BÀI GIẢNG CHỌN VÀ TẠO GIỐNG VẬT NUÔI - Lê Thị Lan Phương doc - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

BÀI GIẢNG
CHỌN VÀ TẠO GIỐNG VẬT NUÔI
Lê Thị Lan Phương
Bộ môn Di truyền - Giống
HUẾ - 2006
LỜI NÓI ĐẦU

Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển nhanh chóng của sinh học phân tử
và công nghệ sinh học đã kéo theo những tiến bộ đáng kể của các ngành khoa học liên
quan đến sinh học phân tử, công nghệ sinh học, trong đó phải kể đến các ngành nông
lâm- sinh- y dược.
Trong chương trình đào tạo đại học của các ngành liên quan đến sinh học, Học
phần Sinh lý học người và động vật, được xem là học phần cơ sở của nhiều ngành đào
tạo như: Chăn nuôi, Thú y, Động vật học, Sinh học, Sư phạm kỹ thuật Nông lâm, Cử
nhân điều dưỡng, Bác sỹ đa khoa, Chế biến và bảo quản nông sản, Kinh tế nông nghiệp,
Quản tri kinh doanh nông nghiệp, Công nghệ sinh học, Sinh thái học, Tâm lý học
v.v…Kiến thức về sinh lý học người và động vật được xem là cầu nối trước khi đi vào các
lĩnh vực chuyên môn về cơ thể người và động vật nuôi. Vì vậy, việc biên soạn Giáo trình
Sinh lý học người và động vật, để cập nhật các kiến thức khoa học chung về sinh lý, có
hệ thống và đáp ứng yêu cầu của khung chương trình đào tạo đại học vừa được Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành là việc làm cần thiết. Trong quá trình biên soạn giáo trình này,
tập thể tác giả: PGS.TS Nguyễn Đức Hưng, TS Đàm Văn Tiện (Trường đại học Nông
Lâm); TS Hoàng khánh Hằng (Trường đại học Y Khoa); ThS Nguyễn Đức Quang, ThS
Nguyễn Thị Hải Yến (Trường đại học Khoa học); TS Phan Thị Sang (Trường đại học Sư
phạm) thuộc Đại học Huế, dưới sự chủ trì của PGS.TS Nguyễn Đức Hưng đã bám sát
khung chương trình đào tạo mới, cập nhật các kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu trong và
ngoài nước nhằm thể hiện được kiến thức cơ bản, hiện đại và thực tiễn. Ý kiến đóng góp
của các chuyên gia tư vấn GS.TSKH Lê Doãn Diên, GS.TS Đỗ Ngọc Liên, PGS.TS Lê

4.2. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng và phát dục 88
4.3. Một số qui luật sinh trưởng và phát dục của vật nuôi 91
4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục 100
Chương V: Sức sản xuất của vật nuôi 103
5.1. Ý nghĩa của việc đánh giá sức sản xuất của vật nuôi 103
5.2. Sức sinh sản của vật nuôi 103
5.3. Sức sản xuất sữa 105
5.4. Sức sản xuất trứng 109
5.5. Sức sản xuất thịt 111
Chương VI: Quan hệ họ hàng và các tham số di truyền 115
6.1. Di truyền tính trạng 115
6.2. Sự biến thiên/sai khác của các tính trạng số lượng 116
6.3. Mô hình di truyền cơ bản của tính trạng đa gen 119
6.4. Quan hệ di truyền giữa các cá thể 121
6.5. Một số tham số di truyền 132
Chương VII: Chọn lọc giống vật nuôi 160
7.1. Cơ sở của chọn lọc 160
7.2. Giá trị giống 173
7.3. Các phương pháp chọn lọc 181
Chương VIII: Nhân giống vật nuôi 200
8.1. Giao phối cận huyết 200
8.2. Ưu thế lai 211
8.3. Các phương pháp nhân giống vật nuôi 223
Chương IX: Tổ chức công tác giống vật nuôi 242
9.1. Mục đích yêu cầu 242
9.2. Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2010 242
9.3. Chương trình, biện pháp công tác giống 245
9.4. Các biện pháp tổ chức quản lý 251
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
254


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 1. Đặng Vũ Bình (2002). Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi.
Nhà xuất bản Nông nghiệp,Hà Nội.
2. Đinh Văn Cái, Nguyễn Quốc Bạc, Bùi Thế Đức, Nguyễn Hoài
Phương, Lê Hà Châu, Nguyễn Văn Liên (1997). Nuôi bò sữa. Nhà
xuất bản Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Kim Đường, Trần Đình Miên (1992). Chọn lọc và nhân
giống gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Võ Đình Tôn,
Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông, 2000, Giáo trình chăn nuôi
lợn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.
5. Hội đồng Khoa học Công nghệ, Ban động vật và thú y, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, (1997-1999-2001-2003) Báo cáo
Khoa học Viện Chăn nuôi, Hà Nội.
6. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002). Cẩm nang các giống vật nuôi.
Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Ðặng Hữu Lanh, Trần Ðình Miên, Trần Ðình Trọng (1999). Cơ sở
di truyền chọn giống vật nuôi. Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội
8. Trần Ðình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực (1975). Chọn
giống và nhân giống gia súc. Nhà xuất bản nông thôn, Hà Nội
9. Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh, Ngô Thị Đoan
Trinh (1995). Chọn và nhân giống gia súc. Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội.
10. Viện Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004).
At lát các giống gia súc gia cầm Việt Nam. Hà Nội
11. Cunningham E.P,(1969) Animal Breeding theory. Institute of
Animal Breeding, Oslo, .

trình thuần hoá nuôi dưỡng kinh nghiệm, tích luỹ lại, con người có kỹ thuật nhiều hơn, lúc đó
mới bắt đầu chọn lọc có ý thức, chọn lọc theo tiêu chuẩn. Con ngựa chính là đối tượng được tiến
hành chọn lọc kỹ trước tiên, do các nhu cầu về chinh phạt, về vận chuyển Đó cũng là nền móng
của công tác chọn giống gia súc.
Người Hy Lạp và La Mã thời xưa đã có ngành chăn nuôi tương đối phát triển. Trong các
bản trường ca của Horace, Virgile, trong các tuyển tập của Varôn, Côlumen, 2000 năm trước
công nguyên đã thấy có các điều hướng dẫn chọn giống. Ngay thời ấy người ta cũng đã chú ý rất
nhiều đến chất lượng đời bố mẹ và hiểu rằng các đặc tính đều có thể di truyền cho đời con.
Người Arập khi tạo giống ngựa Arập rất chú trọng đến nguồn gốc của con vật từ đời bố mẹ và
chất lượng đời con do nó sinh ra. Ở Trung Hoa, vào thời Xuân thu chiến quốc, Bá-lạc cũng đã
viết tập sách tổng kết cách giám định ngựa tên là Tượng mã kinh. Riêng về sách tạo giống thì
phải xem Kicun là người đầu tiên đã viết nên vào năm 1350 trước công nguyên.
Qua chế độ Phong kiến, công cụ sản xuất dồi dào hơn, năng suất lao động được nâng cao,
xuất hiện nhiều dụng cụ đồ đồng, đồ sắt hơn. Do các tập đoàn phong kiến vẫn tiếp tục chinh phạt
lẫn nhau và nhu cầu về đời sống cũng tăng lên. Dẫn đến việc chăn nuôi ngựa, cừu, bò, lợn gà mở
rộng quy mô. Việc chọn lọc gia súc bắt đầu có hệ thống. Việc nuôi một số gia súc để mua vui,
1
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
buôn bán như gà chọi, gà đuôi dài, cá vàng, cũng được phát triển. Do đó kinh nghiệm chăn nuôi,
nhận xét về các hiện tượng sinh vật phong phú hơn.
Tác động có ý thức, có kế hoạch của con người đối với gia súc và cây trồng như thế là bắt
đầu từ thời xa xưa, kết hợp về nhu cầu của đời sống và cũng dần dần được hoàn chỉnh qua quá
trình thuần hoá và nuôi dưỡng. Tuy nhiên do quan hệ sản xuất Phong Kiến, tính chất kinh tế tự
cấp tự túc cho nên ngành chăn nuôi cũng không được phát triển mạnh, công tác giống do đó cũng
hạn chế.
Bước sang chế độ Tư Bản, với những phát minh khoa học về cơ điện, lý hoá, sinh lý, giải
phẩu cùng với những thuyết sinh vật như thuyết Đác-uyn, thuyết Mendel nền khoa học nông
nghiệp nói chung, lúc này có những bước nhảy vọt mới. Công nghiệp tiến nhanh cung cấp cho
Nông nghiệp được nhiều thiết bị máy móc, thị trường buôn bán mở rộng cung cấp và đòi hỏi
nhiều nguyên liệu, sản phẩm nên cũng tác động tốt đến cơ sở vật chất của ngành nông nghiệp,

2
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
Khi nói đến sự hình thành, phát triển và tiến bộ của môn giống gia súc qua các thời đại và
các chế độ, chúng ta không thể quên sự trưởng thành của môn giống về mặt lý luận cũng như
hiệu quả của các phương pháp chọn giống, nhân giống đều có chịu sự ảnh hưởng của những quan
niệm và lý thuyết qua từng thời kỳ.
Trước tiên cần nhắc đến 1 khái niệm mơ hồ từ xa xưa, lúc người mẹ có chữa mà bị xúc
động gì mạnh mẽ thì sự xúc động đó là ảnh hưởng đến bào thai, gây nên sự thay đổi các tính
trạng của đời con sau này. Có khi người ta đã cho rằng sự xuất hiện một con bò màu lang đỏ
trắng trong đàn bò lang trắng đen là do mẹ con bò đã nhìn vào mái nhà màu đỏ hoặc đã nhìn ráng
đỏ hoàng hôn khi mang thai.
Hiện tượng télégonie cũng là 1 khái niệm khá phổ biến 1 thời. Người ta cho rằng 1 con cái
sau khi đã thụ phối với 1 con đực thì màu sắc, tính trạng của con đực đó sẽ ảnh hưởng đến đời
con của con cái mặc dù lần này đời con không phải là con của con đực đó mà là con của đực
khác. Ngay sách “Sự biến đổi của động vật và cây cối qua quá trình thuần dưỡng”. (C.Darwin,
London, 1868) cũng nhắc nhiều đến hiện tượng này ở ngựa và lợn.
Sách có nói đến chuyện con ngựa cái của bá tước Morthon. Ngựa của ông cho giao phối với
ngựa vằn và đẻ ra ngựa con có sọc. Sau đó cho ngựa cái thụ với ngựa đen Arập và đẻ ra 2 ngựa
con cũng có sọc rõ rệt theo kiểu ngựa vằn. Darwin viết: “ Không còn nghi ngờ gì nữa, màu sắc
của ngựa con thuộc ngựa giống Arập là kết quả ảnh hưởng của ngựa vằn”. Ngày nay người ta giải
thích hiện tượng này là do sự phân ly và tái hợp của các gen lặn vốn có ở bố hoặc ở mẹ chứ
không phải là do hiện tượng Télégonie.
Nói chung, các quan niệm nói trên cho đến nay không có tác dụng gì đáng kể trong công
tác giống. Cùng với sự phát triển của khoa học di truyền hiện đại, của môn tế bào học đi sâu vào
cấu trúc và chức năng của các vi thể và của nhiều môn khoa học khác, công tác giống gia súc đã
đạt được mức độ tạo ra được nhiều giống cao sản. Sản lượng và sản phẩm của gia súc, nhờ vận
dụng di truyền học , sinh hoá học, toán học cũng đã có thể tiên đoán được mức độ. Điều quan
trọng hơn cả là tiến tới điều khiển được phần nào việc hình thành các tính trạng.
Trong công tác giống gia súc không phải ngay từ lúc đầu người ta đã nêu ra được những
khái niệm rõ ràng, những quy lật cơ bản mà người chăn nuôi chỉ cần căn cứ theo đó mà tiến hành.

cao, bò sát có chân ngắn đều là kết quả luyện tập của các bộ phận đó và hiện tượng “dài cổ” hay
“ngắn chân” đều được ghi nhận vào tế bào sinh dục rồi qua sinh sản truyền đạt cho đời sau. Đó là
thuyết di truyền tập nhiễm. Nếu là như vậy thì tập tính chạy nhanh của ngựa, lượng sữa của bò
hay của trâu chỉ cần tập luyện, huấn luyện thì các tính trạng đó sẽ được nâng cao mãi mãi, vô tận,
nghĩa là 1 tính trạng nào đó chỉ cần có “ ảnh hưởng, áp lực của ngoại cảnh” là đủ. Trong thực tế,
điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng ở mức độ nào đó đến các tính trạng, trên cơ sở tương quan
giữa di truyền, và đặc tính tập nhiễm không thể nào di truyền qua thay đổi cấu trúc được, nếu về
thực chất, cấu trúc của nhiễm sắc, của gen không được thay đổi.
A. Wetsman (1892) là người đầu tiên chống đối rõ rệt thuyết di truyền tập nhiễm. Ông cho
rằng tất cả các mầm mống di truyền của bố mẹ truyền cho đời con đều cố định ở nhiểm sắc thể
của tế bào. Những bộ phận khác của cơ thể, dù có thay đổi theo hướng nào, cả những tế bào
thường đều không thể làm thay đổi các “mầm plasma” đó được. Tuy nhiên, Wetsman cũng chưa
đi đến kết luận được 1 cách rõ ràng về cơ sở di truyền nên sau đó lại thiên về 1 khuynh hướng hơi
trừu tượng, chẳng hạn ông cũng chỉ chứng minh được rằng bằng cách chặt đuôi những con chuột
thì những con chuột đó vẫn sinh đời con có đuôi bình thường.
Ở nữa đầu thế kỷ thứ 19 ở Đức cũng còn có 1 quan niệm nữa về tính cố định của giống cho
rằng các đặc tính của 1 giống sẽ được cố định vĩnh viễn do tác động của công tác giống. Chỉ có
những đặc tính nào không cố định thì mới phân ly. Tính cố định của đời con được thừa hưởng ở
đời trước, nhiều hay ít, bền vững hay không bền vững là do khoảng cách bao nhiêu thế hệ với cá
thể tổ tiên có đặc tính đó. Nói 1 cách khác là “ mức độ máu” của cá thể tổ tiên nào đó, nhiều hay
ít do khoảng cách của các thế hệ, sẽ ảnh hưởng đến tính cố định nào đó.
Kết hợp thuyết cố định và thuyết di truyền tập nhiễm, có quan niệm còn cho rằng nếu 1 cá
thể, 1 phẩm giống nào được nuôi nấng trong những điều kiện môi trường giống nhau qua nhiều
thế hệ thì có đặc tính mang tính cố định cao. Cá thể phẩm giống đó thích nghi dễ dàng hơn với
điều kiện đó so với cá thể và phẩm giống khác mới đưa từ nơi khác tới.
Điều đó đúng là như thế, nhưng sự phát triển nhanh chóng của nền Nông nghiệp nói chung
đã làm thay đổi nhiều điều kiện môi trường (nhất là về mặt dinh dưỡng và nuôi dưỡng). Cho nên
4
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
muốn nâng cao năng suất của 1 phẩm giống lại phải có phương pháp chọn lọc, chọn phối, đổi

Kiến thức tiến hoá của ông dựa vào ba nguyên tắc chính: biến dị, di truyền và chọn lọc.
Theo thuyết Đarwin sự tiến hoá của các loài thực hiện khả năng di truyền qua sự chọn lọc. Nhờ
chọn lọc mà giữ được và củng cố những đặc tính di truyền và chính trên cơ sở đó mà chọn lọc
cây trồng và gia súc, đưa việc chọn giống vào cơ sở khoa học chặt chẽ.
Đến đầu thế kỷ 20, lúc mà ngành chăn nuôi đã trở thành một môn khoa học, lúc mà khoa
học di truyền mới bắt đầu với những kiểu thực nghiệm về tính di truyền và biến dị thì những
người chọn giống nổi tiếng và sáng lập khoa học chăn nuôi của Nga như: ngoài P.N.Culêsôp ra,
E.A.Bocđanôp, M.F.Ivanôp và nhiều người khác cũng đã chú ý đến môn khoa học mới mẻ lúc
bấy giờ và đã vận dụng các nguyên tắc chính về di truyền vào các công trình của họ.
5
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
Công trình của N.A.Xôpliacôp (Iurasôp) về tính di truyền mầu lông của ngựa trên cơ sở sổ
giống ngựa đua Oclôp là thí nghiệm đầu tiên về mặt này ở nước Nga. Sách thuyết Mendel hay lý
luận tạp giao của E.A.Bocđanôp (1912) là một tác phẩm lớn đề cập đến khả năng dùng các quy
luật di truyền trong công tác giống gia súc, nhất là về mặt tạp giao.
N.I.Vavilôp 1935, nhà di truyền học và chọn giống nổi tiếng cũng đã viết: “Các luật của
Mendel là bước ngoặt trong lịch sử chọn giống gia súc và cây trồng. Trước năm 1900 công việc
chọn giống có tính chất lý thuyết. Từ đó về sau mới có cơ sở khoa học. Thuyết Mendel và công
tác chọn giống cùng với các môn liên quan về từng năm lại giúp cho các nhà sinh vật học điều
khiển có ý thức cây cối và động vật. Chính vì đó mà ý nghĩa của công tác chọn giống tăng lên; nó
là khoa học điều khiển sự tiến hoá của gia súc và cây trồng”. Theo ông, chọn giống liên quan chặt
chẽ với các môn tế bào học, sinh hoá học, sinh lý học và trước tiên là di truyền học.
Các luật về di truyền Mendel làm cho di truyền động vật từng loại cũng phát triển, tạo điều
kiện cho chọn giống có hiệu quả hơn, ví dụ như chọn lọc cừu lông xoăn, các loại cừu lông mịn,
ngành nuôi thú lấy lông.
Vaxin (1933), Gơlembôpski, Mickhơnôpsski (1934) và nhiều người khác là những người
đấu tiên nghiên cứu gen gây chết ở loại cừu lông xám vào lúc 1 tuổi. B.I.Vaxin đã sữa đổi tính
trạng đó bằng cách dùng phương pháp cho giao phối dị dạng theo sắc lông trong 1 đàn.
D.K.Béliaiep và V.I.Epxicôp đã tạo nên loại chồn có sắc lông ngọc trai bằng phương pháp chọn
lọc đồng dạng qua 3 gen lặn độc lập với nhau.

Nam. Sau thế chiến thứ nhất đã đưa một số chuyên viên về thú y, thành lập một số trại nuôi thú
giống ở vùng cao (nuôi bò ôn đới), ở vùng đồng bằng (cừu ngựa, heo gà ) nhập một số giống tốt
từ nước ngoài chủ yếu gà vùng ôn đới. Tuy nhiên do kỹ thuật còn thấp, điều kiện khí hậu của
Việt Nam là nhiệt đới nên phần lớn nuôi không thành công, chỉ có heo Craonais phát triển tốt
được ở Nam Bộ và đã lai với các giống heo ở địa phương.
Năm 1930 đã nhập giống ngựa Ả Rập từ Bắc Phi vào nuôi đã cho kết quả tốt. Sự lai tạo từ
giống ngựa Ả Rập với ngựa địa phương ở nước ta đã cho ra ngựa Đông Dương. Năm 1930, nhập
bò Ấn Độ, chủ yếu là giống bò Sind và giống bò Ongole cho kết quả tốt trong việc nuôi thích
nghi và lai tạo với các giống bò địa phương.
Năm 1932-1936, nhập heo cao sản từ Philipin với 3 giống nổi tiếng của thế giới là
Yorkshire, Bershire, Tamwoth (các giống heo này do Mỹ đem sang Philipin) nuôi tại Đồng bằng
sông Cửu Long và đã tham gia lai tạo với heo địa phương vùng này tạo ra 2 giống là heo trắng
Thuộc Nhiêu và heo bông Ba Xuyên.
1.3.3. Thời kỳ Cách Mạng tháng 8 năm 1945 đến 1954
+ Ở vùng giải phóng: Công tác giống là việc thực hiện bình tuyển giống bò, heo. Nhà nước
can thiệp vào việc loại hay giữ lại một số giống bò đực, heo đực để làm giống, tiêm phòng phòng
chống dịch bệnh.
+ Ở vùng Pháp tạm chiếm: Phát triển thêm một số trại ở vùng đồng bằng, nhập lại những
giống tốt sau khi đã bị gián đoạn do thế chiến thứ 2. Bò Ấn Độ, ngựa (để cải tạo ngựa đua ở Sài
Gòn), heo Yorkshire, Bershire. Bắt đầu xây dựng một số trại gà và nhập giống gà công nghiệp.
Các giống nhập được đưa ra ngoài dân để lai với các giống địa phương.
1.3.4. Thời kỳ từ năm 1954- 1975
1.3.4.1. Ở Miền Bắc
Qua 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc (1958 - 1960), tình hình chăn nuôi có 1
số mặt tiến bộ, nhưng tốc độ chậm, không đều, tuỳ theo từng vùng, có năm không đạt mức kế
hoạch số lượng gia súc. Chất lượng đàn trâu, bò, lợn đều còn kém, mức sinh sản cũng như tỷ lệ
nuôi sống thấp, con giống thiếu và chưa được chọn lọc qua tiêu chuẩn chặt chẽ.
Năm 1962, theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 3 và Hội nghị Trung ương lần thứ 5
về phần phát triển chăn nuôi gia súc trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), Bộ Nông
nghiệp lúc bấy giờ đã chú ý đến công tác giống.

Nam ở các nông trường miền núi, miền khu 4 cũ. Một số bò đực khác như bò nâu Thuỵ Sĩ
(Brown Swiss) cũng đã được nhập và nuôi thích nghi.
Ngựa: Ngựa chủ yếu là giống Cabacđin của Liên Xô được nuôi tại trại Bá Vân (Thái
Nguyên).
Trâu: Trâu Murrah nhập từ Trung Quốc được nuôi tại trại Ngọc Thanh (Vĩnh Phú).
Lợn: Lợn được nhập nhiều nhất cả về số lượng lẫn phẩm giống. Không kể những loại còn
lại rãi rác từ thời Pháp thuộc. Lợn Berkshire, Yorkshire, Tân Cương, Đại Bạch được nhập vào
nước ta từ năm 1958. Năm 1966 chúng ta tiếp tục nhập những loại giống nói trên, nhập thêm lợn
Landrace và lợn Trung Bạch. Các loại lợn nhập đều được phân bố ở các nông trường như An
Khánh, Thành Tô Ở các Viện, trường Đại học Nông nghiệp, ở một số trạm thụ tinh và ở một số
cơ sở giống thuộc Hà Nội, Hải Phòng.
Cừu: Cừu lông mịn Tân Cương (Trung Quốc), cừu lông thô Mông Cổ nhập từ năm 1958
được nuôi tại nhiều nông trường Quốc doanh, nhưng cho đến nay chỉ còn một số ít tại nông
trường Mộc Châu (Sơn La).
Gia cầm: Chúng ta cũng nhập khá nhiều gà Rhodes, Jsland, Leghorn, Plymouth và một số
ngỗng Sư tử, vịt Bắc Kinh, gà Tây và gà Nhật Bản. Cho đến nay chúng ta cũng tiếp tục nhập
những giống gà nói trên và thêm những loại gà Sussex, Cornish chúng ta cũng đã nhập những
dòng gà hướng trứng hoặc thịt từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (năm 1971), đã tổ chức những xí
nghiệp nuôi giữ gà giống ngoại và nuôi gà thương phẩm, các loại gà nhập đều được phân phối
nuôi ở các trường Đại học Nông nghiệp, ở Viện Chăn nuôi
+ Tiến hành lai tạo các giống nhập với giống địa phương:
8
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
- Đối với lợn, chúng ta đã dùng chủ yếu để lai kinh tế.
Vào những năm 1963-1964, chúng ta có tổ chức lai tại các trường Đại học, trường Trung
cấp Nông nghiệp Trung ương, tại các Viện, trại và rãi rác ở một số địa phương theo các công
thức lợn đực Berkshire với lợn Ỉ Nam bộ, Ỉ pha, Móng cái, lợn đực Đại bạch với lợn Ỉ các loại,
lợn Móng cái. Bên cạnh chúng ta cũng không quên lai giữa các giống lợn nội như lợn Ỉ x lợn
Mèo, lợn Mèo x lợn Cỏ, lợn Cỏ x lợn Lào.
Trong thời kỳ này việc lai tạo nhằm mục đích thăm dò. Lúc bấy giờ việc lai tạo không theo

Sự điều tra cơ bản về giống không chính thức, chỉ thực hiện được ở tại trường Đại học Nông
nghiệp thông qua một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên và cũng chỉ giới hạn trên vài giống.
Thụ tinh nhân tạo có thực hiện với quy mô nhỏ và bò phát triển hơn heo.
Xây dựng một số trại giống của nhà nước và của tư nhân với quy mô lớn cùng với việc
nhập nhiều giống ngoại qua con đường viện trợ hay tư bản tư nhân.
9
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
Bò: Bò Santa Gertrudis, bò sữa Jersey
Heo: Heo Yorkshire, Landrace, Duroc, Chester White, Poland China, Hamshire
Gà: Đầu tiên nhập gà lai nuôi thịt thương phẩm, sau đó nhập gà bố mẹ để sản xuất gà thịt
thương phẩm như gà Hubbard thịt, gà Gôto Nhật. Tương tự gà trứng thương phẩm và gà bố mẹ
để sản xuất gà đẻ trứngthương phẩm như Hubbard Comet
Ngựa: Nhập ngựa để cải tiến ngựa đua ở Sài Gòn.
1.3.5. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay:
Không có sự khác biệt về đường lối công tác giống giữa hai miền Nam Bắc. Nhà nước cố
gắng xây dựng một chương trình công tác giống thống nhất, thiết lập một hệ thống hòan chỉnh
toàn quốc bao gồm:
- Trại giống trung ương thuộc Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp Phát triển nông
thôn) quản lý.
- Trại giống cấp I thuộc tỉnh, thành phố quản lý, nhận con giống từ các trại thuộc trung
ương.
- Trại cấp giống cấp II thuộc huyện quản lý, nhận con giống từ các trại tỉnh, thành phố.
Những trại giống trung ương có thể nằm rải rác vùng trên toàn quốc. Đối với bò có trung
tâm tinh đông viên Moncada Ba Vì, duy nhất trong nước, phục vụ cho việc phối giống trên bò do
Nhà nước điều phối và kiểm soát qua hệ thống trạm trại trực thuộc. Ngoài ra có nông trường bò
sữa Việt Nam - Mông Cổ tỉnh Hà Tây, nông trường bò sữa Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng, trại bò
giống Dục Mỹ tỉnh Khánh Hòa
Về heo có trại heo An Khánh tỉnh Hà Tây, trại heo Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phú, trại heo Đông
Triều tỉnh Quảng Ninh, trại heo Đông Á tỉnh Bình Dương
Về gà có trại Tam Dương tỉnh Vĩnh Phú, xí nghiệp gà Lương Mỹ tỉnh Hà Tây, trại gà Hồng

và các chế độ, đều có chịu sự ảnh hưởng của những quan niệm và lý thuyết qua từng thời kỳ.
Công tác giống gia súc, gia cầm ở nước ta qua các thời kỳ lịch sử khác nhau có nhiều đặc
điểm khác nhau. Trong thời kỳ chiến tranh, công tác giống không có gì nỗi bật. Chỉ những năm
gần đây, khi có chính sách khuyến khích phất triển chăn nuôi phù hợp và khi có nhiều thành phần
kinh tế tham gia đã đưa ngành chăn nuôi nước ta qua một bước mới.
11
 Baìi giaíng giäúng váût nuäi
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Trình bày tóm tắt lịch sử hình thành công tác giống gia súc
2.
Hãy nêu các quan niệm lý thuyết ảnh hưởng đến công tác giống
3.
Nêu những thành quả đạt được trong công tác giống ở nước ta
TÀI LIỆU ĐỌC THÊM
1. Giáo trình chọn và nhân giống vật nuôi của Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê
Đình Phùng. 2006.
1. Giáo trình chọn và nhân giống vật nuôi của
Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đình Văn
Chỉnh, Ngô Đoan Trinh
.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Hải. 1992. Thuyết tiến hoá sau Darwin. NXB Hà Nội, Hà Nội
2. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực, 1975. Chọn giống và nhân giống gia
súc, NXB Nông thôn - Hà Nội.
3. Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đình Văn Chỉnh, Ngô Đoan Trinh, 1995. Giáo trình
chọn giống và nhân giống gia súc. Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
4.
Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng. 2006. Giáo trình chọn giống và
nhân giống vật nuôi, NXB Đại học Huế. Huế.
5. Trần Đình Miên, Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Trọng. 1999. Chọn giống động vật. Trong:

thể có thể truyền lại cho đời sau bằng con đường sinh sản hữu tính và vô
tính. Ông gọi đó là tính di truyền thu được “tập nhiễm”, nhưng chưa giải
thích được sự tiến hóa như thế nào ?
Darwin (1809 - 1882) , dựa vào kết quả quan sát thực tế, tổng kết rất
nhiều tài liệu, đã giải thích sự tiến hóa của sinh vật là do di truyền, biến dị,
chọn lọc và đấu tranh sinh tồn. Từ đó xây dựng nên thuyết tiến hóa.
Thuyết “toàn sinh”, theo ông các tế bào ở các bộ phận cơ thể, kể cả các bộ
phận mới biến dị đều chứa các “hạt” mầm. Các “hạt” này qua máu đi vào
tế bào sinh dục và truyền lại cho đời sau.
Weisman (1834 - 1914), năm 1892 đã đưa ra thuyết “chất chủng

2
liên tục”. Theo thuyết này cơ thể được chia làm hai phần: chất chủng và
chất thể. Chất chủng quyết định sự sinh sản và di truyền. Chất thể có tác
dụng cung cấp dinh dưỡng và bảo vệ chất chủng. Qua từng thế hệ, chất
chủng sinh ra chất thể, chất thể không sinh ra chất chủng, chất thể không
liên tục mà chỉ có chất chủng là liên tục. Chất chủng chứa các đơn vị di
truyền nằm trong nhiễm sắc thể của tế bào sinh dục, là cơ sở sẵn có truyền
từ đời này sang đời khác.
Mendel G. (1822 - 1884), năm 1865 cho ra đời công trình “Thí
nghiệm của các cây lai” và đưa ra ba qui luật di truyền cơ bản: qui luật
tính trội, qui luật phân ly và di truyền độc lập, tổ hợp tự do.
Năm 1900, Hugo de Vris, Tcheckmark và Correns đã đưa ra công
trình giống với kết quả nghiên cứu của Mendel trước đó 35 năm. Do vậy
kết quả nghiên cứu của ba nhà khoa học này là phát hiện lại qui luật
Mendel.
Johansen (1907), đưa ra khái niệm về quần thể và các qui luật di
truyền trong quần thể và dòng thuần. Năm 1908 định luật Hardy-Weinberg
ra đời, xác định sự cân bằng và thay đổi tần số gen trong quần thể.
Từ thế kỷ XIX, bắt đầu hình thành một hướng sử dụng các qui luật

Mendel khám phá ra qui luật di truyền
Tổ chức chọn lọc theo tiêu chuẩn.
Tổ chức chọn lọc theo dòng
Năm 1900
Phục hồi qui luật Mendel
Xác định nguyên tắc di truyền số lượng
Áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bò
Năm 1950
Áp dụng di truyền số lượng cho từng chủng
Watson và Crick xác định mô hình DNA
Henderson áp dụng mô hình BLUP
Ứng dụng công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng
Thực thi cấy truyền phôi
Thời đại “thông tin” về chất lượng con giống và sản phẩm
Năm 2000
Sử dụng gen chỉ thị. Xác định mầm giới tính từ đầu. Ghép truyền gen.
Thực thi cây truyền gen.

Nguồn: Animal Breeding. Australia & USA, 1992.

Chọn giống vật nuôi là môn khoa học nghiên cứu các qui luật di
truyền được ứng dụng trong công tác giống, tìm ra các phương pháp tạo
giống, hoàn thiện và nâng cao năng suất và phẩm chất các giống sẵn có.
Giống hay phẩm giống trong chăn nuôi là một nhóm vật nuôi hoàn
chỉnh của một loài nào đó, có chung nguồn gốc, được tạo thành bởi lao

4
động sáng tạo của con người trong những điều kiện kinh tế và thiên nhiên
nhất định. Có số lượng đầy đủ để tiến hành nhân giống trong nội bộ của
nó, có giá trị kinh tế và giá trị làm giống, có những đặc điểm giống nhau

giữa các giống có một số đặc điểm sau:
- Sức sản xuất cao, hướng sản xuất kiêm dụng và chuyên dụng.
- Dễ thay đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, nếu điều
kiện ngoại cảnh thuận lợi, phù hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển

5
của giống thì sẽ cho năng suất cao, ngược lại nếu không thuận lợi sẽ làm
giảm năng suất, thậm chí gây ra bệnh tật hoặc bị chết.
- Sức chịu đựng bệnh tật kém.
- Ðòi hỏi điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc ở trình độ cao.
Trong nhóm giống cao sản bao gồm: giống kiêm dụng và chuyên
dụng. Giống kiêm dụng là giống có nhiều tính năng sản xuất khác nhau, ví
dụ kiêm dụng thịt-sữa; kiêm dụng sữa-thịt (đối với bò), kiêm dụng nạc -
mỡ; mỡ - nạc (đối với lợn), kiêm dụng trứng - thịt; thịt - trứng (đối với gia
cầm). Giống chuyên dụng là giống chuyên về một tính năng sản xuất, ví
dụ bò chuyên sữa, bò chuyên thịt, lợn chuyên nạc, gà chuyên trứng, gà
chuyên thịt.
Hiện nay trên thế giới có quan điểm thống nhất là trong công tác
chăn nuôi nói chung, mục đích cuối cùng là làm sao để vật nuôi cho sản
phẩm nhiều nhất mà tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm (1 kg thịt,
1 kg sữa, 1 quả trứng ) lại ít nhất. Qua đó chúng ta thấy rằng, khi nói đến
một giống vật nuôi tốt đều cũng phải bao hàm ý nghĩa là con giống đó sẽ
cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đồng thời mức tiêu tốn thức ăn cho một
đơn vị sản phẩm phải thấp.

1.2 Công tác giống vật nuôi ở nước ta
Ở nước ta từ sau năm 1954 ngành chăn nuôi mới có điều kiện để
phát triển mạnh mẽ. Chăn nuôi vẫn tiếp tục nuôi theo hộ là chính và Nhà
nước ban hành một số chính sách khuyến khích tăng gia sản xuất, trong đó
có chăn nuôi. Một công tác đáng kể trong giai đoạn này là đào tạo cán bộ

Lang trắng đen, Tam Hà (từ Trung Quốc), được nuôi chủ yếu tại Ba Vì
(Sơn Tây). Năm 1970, bò sữa giống Holstein nhập từ Cu Ba được chuyển
nuôi tại Nông trường Sao Ðỏ và Mộc Châu. Năm 1975, một phần được
chuyển về nuôi thích nghi tại Lâm Ðồng. Trong từng thời kỳ chúng ta có
nhập thêm bò Brown Swiss (bò Thụy Sĩ), bò Zebu, bò Sind thuần từ nhiều
nước khác nhau. Những giống vốn có đặc tính khác nhau thích nghi lâu
đời với khí hậu nhiệt đới để cải tạo bò Vàng Việt Nam, để nuôi thuần và
thăm dò lai tạo với các giống sẵn có. Từ những năm 80, một mặt chúng ta
duy trì, cải tiến các đàn bò địa phương, củng cố cơ cấu đàn bò ngoại
hướng sữa, mặt khác nhập nội một số bò đực giống (Sind, Charolais, Santa
Gertrudis, Limousin, Brahaman ) hoặc tinh đông viên của những con đầu
dòng để tổ chức lai tạo với bò nền Việt Nam theo hướng thịt-sữa, sữa -
thịt. Về bò thịt chuyên dụng, chúng ta đang thử nghiệm nuôi để có sản
phẩm thịt hàng hóa ở một vài nơi trên cả nước.
Công tác giống lợn từ trước đến nay đã được coi trọng hàng đầu so
với các giống vật nuôi khác. Việc điều tra cơ bản, bình tuyển để chọn lọc,
xây dựng các vùng giống lợn sinh sản dã được hình thành sớm, qui mô lớn
từ những năm 60. Sau đó đến năm 1967, 14 vùng giống bao gồm hàng vạn
lợn nái cơ bản đã hình thành ở khắp các tỉnh thuộc châu thổ Sông Hồng.
Trong những năm 1960-1970, công tác giống vật nuôi đã được đặt ra sớm,
nhưng so với các loại vật nuôi khác, công tác giống lợn tương đối có hệ
thống hợp lý hơn cả. Cũng trong thời gian đó, chúng ta bắt đầu nhập lợn
ngoại cao sản: Berkshire, Ðại Bạch, Trung bạch, Landrace và gần đây
tùy từng thời kỳ, nhập nhiều giống lợn thuộc dòng cao sản như Yorkshire,
Landrace, New Hampshire, Duroc, Pietrain có tỷ lệ nạc cao. Từ việc
nhập các giống lợn ngoại cao sản, chúng ta dần dần phổ biến công thức lai

7
kinh tế lợn nội × ngoại nhằm tăng nhanh sản phẩm thịt. Nhiều công thức
lai nội × ngoại lúc bấy giờ đã trở thành phổ cập đến tận cơ sở sản xuất như

Ri, gà Bình Thắng (BT1, BT2), nhằm tạo ra những nhóm gà (thả vườn)
thích hợp với chăn nuôi gia đình, trang trại ở các vùng nông thôn.
Ngoài những thành tựu khoa học về công tác giống vật nuôi đã nói
trên, chúng ta còn nuôi nhiều giống dê, thỏ, vịt, ngan, ngỗng nội, ngoại ở
nhiều vùng khác nhau trên toàn quốc. Gần đây, để đa dạng hóa sản phẩm
(từ nguồn đa dạng hóa sinh học) chúng ta còn nhập thêm các dòng, nhóm

8
chọn lọc: cá sấu, hươu, nai, đà điểu, bồ câu đang được nuôi thử nghiệm
tại một số trung tâm chăn nuôi.
Cho đến nay, trải qua một thời gian dài xây dựng, củng cố, phát triển
ngành chăn nuôi, công tác giống vật nuôi đã hình thành một hệ thống
nghiên cứu, thông tin, quản lý giống vật nuôi và gia cầm, bao gồm:
- Hệ thống quản lý Nhà nước: Cục, Vụ, các Trung tâm, Tổng cục
chăn nuôi.
- Hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học: Trường Ðại học,Viện,
các Trung tâm nghiên cứu.
- Hệ thống sản xuất kinh doanh: Tổng công ty, Công ty, Trung tâm
đến các cơ sở sản xuất trên toàn quốc, đi đôi với phát triển chăn nuôi gia
đình tiến dần lên hình thức trạng trại.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, tuy công tác giống vật nuôi vẫn
giữ được nề nếp quản lý, nhưng hiệu quả kinh tế của con giống chưa được
phát huy cao trong nền kinh tế thị trường. Việc phổ biến các kiến thức về
giống và chọn giống theo hướng sinh học hiện đại còn nhiều hạn chế.
Trong những năm gần đây Nhà nước ta đã có định hướng mới cho ngành
chăn nuôi “chuyển từ chăn nuôi tự túc sang chăn nuôi hàng hóa, kết hợp
chăn nuôi với công nghiệp chế biến, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm,
đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế hàng hóa lớn, có hiệu quả cao trong
nông nghiệp ” (Nghị quyết về một số chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Chính phủ ngày 15/6/2000). Trong sự chuyển biến mạnh mẽ đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status