản, tỷ lệ TSCĐ trên doanh thu, vốn chủ sở hữu…
năm được kiểm toán so với các năm trước để thấy được mức biến động của TSCĐ so
với các chỉ tiêu khác có tương ứng và hợp lý hay không
1.3.3.3 Thủ tục kiểm tra chi tiết
1.3.3.3.1 Kiểm tra số dư đầu kỳ
Trước khi thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết, các KTV thường phải thực hiện
kiểm tra số dư đầu kỳ. Bước công việc này không nằm trong chương trình kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status