Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam.Lịch sử hình
thành và phát triển của kiểm toán Việt Nam mới trải qua một quãng thời gian
17 năm, xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị
trường.Chính vì vậy, yêu cầu được đặt ra là các hoạt động kinh tế - tài chính
diễn ra một cách bình đẳng, minh bạch, công khai. Điều này thực sự cần thiết
đối với các nhà đầu tư, các doanh nhân, thương nhân và cả Nhà nước. Những
người quan tâm rất cần độ tin cậy cao của những thông tin kinh tế - tài chính
để sử dụng, xem xét cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu tư, kinh doanh, hoặc
quyết định những vấn đề về kinh tế, tài chính, ngân sách. Do đó, họ chỉ có thể
yên tâm đưa ra các quyết định kinh tế tài chính khi các thông tin do các nhà
kế toán cung cấp được đánh giá và xác minh một cách khách quan, trung thực
bởi một tổ chức hoặc các chuyên gia hành nghề độc lập. Đó chính là các hoạt
động kiểm toán do các kiểm toán viên thực hiện. Vì thế hiện nay kiểm toán
đang phát triển rất mạnh mẽ với nhiều loại hình kiểm toán và được phân loại
theo nhiều tiêu thức khác nhau. Đề tài đã áp dụng các phương pháp nghiên
cứu như tìm kiếm, tổng hợp phân tích các thông tin trên Internet, các tài liệu
chuyên ngành cũng như tham khảo ý kiến của các thầy cô và chuyên gia trong
lĩnh vực kế toán - kiểm toán.
Khi đất nước ta bước vào con đường hội nhập và phát triển thì các
dịch vụ kiểm toán ngày càng yêu cầu nâng cao chất lượng.Việc hoàn thiện về
tổ chức bộ máy kiểm toán là một trong các nhân tố quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng kiểm toán.Vì vậy nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài: “
Hoàn thiện tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập ở Việt nam”. Do chưa có
nhiều kinh nghiệm thực tế nên chắc chắn đề tài sẽ không thể tránh khỏi những
những thiếu sót và hạn chế.Chính vì thế, nhóm nghiên cứu Đề tài mong muốn
nhận được nhiều ý kiến đóng góp để hoàn thiện đề tài cũng như trau dồi và
nâng cao kiến thức cần thiết.
Kiểm toán 48A
1
xét đoán công việc trong từng trường hợp cụ thể. Độc lập là yêu cầu thiết yếu
để duy trì sự khách quan của KTV và tạo được sự tin cậy của người sử dụng
kết quả kế toán.
Bằng chứng kiểm toán là sản phẩm của hoạt động kiểm toán, là cơ
sở pháp lý cho kết luận kiểm toán và cơ sở tạo niềm tin cho những người
quan tâm.
Thông tin được kiểm tra có thể là báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp, tờ khai nộp thuế, quyết toán ngân sách của cơ quan Nhà nước... Kết
quả kiểm toán sẻ giúp cho người sử dụng đánh giá sự tin cậy của các thông tin
này.
Các chuẩn mực được thiết lập là cơ sở để đánh giá các thông tin được
kiểm tra, chúng thay đổi tuỳ theo các thông tin được kiểm tra. Ví dụ, báo cáo
tài chính của đơn vị, KTV dựa vào chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành;
còn đối với tờ khai nộp thuế thì chuẩn mực để đánh giá se là luật thuế.
Báo cáo kiểm toán là văn bản trình báy ý kiến của KTV về sự phù hợp
giửa thông tin được kiểm tra va chuẩn mực đã được thiết lập.Nội dung và
Kiểm toán 48A
Kiểm toán
viên có đủ
năng lực
và độc lập
Báo cáo
kiểm toán
Thu thập
và đánh
giá các
BCKT
Các chuẩn
mực đã
được thiết
không.Đó chính là công việc của các KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm
toán chuyên nghiệp.Luật pháp nhiều nước đã khẳng định rằng, chỉ những báo
cáo tài chính đã được xem xét và có chữ ký xác nhận của KTV độc lập mới
được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho Nhà nước tính thuế cũng như các bên
quan tâm khác đưa ra quyết định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp
được kiểm toán.
Trong lịch sử kinh tế - xã hội, khi nền kinh tế phát triển mạnh tạo nên sự
tách biệt rõ rệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, nhu cầu về thẩm
định thông tin do người sử dụng tài nguyên trở nên cấp thiết.
Sự phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính, tín dụng lớn ở Bắc Mỹ và
Tây Âu những năm 30 của thế kỷ XX đã bộc lộ rõ sự hạn chế và yếu kém
trong chức năng tự kiểm tra của kế toán và cũng đòi hỏi có một thể thức mới
đáp ứng yêu cầu quản lý cao hơn và thích hợp hơn; kiểm tra ngoài kế toán.
Cần thấy rõ một thực tế hiển nhiên là: sự tách biệt giữa thực trạng hoạt
động tài chính (thông tin tài chính phát ra) với sự ghi nhận, phản ánh những
thông tin này do kế toán thực hiện (thông tin tài chính do kế toán thu nhận,
phản ánh). Nguyên nhân là những hạn chế của các chính sách kế toán; sự mâu
thuẫn giữa tính đa dạng, phong phú và thường xuyên của các sự kiện kinh tế
với sự giới hạn khó tránh khỏi của trình độ, phương tiện... thu nhận, xử lý và
Kiểm toán 48A
4
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
phản ánh các sự kiện kinh tế. Những thông tin đã được kế toán thu nhận và
phản ánh liệu đã phản ánh trung thực hay không. Ngoài ra, còn một lượng
thông tin chưa được ghi nhận trong kế toán nhưng lại rẩt cần cho sự xác minh
thực trạng tài chính, do đó cũng cần được kiểm tra.Đây là những nguyên nhân
đòi hỏi ra đời và hoạt động của tổ chức kiểm toán độc lập. Đến nay, hoạt động
kiểm toán độc lập phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt là ở các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế
giới hiện nay là:
Kiểm toán 48A
5
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
nền kinh tế, tháng 5/1991, công ty Kiểm toán Việt Nam (Vietnam Auditing
Company VACO) đã được thành lập theo giấy phêp số 957-PPLT của Hội
đòng Bộ trưởng (nay là chính phủ) và Quyết định 165/TC-QĐ-TCCB của Bộ
trưởng Bộ tài chính.Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của VACO đánh dấu
sự mở đầu tốt đẹp của dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Cho đến nay, đã
xuất hiện thêm nhiều công ty Việt Nam, tiêu biểu như: Công ty TNHH Tư
vấn và kiểm toán(A&C),Công ty TNHH Tư vấn và kiểm toán Sài Gòn(AFC)
…Các công ty 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty TNHH Ernst and Young
Việt Nam(E&Y), công ty TNHH KPMG Peat Marwick Việt Nam (KPMG),
công ty TNHH Warterhouse Cooper Việt Nam(PWC),…
1.1.3 Kiểm toán viên độc lập
a.Khải niệm : Người thực hiện công việc kiểm toán được gọi chung là
Kiểm toán viên.Thông thường, kiểm toán viên hành nghề thuộc doanh nghiệp
kiểm toán được gọi là Kiểm toán viên độc lập.Danh xưng kiểm toán viên độc
lập (gọi tắt là kiểm toán viên) ở từng quốc gia có thể khác nhau.Ví dụ, ở các
nước như Mỹ, Canada, Trung Quốc, kiểm toán viên được gọi là “kế toán viên
công chứng” (Certifed public Accountant – CPA); ở Anh, Scotland gọi là
“giám thị viên kế toán” ( Chartersd Accoutant-CA),...
b.Tiêu chuẩn của kiểm toán viên:
Tuy có thể có tên gọi khác nhau, nhưng theo IAFC và luật pháp các nước
thành viên đều quy định các yêu cầu cơ bản đối với kiểm toán viên là: có kỹ
năng và khả năng nghề nghiệp, chính trực, khách quan, độc lập và tôn trọng
bí mật.
* Kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên
Trình độ chuyên môn có được nhờ sự đào tạo, trang bị kiến thức chuyên
môn về mặt lý luận và thực tiển.Kiến thức về các lĩnh vực chủ yếu như kế
toán, pháp luật, kiểm toán,... là không thể thiếu. Kiến thức chuyên môn còn
phải thực hiện công việc kiểm toán theo những quy định của chuẩn mực
chuyên môn ( chuẩn mực quốc tế hay chuẩn mực quốc gia) đã được chấp
nhận.
1.2 Nguyên tắc cơ bản tổ chức bộ máy kiểm toán
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về tổ chức
a.Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết chung của các hệ thống là thuật ngữ được L. Fon Bertalarffy
đưa vào vốn từ vựng khoa học dùng để mô tả lý thuyết các hệ thống mở và
các trạng thái cân bằng động đề xuất năm 1933 tại trường đại học tổng hợp
Chicago.Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển
sang việc giải quyết những vấn đề kỹ thuật và quản lý.
Sự xuất hiện của "Lý thuyết chung của các hệ thống", một lý thuyết
thuộc dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổ
quát, đã thúc đẩy mong muốn của cộng đồng khoa học muốn tiến tới phổ quát
hoá các công cụ nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặc trưng mang
tính luận điểm của toàn bộ các phổ quát.Một trong những nhiệm vụ chính của
Kiểm toán 48A
7
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
tiếp cận này là làm rõ và phân tích các quy luật, các quan hệ qua lại chung đối
với các lĩnh vực khác nhau của hiện thực.Do vậy, cách tiếp cận hệ thống đã
được sử dụng trong lý thuyết đã nêu mang tính chất liên ngành, bởi vì nó tạo
ra cơ hội đem những quy luật và những khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức
sang một lĩnh vực khác.Tổ hợp các khái niệm hệ thống là bộ khung khái niệm
khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên tắc của sự phân chia khách thể.
Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tử trong sự
tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.
Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức
phân chia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối
liên hệ giữa các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thể
Chính vì vậy việc bố trí sắp xếp các vị trí trong tổ chức là rất quan trọng. Cơ
cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô tổ chức, cùng nhiệm vụ của tổ chức. Tuỳ
theo mỗi tổ chức khác nhau mà có thể sắp xếp cơ cấu khác nhau.
Nguồn lực của tổ chức: Mỗi tổ chức muốn tồn tại và phát triển được thì
các yếu tố quyết định nhất đó là nguồn lực của tổ chức.Hai yếu tố đặc trưng
của nguồn lực tổ chức là : nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kĩ thuật.Đây là
yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Văn hoá của tổ chức: Các yếu tố văn hoá có ảnh hưởng lớn đến việc hình
thành nhân cách con người và đương nhiên ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức
tồn tại trong môi trường văn hoá đó.Các yếu tố văn hóa tổ chức gồm :mối
quan hệ giữa các thành viên, ý thức chấp hành nội quy tổ chức,..
Môi trường của tổ chức: Trong thời đại ngày nay mọi tổ chức muốn cạnh
tranh thì cần có áp dụng về khoa học công nghệ mới nhằm cải tiến cách thức
quản lý, cách thức sản xuất, trang thiết bị làm việc...Sự lạc hậu của khoa học
công nghệ là yếu tố kìm hãm sự tồn tại của tổ chức.
Tóm lại, có thể nói tổ chức bao gồm rất nhiều yếu tố rất phức tạp và có
tác động qua lại lẫn nhau.Đòi hỏi người lãnh đạo trong tổ chức cần phải phối
hợp không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình để đạt được mục
tiêu của tổ chức.
1.2.2 Ý nghĩa, nguyên tắc và nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kiểm toán
Khi đã khẳng định các yếu tố cấu thành hệ thống phương pháp kiểm
toán bao gồm cả kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu logic, đối
chiếu trực tiếp) và kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, thực nghiệm, kiểm kê),
những yếu tố này phải trở thành nhận thức và cả kinh nghiệm trong con người
và trở thành cơ chế hoạt động (kể cả phần cứng và phần mềm) của các
phương tiện cấu thành bộ máy kiểm toán
Lý thuyết hệ thống cũng chỉ rõ mối liên hệ logic giữa các yếu tố, phân hệ
và hệ thống. đó là mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung và chúng có thể
chuyển hóa cho nhau, song sự bao gồm của cái riêng trong cái chung vẫn phải
được tôn trọng trong tổ chức bộ máy kiểm toán nói riêng cũng như trong mọi
chất lượng hoạt động của bộ máy kiểm toán được quyết định trước hết bởi số
lượng và chất lượng đội ngũ kiểm toán viên. Đó cũng là nguyên lý chung cho
việc tổ chức hệ thống bộ máy. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán lại có chức năng
đặc biệt nên đòi hỏi cao với kiểm toán viên cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn
phẩm hạnh đạo đức. vì vậy, ở bất cứ đâu, cho dù khi mới xây dựng hay trong
bước đường phát triển – các tổ chức kiểm toán đều coi trọng xây dựng đội
ngũ kiểm toán viên.
Mặt khác, kiểm toán lại bao gồm nhiều loại hình với những bộ máy tổ
chức cụ thể cũng có những điểm khác nhau về nội dung và phương pháp kiểm
toán cụ thể và từ đó cả về tổ chức kiểm toán.Vì vậy, xây dựng đội ngũ kiểm
toán viên cũng đòi hỏi những yêu cầu cụ thể riêng biệt thích ứng vơi từng loại
hình, từng bộ mày kiểm toán.
Tất nhiên, gắn với đội ngũ kiểm toán viên là trang thiết bị cụ thể cho
kiểm toán: đó là những máy móc, thiết bị, phương tiện thích ứng với kỹ thuật
kiểm toán( cả phần cứng và phần mềm nếu có) và hình thành cơ chế hoạt
động thống nhất đang thực hiện chức năng kiểm toán.
Kiểm toán 48A
10
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
Hệ thống bộ máy kiểm toán phải bao gồm các phân hệ chứa đựng các
mối liên hệ trong – ngoài khác nhau phù hợp với nguyên tắc chung của lý
thuyết tổ chức và phù hợp với quy luật của phép biện chứng về liên hệ.
Thật vậy, mục tiêu của tổ chức là tạo ra mối liên hệ theo một trật tự xác
dịnh. Trong kiểm toán trật tự này được xác định khác nhau do quan hệ giữa
các mục tiêu kiểm toán khác nhau với các khách thể kiểm toán khác nhau.
Mỗi khách thể, mỗi chủ thể này lại có nhiều mỗi liên hệ khác ngoài kiểm
toán. Trong việc xử lý hàng loạt mối liên hệ phức tạp này cần phải có phương
pháp luận biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng, giữa cái chung và cái riêng,
giữa cái mới và cái cũ
Nguyên tắc chung của mọi hệ thống tổ chức bộ máy: tập trung, dân chủ
a. Kiểm toán viên-Nhân tố hàng đầu
Theo quan điểm của kinh tế chính trị học Mác-Lênin, bất cứ phương thức
sản xuất nào của xã hội đều bao gồm hai mặt là Lực lượng sản xuất và Quan
hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất, người lao động và
khoa học kỹ thuật (thể hiện thông qua kỹ năng của người lao động hiện đại ).
Trong đó, người lao động là chủ thể và là lực lượng sản xuất cơ bản nhất,
quyết định nhất của xã hội. Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói
riêng cũng có thể coi là một phương thức sản xuất trong xã hội hiện đại, cung
cấp các dịch vụ thay vì sản xuất ra của cải vật chất. Vì vậy, kiểm toán viên
với tư cách là người lao động luôn luôn giữ một vai trò quyết định quan trọng
và có tác động qua lại mạnh mẽ với cách thức tổ chức kiểm toán, tuân theo
quy luật thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất-quan hệ sản xuất.
Tổ chức hệ thống nhân sự trong bộ máy kiểm toán độc lập. Trong các
hãng kiểm toán, cơ cấu nhân sự điển hình được phân chia làm 4 cấp: Chủ
phần hùn (Partner) hay Cổ đông (Shareholder), Chủ nhiệm kiểm toán
(Manager), Kiểm toán viên (phụ trách hoặc giám sát công việc kiểm toán) và
các Trợ lý (Assistant). Một nhân viên mới sẽ bắt đầu công việc từ vị trí trợ lý
và sau một thời gian nhất định (khoảng 2-3 năm cho mỗi cấp bậc) có thể đạt
tới vị trí chủ phần hùn. Có thể thấy rằng việc thăng bậc trong các hãng kiểm
toán diễn ra khá nhanh và liên tục đi kèm với các trách nhiệm và nghĩa vụ
mới. Điều này là vì các nhân viên có điều kiện được thường xuyên trau dồi và
tích lũy kinh nghiệm qua quá trình tham gia kiểm toán trên thực tế. Hiện nay
do sự tiến bộ của công nghệ thông tin và cách thức thực hiện kiểm toán, các
trợ lý kiểm toán ngày càng được trao cho những nhiệm vụ phức tạp và nhiều
thử thách hơn.
Cách thức tổ chức như trên sẽ giúp các hãng kiểm toán nâng cao năng
lực,kĩ năng cũng như kinh nghiệm cho các cá nhân trong công ty. Những
nhân viên ở cấp bậc cao hơn sẽ giám sát và kiểm tra công việc thực hiện bởi
cấp bậc xếp ngay bên dưới. Một nhân viên mới vào nghề sẽ được giám sát
trực tiếp bởi kiểm toán viên cấp cao. Sau đó, công việc của anh ta có thể được
5-10 năm
-Phụ trách mọi hoạt động của phòng Kiểm toán
-Chỉ đạo và giám sát các hoạt động kiểm toán và quản lý
quan hệ với khách hàng
-Xét duyệt công việc của kiểm toán viên
Chủ phần hùn Trên 10 năm
-Xem xét lại toàn bộ công việc kiểm toán, có trách nhiệm
đưa ra quyết định cuối cùng (kí báo cáo kiểm toán)
-Có trách nhiệm cao nhất trong chỉ đạo kiểm toán và thực
hiện cung cấp dịch vụ cho khách hàng
b.Các nhân tố khác
* Chế độ kế toán, kiểm toán hiện hành.
Một nhân tố không thể thiếu trong bộ máy kiểm toán là các chế độ kế
toán, kiểm toán được ban hành nhằm hướng dẫn,định hướng cho hoạt động
kiểm toán của các tổ chức kiểm toán. Để hướng đạo cho việc soạn thảo và ban
hành những chuẩn mực cụ thể, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đã soạn thảo
và công bố Văn bản chỉ đạo Kế toán quốc tế (IAGs). Đôi khi, Văn bản Chỉ
đạo này được đồng nghĩa với Chuẩn mực chung nhất của kiểm toán. Đến nay
đã có 29 văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế được ban hành. Mỗi Văn bản chỉ
đạo có thể chứa đựng nhiều chuẩn mực cụ thể, thậm chí nhiều loại chuẩn
mực. Trong hàng loạt chuẩn mực cụ thể, có những chuẩn mực trở thành thông
lệ quốc tế phổ biến. Tại Hoa Kỳ, có 10 chuẩn mực chung được thừa nhận phổ
Kiểm toán 48A
13
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
biến (Generally Accepted Auditing standards – GAAs). Hiện nay, ở Việt Nam
nói riêng Bộ tài chính đã ban hành là 26 chuẩn mực kế toán và 37 chuẩn mực
kiểm toán.
Hoạt động kiểm toán trong các tổ chức kiểm toán về nguyên tắc phải dựa trên
Hiện nay, ứng dụng CNTT trong kiểm toán còn đem lại nhiều lợi ích
thiết thực cho công tác thực hành kiểm toán. Ví dụ như tổ kiểm toán viên có
thể dùng phần mềm kiểm toán chuyên ngành, lấy dữ liệu là sổ cái của đơn vị
khách hàng tải vào phần mềm để tự động hóa việc lập bảng Cân đối tài khoản,
tính toán chỉ tiêu kinh doanh trong các thủ tục phân tích, hoặc thực hiện chọn
Kiểm toán 48A
14
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
mẫu bằng máy tính...
Vì những nhu cầu cấp thiết như vậy và lợi ích của việc ứng dụng công
nghệ thông tin cho nên các công ty kiểm toán lớn đều đã thành lập riêng bộ
phận Công nghệ thông tin. Bộ phận bao gồm các chuyên gia công nghệ làm
nhiệm vụ thiết kế riêng các chương trình chuyên sâu cho kiểm toán thay vì đi
mua các sản phẩm thương mại bên ngoài, đồng thời còn có thể tham gia tư
vấn cho các bộ phận khác khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng có liên quan
tới lĩnh vực CNTT.
1.3.2 Tổng quan về tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
a. Phân loại công ty kiểm toán độc lập
*Theo hình thức doanh nghiệp
Các công ty kiểm toán được tổ chức dưới nhiều hình thức doanh nghiệp
rất đa dạng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, các quy định pháp luật
của địa phương, quốc gia có hoạt động kinh doanh.
Tại Hoa Kỳ đã và đang tồn tại 6 loại hình doanh nghiệp
(*)1
được áp dụng
cho các công ty kiểm toán. Bao gồm:
Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship). Doanh nghiệp được sở hữu bởi
một cá nhân duy nhất mới có thể hoạt động dưới hình thức này. Trong quá
khứ, tất cả doanh nghiệp của cá nhân đều tổ chức theo dạng Doanh nghiệp tư
nhân nhưng vài năm trở lại đây thì hầu hết đã tái tổ chức lại theo mô hình có
danh, đồng thời những chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn công nợ
giống công ty hợp doanh. Nói chung hiện nay các hãng kế toán kiểm toán
được phép hoạt động theo mô hình này ở nhiều bang của Hoa Kỳ.
Công ty TNHH hợp danh ( Limited Liability Partnership). Một công ty
dạng này được sở hữu bởi một hay nhiều chủ phần hùn, được tính thuế giống
công ty hợp danh, tuy nhiên trách nhiệm với công nợ thì cao hơn dạng Công
ty hợp doanh và Công ty TNHH. Các chủ phần hùn chỉ có trách nhiệm pháp
lý cá nhân đối với phần vốn của họ cũng như với những hoạt động của bàn
thân và những người trong phạm vi quản lý giám sát. Chủ phần hùn không có
liên đới tới những hành vi sai phạm của chủ phần hùn khác cũng như của
những nhân viên không dưới quyền. Chính vì những ưu điểm như vậy nên tất
cả các Hãng kiểm toán nhóm Big Four và nhiều công ty nhỏ hơn đều lựa chọn
mô hình này .
Tại Việt Nam hiện tại quy định về hình thức tổ chức công ty kiểm toán
(vẫn chưa cho phép hình thức văn phòng kiểm toán) được quy định cụ thể tại
Khoản 1 và khoản 3 Điều 20 Nghị định 105 như sau: "Doanh nghiệp kiểm
toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật theo các hình
thức: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân
và doanh nghiệp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam."
*Theo quy mô hoạt động
Phân theo quy mô bộ máy kiểm toán có thể phân ra làm hai hình thức tổ
chức chính là Văn phòng kiểm toán tư và Công ty kiểm toán
Văn phòng kiểm toán tư
Kiểm toán 48A
16
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
Thực chất Văn phòng kiểm toán tư có thể coi là một dạng quy mô
nhỏ của Công ty kiểm toán với số lượng nhân viên từ 1-25 người. Mô hình
Văn phòng tư rất phát triển ở cộng Hòa Pháp (khoảng 2500 văn phòng) và các
nước Tây Âu .Ngay cả ở Mỹ, một quốc gia có nền kiểm toán tiên tiến, cũng
của Ernst & Young bao gồm những cái tên đáng chú ý như Google, Intel,
British Airways, HP và Canon.
Kiểm toán 48A
17
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
• Nhóm các công ty cấp quốc gia ( National Firms ). Đây là các công ty
quy mô lớn, chủ yếu đặt văn phòng trong phạm vi một quốc gia. Các
công ty này về cơ bản cung cấp các dịch vụ tương tự như của các hãng
kiểm toán lớn nằm trong nhóm Big 4 và được coi là đối thủ cạnh tranh
trực tiếp của nhóm này.
Ngày nay để mở rộng tầm ảnh hưởng và sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế, các công ty cấp quốc gia (ví dụ như các công ty của Hoa Kỳ)
còn hợp tác với các công ty kiểm toán ở các quốc gia nước ngoài thông qua
việc thành lập ra các liên doanh kiểm toán. Mặt khác, việc liên doanh cũng
nhằm tới mục đích để cung cấp dịch vụ cho khách hàng là các tập đoàn quốc
tế với công việc kinh doanh và chi nhánh đặt tại nhiều nơi trên thế giới. Các
công ty tiêu biểu như McGladrey & Pullen, Grant Thorton ( đã lập liên doanh
tại Việt Nam là Grant Thorton Việt Nam),...
• Nhóm các công ty địa phương ( Local Firms ) . Chủ yếu cung cấp các
dịch vụ liên quan tới kiểm toán trong phạm vi một vùng miền cụ
thể...Tại Mỹ có khoảng 100 công ty kiểm toán được xếp vào nhóm
này với số lượng chuyên viên trung bình khoảng 50 người. Một số
công ty chỉ có duy nhất một văn phòng và cung cấp dịch vụ cho
khách hàng sở tại, số khác có nhiều văn phòng đặt tại một bang hoặc
một địa phương duy nhất, cung cấp cho một phạm vi khách hàng rộng
hơn. Công ty kiểm toán địa phương dù vậy vẫn có thể cạnh tranh với
các công ty kiểm toán lớn nằm trong nhóm Quốc gia và Quốc tế. Để
nâng cao hiệu quả, các doanh nghiệp này có thể tham gia mạng lưới
chi nhánh thuộc liên hiệp các đơn vị kiểm toán nhằm chia sẻ cho nhau
thông tin, kỹ thuật và giúp đỡ nhau về đào tạo. Ngoài ra, không ít
toán, bao gồm Kiểm toán báo cáo tài chính, Kiểm toán tuân thủ và Kiểm toán
hoạt động. Trong đó kiểm toán báo cáo tài chính là dịch vụ đầu tiên và đặc
trưng nhất của kiểm toán độc lập, hai loại hình còn lại mới được cung cấp
trong vài thập kỉ gần đây.
Kiểm toán hiện vẫn là nguồn thu lớn nhất trong các dịch vụ của một công
ty kiểm toán. Tuy nhiên, trước sự phát triển của các dịch vụ khác kiểm toán sẽ
Kiểm toán 48A
19
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
không còn chiếm giữ vị trí độc tôn trong mô hình kinh doanh của các hãng
kiểm toán. Theo số liệu năm 2007, dịch vụ kiểm toán có tốc độ tăng trưởng
doanh thu thấp nhất trong số các dịch vụ của nhóm Big 4, vào khoảng 12% và
tại 3 trong số 4 công ty Big 4 thì tỉ trọng doanh thu từ kiểm toán đã xuống
dưới mức 50%.
Dịch vụ kế toán sổ sách (Accouting services). Hướng tới các khách hàng
có quy mô kinh doanh nhỏ không có đầy đủ nhân lực hoặc trình độ cần thiết
cho công việc hạch toán, khi đó các công ty kiểm toán sẽ đảm trách thay
nhiệm vụ lập báo cáo tài chính. Trong nhiều trường hợp để phục vụ cho nhu
cầu sử dụng thông tin của các bên thứ ba thì việc lên báo cáo tài chính còn
được thực hiện kèm với quá trình xét duyệt hoặc kiểm toán. Tuy vậy, nói
chung, việc xét duyệt và kiểm toán mang tính tích hợp như vậy thường có ít
tính đảm bảo và độ tin cậy chỉ dừng ở mức chấp nhận được.
Dịch vụ thuế ( Tax Services). Khách hàng của kiểm toán độc lập thường
phải chi trả nhiều loại thuế cho hoạt động của mình như thuế thu nhập, thuế
tài sản và các loại lệ phí khác. Các hãng kiểm toán có Bộ phận Thuế sẽ hỗ trợ
khách hàng trong việc kê khai các loại thuế, hoặc đóng vai trò đại diện trước
các cơ quan Thuế. Dịch vụ thuế được cung cấp bởi hầu hết các hãng, và với
nhiều công ty cỡ nhỏ hoặc văn phòng tư thì thậm chí dịch vụ này còn đóng
vai trò quan trọng hơn cả dịch vụ kiểm toán.
Dịch vụ tư vấn (Management Consulting Services). Trợ giúp và cung cấp
Năm tài
chính
PricewaterhouseCoopers 28.2 tỷ$ 49/27/23 155,693 2008
Deloitte Touche
Tohmatsu
27.4 tỷ$ 46/22/32 165,000 2008
Ernst & Young 24.5 tỷ$ 8/27/12 135,000 2008
KPMG
22.7 tỷ$
47/21/32
137,000 2008
Nguồn trích: />Nguyên gốc: PwC, Deloite TT, E&Y, KPMG websites
c. Cơ cấu tổ chức điển hình của một công ty kiểm toán
Do công ty kiểm toán tại các quốc gia đều phải thành lập và hoạt động
theo luật Doanh nghiệp nên nói chung về cơ cấu tổ chức có nhiều điểm tương
đồng với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Về cơ bản, tổ chức của
một công ty kiểm toán như sau:
Hội đồng thành viên, hội đồng quản trị. Đưa ra quyết định chiến lược
phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;quyết định bộ máy
quản lí ,phương thức đầu tư, giải pháp phát triển thị trường và phân chia lợi
nhuận
Ban Giám đốc. Là bộ phận điều hành và đưa ra các quyết định về cung
cấp dịch vụ cho khách hàng , chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên
( hội đồng quản trị) về hoạt động và lợi nhuận của công ty.Trong một cuộc
kiểm toán : Ban Giám đốc thực hiện kí nhân hợp đồng với khách thể kiểm
toán, trực tiếp chỉ đạo nhóm kiểm toán thực hiện tác nghiệp tại đơn vị được
kiểm toán.Khi kết thúc thúc kiểm toán, trong Báo cáo kiểm toán viên đưa ra
phải có đầy đủ chữ kí của Kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán và chữ kí
của đại diện ban giám đốc, thể hiện rõ trách nhiệm của công ty kiểm toán với
kết luận kiểm toán đưa ra.
nhiều ngành nghề , mọi lĩnh vực kinh tế. Thực tế cho thấy, ở các nước sớm
phát triển theo nền kinh tế thị trường , kiểm toán độc lập đã hành nghề trước
khi có những chuẩn mực kiểm toán như đã biết hiện nay. Theo thống kê trên
thế giời có hàng trăm nghìn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh
vực kiểm toán và tư vấn tài chính ( riêng ở Mỹ có hơn 30.000 tổ chức ).
Kinh nghiệm ở các nước có lịch sử phát triển kiểm toán lâu dài cho
thấy, trong giai đoạn đầu tiên của hoạt động kiểm toán, việc hành nghề riêng
biệt của từng kiểm toán viên hoặc của một nhóm nhân viên trong lĩnh vực
kiểm toán, tư vấn tài chính là khá phổ biến.Mô hình này ngày nay được tổ
chức theo hình thức Văn phòng tư ( kể cả công ty nhỏ ), rất phát triển ở cộng
Hòa Pháp ( 2500 văn phòng ) và các nước Tây Âu. Ngay cả ở Mỹ, một quốc
gia có nền kiểm toán tiên tiến , cũng có tới 95% công ty nhỏ từ 1 - 25 người,
ở Trung Quốc có tới 600 văn phòng kiểm toán nhỏ ( 3 - 5 người ).
Kiểm toán 48A
22
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học 2009
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu kiểm toán được mở
rộng ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau cũng với đó là sự mở rộng của quy mô
các cuộc kiểm toán, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng hay lãnh
thổ mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế, điều đó tất yếu dẫn đến sự hình
thành của mô hình Công ty kiểm toán. Các công ty kiểm toán quy mô lớn
thường có xuất phát điểm là các công ty kế toán kiểm toán có lịch sử hình
thành lâu đời, qua quá trình phát triển sáp nhập với nhau, có chi nhánh ở
nhiều nước trên thế giới, các công ty này do có tiểm lực tài chính vững mạnh
uy tín lầu năm trên thị trường và có một lượng khách hàng đông đảo, doanh
thu hàng năm lớn nên các công ty này thường là các công ty trách nhiệm hữu
hạn.Trong khi đó, các doanh nghiệp kiểm toán vừa và nhỏ, quy mô hạn chế
thường tổ chức các theo loại hình công ty trách nhiệm vô hạn nhằm tạo uy tín
với khách hàng.
b. Đặc điểm tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập trên thế giới
phẩm Rite Aid (Mỹ, năm 2003), chỉ 4 năm sau chi nhánh công ty tại Đức bị
điều tra về việc bỏ qua những nghi vấn trong các khoản chi phí của tập đoàn
Siemens (Đức, năm 2007, sau đó KPMG đã bị Siemens thay thế bởi Ernst &
Young). Ngay cả PricewaterhouseCoopers, công ty kiểm toán lớn nhất thế
giới hiện nay cũng đang bị cáo buộc đã không phát hiện được các sai phạm
trên báo cáo tài chính của tập đoàn Dell (Mỹ, năm 2007) và mới đây nhất là
trong vụ làm giả sổ sách quy mô lớn (1.5 tỷ USD) ở tập đoàn gia công phần
mềm Satyam (Ấn Độ, năm 2009). Những vụ việc trên đã hối thúc Chính phủ
nhiều quốc gia phải ban hành các đạo luật mới nhằm ngăn ngừa các hành vi
sai phạm tiếp diễn trong tương lai cũng như đảm bảo tính hiệu lực của báo
cáo kiểm toán.Ví dụ trong trường hợp của Enron và Arthur Andersen, Chính
phủ Mỹ sau đó đã ban hành luật Sarbanes-Oxley (2002), nhằm cải thiện sự
đảm bảo và tin tưởng vào các báo cáo, các thông tin tài chính công khai. Các
công ty kiểm toán bị rút bớt quyền cung cấp dịch vụ cho khách hàng kiểm
toán của họ để đảm bảo họ không bị các lợi ích làm lung lay, các dịch vụ này
phải do các công ty khác cung cấp. Đạo luật cũng đưa ra các hình phát rất
nghiêm khắc nếu vi phạm các quy định về kiểm toán như việc có thể tuyên án
đến 20 năm tù với các tội danh như phá hủy tài liệu. Tuy các chế tài trở nên
chặt chẽ với các công ty kiểm toán nhưng trên thực tế các công ty này vẫn có
lợi ích từ đạo luật này. Đó là phần 404 của Đạo luật trong đó quy định rằng bộ
báo cáo hàng năm phải có Báo cáo kiểm soát nội bộ và báo cáo này phải có
chứng thực của công ty kiểm toán. Theo tạp chí Fortune và báo Wall Street
Journal, ước tính chỉ 1.000 công ty lớn đang niêm yết ở Hoa Kỳ đã phải trả
khoản phí để thực hiện điều khoản này hàng năm lên đến 6 tỷ USD. Ngành
kiểm toán đột nhiên có vô số công ăn việc làm, nghề kiểm toán trở nên vô
cùng thịnh vượng.
Sự quản lý của Chính phủ với hoạt động kiểm toán độc lập không chỉ
dừng lại ở công tác ban hành luật. Ngoài sự điều chỉnh của hệ thống luật
pháp, các đơn vị thực hiện kiểm toán còn phải chịu sự kiểm tra giám sát bởi
hệ thống kiểm tra chất lượng. Ở một số quốc gia, chương trình kiểm tra chất
giá chính xác tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu công ty
kiểm toán không có kiến thức sâu sắc về ngành nghề của khách hàng thì nhiều
khả năng sẽ đưa ra các nhận định sai trong báo cáo kiểm toán và đối mặt với
nguy cơ rơi vào kiện tụng trong tương lai.
Thứ hai, tổ chức bộ máy kiểm toán theo hướng đánh giá rủi ro. Mô hình
kiểm toán hiện đại đang được áp dụng bao gồm mô hình kiểm toán trên cơ sở
hệ thống và mô hình kiểm toán trên cơ sở rủi ro. Kiểm toán trên cơ sở hệ
thống thiên về hệ thống kiểm soát nội bộ, dựa vào việc đánh giá và phân tích
hệ thống kiểm soát nội bộ để đạt được các mục tiêu kiểm toán. Từ những năm
1990 tới nay thì các công ty kiểm toán (đặc biệt ở Mỹ) đang tích cực chuyển
đổi sang mo hình kiểm toán trên cơ sở rủi ro. Trong mô hình này, công ty
kiểm toán sẽ tập trung phân tích các thương vụ, đánh giá và quản lý rủi ro của
khách hàng. Dù mô hình trên cơ sở rủi ro là một bước tiến quan trọng trong
Kiểm toán 48A
25