MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của văn học Trung Hoa vận động cùng với sự
phát triển của xã hội.Việt Nam chúng ta là nước chịu ảnh hưởng rất lớn của
nền văn hóa Trung Hoa điều này chúng ta không thể phủ nhận, đặc biệt là về
văn học chúng ta đã tiếp thu trên tình thần chọn lọc. Văn học Trung Hoa đã
sớm được bạn đọc Việt Nam yêu thích từ Đường thi, tiểu thuyết chương
hồi…
Vườn văn Trung Quốc đương đại đang rực rỡ khoe sắc với các tên tuổi
tiêu biểu như : Vương Mông, Mạc Ngôn, Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao,
Phùng Ký Tài, Trương Khiết, Thẩm Dung… Có một người tự nhận mình
không hợp với cái ồn ã của văn đàn Trung Quốc hiện nay, nhưng dường như
khi lạnh lùng với ánh hào quang của vòng nguyệt quế, ông lại được các văn
sỹ kính phục hơn cả. Đó là nhà văn Lý Nhuệ - một trong những cột trụ lớn
nhất của văn học Trung Quốc đương đại.
Sinh năm 1950 tại Bắc Kinh, Lý Nhuệ bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm
1970. Văn Lý Nhuệ sâu lắng, gần gũi với đời với người. Dù đề tài có khác
nhau nhưng các tác phẩm của ông đều xoay quanh một chủ đề duy nhất: khám
phá bản chất đời sống con người.
Năm 1998 Lý Nhuệ được bầu làm Phó chủ tịch hội nhà văn tỉnh Sơn
Tây. Năm 2003 ông từ chức và cũng xin rút khỏi hội nhà văn Trung Quốc,
làm một người viết văn tự do
Viết về đề tài lịch sử, Lý Nhuệ đã thổi vào đó cảm hứng hiện đại. Triết lí
mới về lịch sử, về con người được Lý Nhuệ thể hiện qua nghệ thuật tự sự vừa
truyền thống vừa hiện đại.
Hiện nay, việc tìm hiểu và nghiên cứu tác phẩm của Lý Nhuệ chưa được
giới nghiên cứu Việt Nam chú ý nhiều. Chúng tôi chọn tiểu thuyết “Chốn
xưa” làm đề tài nghiên cứu cho niên luận của mình.
1
2.Lịch sử vấn đề
Chỉ trong 347 trang, Chốn xưa đã phản ánh chiều dài lịch sử Trung Hoa
Để thực hiện Niên luận này người viết sử dụng phương pháp tiếp cận,
phân tích văn bản, phương pháp nghiên cứu tài liệu thống kê, tổng hợp cùng
các phương pháp khác.
Ngoài phần mở đầu và kết luận công trình này gồm có 3 chương:
Chương 1:Nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật
Chương 2:Nhân vật trong tiểu thuyết “Chốn xưa”
Chương 3:Bút pháp nghệ thuật và quan niệm sáng tác của tác giả
3
Nội dung
Chương 1:Nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật
1.1.Khái niệm nhân vật văn học
Nói đến văn học nhân vật là nói đến con người được miêu tả,thể hiện
trong tác phẩm bằng phương tiện văn học.Nhân vật đó chính là phương tiện
cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng.Miêu tả con
người, đó chính là việc xây dưng nhân vật của nhà văn.Ở đây cần chú ý rằng,
nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,đó
không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề
nghiệp, tính cách…
Giáo trình Lý luận văn học(Hà Minh Đức chủ biên) định nghĩa về nhân
vật “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời
sống trong một thời kì lịch sử nhất định”
Trong 150 thuật ngữ văn học Lại Nguyên Ân,cho rằng: “Nhân vật văn
học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nó có thể
được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”.
Có thể thấy nhân vật là một phương diên quan trọng nhất để thể hiện tư
tưởng của tác phẩm. Nó được đặt ở phương diện hàng đầu trong hình thức của
tác phẩm, quyết định phần lớn cốt truyện, ngôn ngữ. Các nhân vât liên kết
với nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Hệ thống nhân vật bộc lộ nội
dung tác phẩm nhưng có khi tự nó lại là một trong các phương diện kết cấu
người bác ruột Lý Tử Vân đã chết trong một chung cư dành cho người già
trên đất Mỹ.
2.2.Cuộc đời các nhân vật trong tiểu thuyết “Chốn xưa”
Lý Nãi Chi sinh năm 1910 thời Tuyên Thống – vị hoàng đế cuối cùng.
Lý Nãi Chi có hai người chị là Lý Tử Hận và Lý Tử Vân. Cha mẹ chết sớm,
chị em Nãi Chi ở cùng với Lý Nãi Kính tộc trưởng họ Lý của Cửu Tư Đường.
5
Năm 17 tuổi, Lý Nãi Chi chứng kiến cái chết của người thầy Triệu Bá Nho bị
hành hình sau cuộc bạo động Thu Thu của nông dân, anh bị chấn động. Vậy
là, cuộc thảm sát tháng 12 năm 1927 ở Ngân Thành đã tạo nên một thanh niên
bi phẫn. Trong nhật ký anh viết: “….Tôi làm thế nào để thoát khỏi cái thế giới
này?…Có cần thiết phải thay đổi cái thế giới bị tê liệt này không?…Sống như
thế này không chút hứng thú, buồn thảm vô cùng! Đọc lại “Gào thét” của Lỗ
Tấn, lẽ nào mọi người đều như kẻ ăn thịt người trong “Nhật ký người điên” cả
hay sao?… Nghe chị Vân nói, tin tức trên tỉnh và ở các tỉnh khác, càng cảm
thấy Trung Quốc thật sự vô vọng.” Rời Ngân Thành lên tỉnh học, Nãi Chi
tham gia phong trào sinh viên biểu tình, diễn thuyết trên đường phố, rải
truyền đơn chống Nhật. Cuối cùng, chỉ còn một tháng nữa tốt nghiệp, anh bị
đuổi học. Nãi Chi bình thản từ chối tấm bằng đại học. Được Cách mạng móc
nối anh tham gia hoạt động bí mật, lợi dụng là người nhà với dòng họ Cửu Tư
Đường làm vỏ bọc, anh trở về Ngân Thành trà trộn với những người công
nhân đào muối. Vì lý tưởng anh hiến dâng cả sự sống và tình yêu của mình.
Nãi Chi từ chối mối tình của Bạch Thu Vân, đi hoạt động cách mạng cho đến
khi bị Quốc dân đảng bắt giam kết án tử hình năm 1939. Nhờ người chị thứ
hai: Lý Tử Vân – vợ của tướng Dương Sở Hùng (một vị tướng của Quốc dân
đảng) can thiệp, trên pháp trường xử bắn, “ theo mật lệnh của Dương Sở
Hùng, viên đạn lẽ ra phải xuyên tim anh thỉ chỉ bắn gãy xương sườn”, Nãi Chi
được hai người chị cứu sống. Trốn thoát, anh được Bạch Thu Vân chăm sóc,
nàng cùng anh tham gia cách mạng đến ngày thắng lợi. Nãi Chi sống ở Bắc
Kinh và sau đó từ Cục trưởng anh lên Thứ trưởng, đúng lúc thời “Đại cách
Được làm đội trưởng đội cải tạo anh vui lắm, vì ngày nào cũng nắm trong tay
các quan ông, quan bà. Trong đội, hắn đặc biệt rất khoái Thu Vân, đơn giản vì
nàng là quan to nhất. Vợ thứ trưởng. Ngày đầu tiên, hắn phân công nàng đảo
phân ở hai cái bể lớn để múc phân tưới rau, hành hạ nàng như một thú vui.
“Hôm nay đội ta có thêm một nhân vật cỡ bự, bà phu nhân thứ trưởng, hãy
nhìn đôi găng tay này, trắng qúa! Tôi nghe nói, hiện tại y không được phát
7
lương nữa, tiền tiết kiệm cũng bị tổ chuyên án giữ, bây giờ thì chúng ta bình
đẳng như nhau. Tôi làm lụng cả đời mà cũng không có nổi đôi găng tay này,
vậy bà nghĩ bà là thứ của quý gì? Bà còn tỏ ra là lá ngọc cành vàng ở đây hay
sao, bà cũng như những người kia, mẹ kiếp bà, bà cũng chỉ là đồ cứt chó!”.
Bạch Thu Vân trải qua hai năm cải tạo lao động, trở thành một công nhân
nông nghiệp đúng tiêu chuẩn, làm cỏ, cắt lúa, gánh nước, quạt thóc, hái bông,
phun thuốc trừ sâu… việc gì cũng thạo. Đến một ngày mệt mỏi tận xương tủy,
không chịu đựng được nữa nàng uống thuốc ngủ tự tử, mong lấy cái chết để
chấm dứt cuộc sống tù túng, mòn mỏi và khốn khổ.
Bé Lý Chi Sinh cháu trai của tộc trưởng Lý Nãi Kính khi vừa chào đời
mẹ chết, lại đúng vào lúc cả gia tộc 32 người đàn ông nhà Cửu Tư Đường bị
đem xử bắn “vì là bọn địa chủ phản cách mạng”. Mồ côi cha mẹ, Chi Sinh
được Lý Tử Hận đem về nuôi. Cuộc “Đại cách mạng văn hóa” 1966 Chi Sinh
mới là cậu bé vừa lên trung học, em bị lũ bạn cùng lớp đánh hội đồng vì là
“chó con của nhà Cửu Tư Đường”. Hai hôm sau, lũ bạn học của Chi Sinh,
tràn vào bắt “chó con” Chi Sinh lên cầu “Hồng Vệ” để “tẩy não”. Tất cả
những ai bị gọi là “yêu ma quỷ quái”(từ của Mao chủ tịch viết trong cuốn cẩm
nang) đều bị dẫn lên cầu, ném xuống sông Ngân Khê. Những ngày ấy, quần
chúng cách mạng trống giong cờ mở đứng chật hai bờ sông. Bé Chi Sinh khóc
lóc, kêu la thảm thiết cũng chẳng ích gì, em cũng bị lôi lên cầu và ném xuống
sông.
Ông Đông đầu bạc trắng – người gánh nước thuê cho gia đình Cửu Tư
Đường – là tên nô lệ trung thành - vì nhảy xuống sông cứu Chi Sinh, nên bị