Đề tài: Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu doc - Pdf 12

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………….2
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………………….3
45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 46
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vấn đề xây dựng nhãn hiệu mạnh là một yêu cầu quan
trọng với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Đặc biệt trong bối cảnh nước ta trở
thành thành viên chính thức của tổ chức TM thế giới WTO và là thành viên của nhiều tổ chức
kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Đối với hoạt động kinh doanh nói chung, nhãn hiệu có
thể giúp doanh nghiệp đạt vị thế dẫn đầu. Một nhãn hiệu mạnh sẽ giúp doanh nghiệp có lợi
thế và đứng vững trong cạnh tranh, giành được sự tin tưởng từ phía khách hàng. Nhãn hiệu
làm tăng giá trị của sản phẩm trên thị trường đồng thời tạo lợi nhuận bền vững cho công ty sở
hữu. Một nhãn hiệu càng nổi tiếng thì khả năng gia tăng thị phần trên thị trường càng cao.
Nhãn hiệu được coi như một tài sản quý của doanh nghiệp và là một công cụ cạnh tranh của
thời kỳ hội nhập. Do vậy, doanh nghiệp muốn thành công trên thương trường cần có một sự
nhận thức đúng đắn về nhãn hiệu.
Cũng chính vì vai trò và tầm quan trọng đó, có nhiều nhãn hiệu bị xâm phạm, thậm chí
bị “ăn cắp” bằng nhiều hình thức khác nhau.
Pháp luật thế giới nói chung và pháp luật quốc gia nói riêng đã và đang xây dựng hệ
thống Pháp luật về Sở hữu trí tuệ. Và vấn đề “Bảo hộ nhãn hiệu” là một mảng quan trọng của
hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu nhãn hiệu, bảo vệ cho chính nhãn hiệu.
Có rất nhiều tình huống trong thực tế đã và đang xảy ra trên phạm vi Thế giới và cả Việt Nam,
xoay quanh câu chuyện “Bảo hộ Nhãn hiệu”.
Nhóm chúng em nghiên cứu đề tài này muốn giới thiệu tổng quan về nhãn hiệu, đưa ra
sự khác biệt cơ bản giữa nhãn hiệu và thương hiệu. Đồng thời những quy định của pháp luật
Thế giới nói chung – họ điều chỉnh vấn đề Bảo hộ nhãn hiệu như thế nào, và của pháp luật
Việt Nam nói riêng. Tình hình thực tế của vấn đề Bảo hộ Nhãn hiệu hiện nay cụ thể ra sao, có
những điểm gì tiến bộ và còn tồn tại những mặt hạn chế nào. Từ đó nhóm đề xuất một số kiến
nghị đối với vấn đề bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam.
Vì kinh nghiệm còn thiếu và kiến thức về nhãn hiệu còn hạn hẹp, cho nên dù nhóm đã

khác. Ban đầu thì người ta đóng dấu nhãn hiệu cho các loại gia súc, về sau thì các nhà sản
xuất gốm, gia thú và tơ lụa cũng sử dụng phương pháp này để phân biệt các sản phẩm của họ
với nhà sản xuất khác.
1.1.2 Thương hiệu - Brand là gì?
Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản
xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm.
Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền
cho người đại diện thương mại chính thức.
Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu
hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào
đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.".
Hiện nay ở Việt Nam chưa có định nghĩa về thương hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa về
nhãn hiệu, do đó chỉ có nhãn hiệu mới là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam. Trong khi đó, theo hệ thống luật Anh Mỹ, thương hiệu có thể được bảo hộ và người chủ
sở hữu nhãn hiệu đã đăng kí sẽ có quyền kiện bất cứ ai xâm phạm đến thương hiệu của mình.
Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một
thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là
một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry
Thuật ngữ thương hiệu đôi khi cũng được sử dụng để đề cập tới bất cứ đặc tính khác
biệt nào của hàng hóa đã được xác nhận, đặc biệt là các tính chất đặc trưng của sản phẩm
được nhiều người biết tới, ví dụ thời trang Gucci, kính râm Elton John's Cần phải chú ý rằng
quyền bảo hộ thương hiệu chỉ thực sự có được khi đã sử dụng và đăng kí thương hiệu đó cho
một dòng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Quyền sở hữu đối với thương hiệu có thể sẽ bị
loại bỏ hoặc không tiếp tục được bảo hộ nữa nếu nó không tiếp tục được sử dụng vì thế chủ
thương hiệu phải sử dụng thương hiệu của mình nếu muốn duy trì quyền này.
1.1.3 Phân biệt giữa nhãn hiệu và thương hiệu
Chúng ta có thể phân biệt như sau:
Nhãn hiệu Thương hiệu
Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý:
- Được bảo hộ bởi pháp luật (do

thương hiệu có giá trị nhiều tỷ đô la như Cocacola 67 tỷ đô la, Sam Sung trên 16 tỷ, HSBC
11,6 tỷ v.v. 100 thương hiệu có giá trị nhất thế giới đến từ nhiều quốc gia khác nhau và từ
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau từ hàng tiêu dùng cho đến thời trang, điện toán, tài chính
ngân hàng v.v. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là tổng giá trị của 100 thương hiệu hàng đầu
này có giá trị gần 1000 tỷ đô la, xấp xỉ tổng thu nhập của 63 quốc gia nghèo nhất trên thế giới
(nơi có tới gần một nửa dân số thế giới đang sinh sống).
- Một thương hiệu mạnh sẽ mang lại cho chủ nhân cơ hội thu được một mức giá cao
hơn từ khách hàng so với sản phẩm cùng loại. Chỉ cần tháo mác Raph Lauren ra khỏi chiếc áo
sơ mi, ai trong chúng ta có thể sẵn lòng chi trả 300.000 đồng (đã thấp hơn 200.000 đồng so
với giá thực khi có mác) cho chiếc áo này? Chắc sẽ không quá khó để có câu trả lời.
- Thương hiệu mạnh giúp cắt giảm chi phí. Ngân hàng Gia Định và ACB sẽ đầu tư bao
nhiêu tiền để có thêm một khách hàng biết về mình, hay mua dịch vụ của mình, hay trung
thành với mình? Chắc hẳn chúng ta không có câu trả lời chính xác nhưng chắc chắn, khoản
đầu tư sẽ không giống nhau (bằng nhau về giá trị) và thương hiệu nào sẽ phải đầu tư ít tiền
hơn hẳn chúng ta cũng có thể suy luận được.
- Thương hiệu mạnh củng cố tính bền vững cho doanh nghiệp. Thế giới là thay đổi. Bất
kỳ thương hiệu nào cũng phải đối đầu với thách thức từ sự thay đổi này. Nhu cầu người tiêu
dùng có thể thay đổi, khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng, đối thủ cạnh tranh gia nhập
thị trường ngày càng nhiều, những sự cố luôn rình rập doanh nghiệp dạng Xe Super dream bị
gãy cổ lái, Tổng giám đốc ngân hàng đã bỏ trốn, Sữa tươi làm từ sữa bột, Nước tương có thể
gây ung thư, v.v Đối đầu với sự thay đổi này, các lợi thế so sánh hữu hình dạng giá thành hạ,
công nghệ cao, vốn lớn, sản phẩm chất lượng, v.v sẽ là rất quan trọng nhưng khó có thể duy
trì vị thế của doanh nghiệp. Một thương hiệu mạnh giúp tạo ra khách hàng trung thành. Mà
khách hàng trung thành thì không bao giờ rời bỏ thương hiệu mạnh chỉ vì những thay đổi nhỏ
và càng không dễ dàng rời bỏ ngay mà luôn bao dung, rộng lòng chờ đợi sự thay đổi của
thương hiệu mà mình trung thành.
1.1.4 Phân loại nhãn hiệu
Dựa vào dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu thì có ba loại nhãn hiệu:
4
- Nhãn hiệu chữ: bao gồm các chữ cái (có kèm theo cả chữ số), từ (có nghĩa hoặc

“nhãn hiệu đã đăng ký”, tuy rằng tên gọi khác nhau nhưng chúng lại cùng một ý nghĩa. Đây
chính là việc mà các chủ sở hữu nhãn hiệu đều muốn làm - đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu
của mình. Bằng hành động đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, các chủ sở hữu đã ngăn không cho
người nào khác sử dụng nhãn hiệu trùng hay tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
của mình. Bên cạnh đó, chủ sở hữu nhãn hiệu còn có thể bảo vệ uy tín thương mại của những
sản phẩm hay dịch vụ của mình cung cấp thông qua việc bảo hộ nhãn hiệu. Độc quyền nhãn
hiệu chỉ được bảo hộ trong giới hạn về thời gian, không gian và nội dung mà mình đã yêu cầu
5
bảo hộ. Tuy nhiên, nếu một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì phạm vi bảo
hộ của nó có thể mở rộng ra với mọi loại sản phẩm.
Ví dụ: Công ty sản xuất bột ngọt nhãn hiệu A-ONE đã kiện công ty sản xuất nước uống
tinh khiết A-ONE.
1.2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu khi đăng ký bảo hộ
 Quyền của chủ sở hữu
Chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền sử dụng và định đoạt đối với các dấu hiệu được
bảo hộ. Độc quyền ở đây chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa
2
:
- Thứ nhất, chủ sở hữu có quyền cho hay không cho người khác sử dụng nhãn hiệu của
mình thông qua một hợp đồng (hợp đồng li-xăng).
- Thứ hai, khi có hành vi xâm phạm độc quyền của mình, chủ sở hữu có thể tự mình yêu
cầu hay thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm chấm
dứt hành vi và bồi thường thiệt hại.
Quyền sử dụng bao gồm: gắn nhãn được bảo hộ lên lên sản phẩm hay dịch vụ của mình,
tàng trữ, lưu thông, bán, nhập khẩu, quảng cáo sản phẩm có nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo
hộ. Đối ngược với độc quyền sử dụng, pháp luật cũng quy định rõ một số hành vi sử dụng
không thuộc độc quyền của chủ sở hữu – còn được gọi là sử dụng hạn chế. Bao gồm các hành
vi sau:
- Bán lại các đối tượng được bảo hộ do chính chủ sở hữu hay người được chủ sở hữu
đưa ra thị trường (exhaustion of rights). Ví dụ: một người mua nước khoáng LaVie ở Tiền

Tuy nhiên, quyền sở hữu đối với nhãn hiệu chỉ được xác lập trên cơ sở quyết định cấp
văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật
SHTT 2005 hay công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của Điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
5
. Theo quy định của pháp luật Việt Nam
6
, nhãn hiệu
được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện:
1.2.2.1 Là dấu hiệu nhìn thấy được
Các dấu hiệu này phải nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể
cả hình ba chiều hay sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay một số màu sắc
nhất định. Từ đây, ta có thể thấy rằng ở Việt Nam chỉ bảo hộ những nhãn hiệu có thể nhận biết
bằng thị giác. Trong khi đó, trên thế giới hiện nay, bên cạnh loại nhãn hiệu truyền thống là dấu
hiệu nhìn thấy được, pháp luật một số nước còn bảo hộ cả nhãn hiệu là âm thanh như tiếng
nhạc mà con người có thể nhận biết được bằng thính giác, hoặc các dấu hiệu mùi hương mà
con người có thể nhận biết được thông qua khứu giác hay chỉ đơn thuần là nhãn hiệu được thể
hiện bằng một màu sắc nhất định.
Ví dụ, tại Hoa Kỳ, tiếng sư tử gầm của hãng sản xuất phim MGM đã được bảo hộ nhãn
hiệu, hay mùi hương của hoa mới nở cũng được bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm chỉ thêu theo
văn bằng bảo hộ số U.S.Reg.No.13639128
7
.
3 Xem Điều 136 Luật SHTT 2005 đã được sử đổi bổ sung 2009
4 Xem thêm Điều 7, Điều 9 Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung 2009
5 Xem điểm a, khoản 3, điều 6 Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung 2009
6 Cụ thể Điều 72, Luật SHTT 20055 được sửa đổi, bổ sung 2009
7 Tham khảo bài viết Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu - Một giải pháp cho vấn đề xung
đột quyền bảo hộ, Th.S Vương Thanh Thúy, Đại học Luật Hà Nội.
7

thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu
đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng
ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây
8
nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên
cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn
đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự
từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu
tiên;
h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã
chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn
hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là
nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương
tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn
hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi
tiếng;
k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người
khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn
gốc hàng hoá, dịch vụ;
l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử
dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của

8
.
Các dấu hiệu về nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam tuy rằng so với các
nước trên thế giới có sự khác biệt nhưng suy cho cùng một dấu hiệu muốn được coi là nhãn
hiệu hàng hóa thì cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được chuẩn hóa trên toàn thế giới.
Theo WIPO, nhìn chung có hai loại điều kiện khác nhau cần phân biệt đó là:
Điều kiện thứ nhất liên quan tới chức năng cơ bản của nhãn hiệu hàng hóa, đó là chức
năng phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với các sản phẩm hoặc dịch
vụ của các doanh nghiệp khác. Do vậy, một nhãn hiệu hàng hóa phải độc đáo hoặc có khả
năng phân biệt với các sản phẩm khác nhau.
Điều kiện thứ hai liên quan tới các hậu quả mà nhãn hiệu hàng hóa có thể gây ra nếu
những hàng hóa có những đặc tính gây hiểu lầm hoặc vi phạm tới trật tự công cộng và đạo
đức xã hội.
9
Ngoài ra đối tượng nhãn hiệu có khả năng được bảo hộ theo các điều ước quốc tế
như: quy định tại Điều 15.1 Hiệp định TRIPS, và Điều 16.1 Hiệp định thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ.
1.2.3. Trình tự, thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
1.2.3.1. Quyền nộp đơn
Chỉ có những người có quyền nộp đơn mới được nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các loại chủ thể này bao gồm
10
:
8 THS. PHẠM NGỌC TÂM – BẢO VỆ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ HOA
KỲ - TẠP CHÍ KHPL SỐ 4 (35)/2006
9 Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng, trang 69
10 Điều 87 – Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
10
“1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản
xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ
sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
11

Việc xác định quyền nộp đơn xác định tính trung thực của người nộp đơn yêu cầu bảo
hộ. Người nộp đơn có nghĩa vụ cam đoan với Cục SHTT về sự trung thực và quyền nộp đơn
11 Điều 87, Luật SHTT 2005 đã được sử đổi bổ sung 2009
11
của mình. Nếu như vi phạm cam kết, văn bằng bảo hộ sẽ bị hủy và chủ văn bằng sẽ phải chịu
mọi trách nhiệm do việc văn bằng bị hủy gây ra.
Ví dụ: cơ sở Hưng Vận được cấp GCN đăng ký nhãn hiệu “Sure Star” vào năm 1993
cho một nhóm sản phẩm trong đó có sản phẩm điện gia dụng. Ngày 12/3/1993, Bộ KH-ĐT
cấp giấy phép cho công ty Seoul Sure Star của Hàn Quốc được liên doanh với xí nghiệp DQ
thành lập công ty liên doanh Việt Sure Star. Trong số các sản phẩm liên doanh có tắc-te mang
nhãn hiệu Sure Star. Phát hiện ra nhãn hiệu của mình bị một cơ sở khác đăng ký, trong khi
bản thân cũng chưa đăng ký bảo hộ, Việt Sure Star đã yêu cầu Cục SHTT hủy bỏ hiệu lực văn
bằng bảo hộ của Hưng Vận vì đã không trung thực khi nộp đơn xin bảo hộ. Yêu cầu này đã
được chấp nhận vì Hưng Vận không phải là người có quyền nộp đơn.
12
Tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp tại Việt Nam
13
có thể nộp đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại Việt Nam theo các điều
ước về hoặc liên quan đến thủ tục nộp đơn quốc tế. Các điều ước quốc tế quy định tại khoản
này bao gồm:
a) Hiệp ước hợp tác quốc tế về Bằng sáng chế năm 1970, được sửa đổi năm 1984 (sau
đây gọi tắt là “Hiệp ước PCT”);
b) Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu năm 1891, được sửa đổi năm 1979
(sau đây gọi tắt là “Thoả ước Madrid”) và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid năm
1989 (sau đây gọi tắt là “Nghị định thư Madrid”);

địa lý của sản phẩm).
 Yêu cầu đối với đơn
(a) Mỗi đơn chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ;
(b) Mọi tài liệu của đơn đều phải được làm bằng tiếng Việt. Đối với các tài liệu được
làm bằng ngôn ngữ khác theo quy định tại điểm 7.3 và điểm 7.4 của Thông tư 01/2007/TT-
BKHCN thì phải được dịch ra tiếng Việt;
(c) Mọi tài liệu của đơn đều phải được trình bày theo chiều dọc (riêng hình vẽ, sơ đồ và
bảng biểu có thể được trình bày theo chiều ngang) trên một mặt giấy khổ A4 (210mm x
297mm), trong đó có chừa lề theo bốn phía, mỗi lề rộng 20mm, trừ các tài liệu bổ trợ mà
nguồn gốc tài liệu đó không nhằm để đưa vào đơn;
(d) Đối với tài liệu cần lập theo mẫu thì bắt buộc phải sử dụng các mẫu đó và điền đầy
đủ các thông tin theo yêu cầu vào những chỗ thích hợp;
(e) Mỗi loại tài liệu nếu bao gồm nhiều trang thì mỗi trang phải ghi số thứ tự trang đó
bằng chữ số Ả-rập;
(f) Tài liệu phải được đánh máy hoặc in bằng loại mực khó phai mờ, một cách rõ ràng,
sạch sẽ, không tẩy xoá, không sửa chữa; trường hợp phát hiện có sai sót không đáng kể thuộc
về lỗi chính tả trong tài liệu đã nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ thì người nộp đơn có thể sửa chữa
các lỗi đó, nhưng tại chỗ bị sửa chữa phải có chữ ký xác nhận (và đóng dấu, nếu có) của
người nộp đơn;
(g) Thuật ngữ dùng trong đơn phải là thuật ngữ phổ thông (không dùng tiếng địa
phương, từ hiếm, từ tự tạo). Ký hiệu, đơn vị đo lường, phông chữ điện tử, quy tắc chính tả
dùng trong đơn phải theo tiêu chuẩn Việt Nam;
13
(h) Đơn có thể kèm theo tài liệu bổ trợ là vật mang dữ liệu điện tử của một phần hoặc
toàn bộ nội dung tài liệu đơn.
14
1.2.3.3. Nộp đơn yêu cầu bảo hộ-xác định ngày ưu tiên
Việc cấp văn bằng bảo hộ được bắt đầu bằn việc nộp đơn và lệ phí.
Các chủ thể có thể nộp đơn tại Cục SHTT
15

16 />17 Điều 90, Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung 2009
18 Điều 10, Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật SHTT về sở hữ công nghiệp đã được sửa đổi bởi Nghị
định 122/2011/NĐ-CP
14
ghi nhận nguyên tắc bảo hộ độc lập trong việc bảo hộ nhãn hiệu tại mỗi nước tại điều
6.1.
19
Để đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, người nộp đơn phải nộp các khoản phí và lệ phí quy
định (tại Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ Tài chính), bao gồm các
khoản sau
20
:
Các khoản phí, lệ phí Lệ phí (đồng)
Lệ phí nộp đơn (cho mỗi nhóm đến 6 sản phẩm, dịch vụ)
- Nếu tài liệu đơn dạng giấy 180.000
- Nếu đơn kèm tài liệu điện tử mang toàn bộ nội dung tài liệu
đơn
150.000
- Nếu đơn nhãn hiệu có trên 6 sản phẩm/dịch vụ trong một nhóm,
phải nộp thêm cho mỗi sản phẩm/dịch vụ từ thứ 7 trở đi
30.000
Lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên (mỗi đơn/yêu cầu) 600.000
Phí thẩm định nội dung (cho mỗi nhóm đến 6 sản phẩm, dịch vụ) 300.000
- Nếu đơn nhãn hiệu có trên 6 sản phẩm/dịch vụ trong một nhóm,
phải nộp thêm cho mỗi sản phẩm/dịch vụ từ thứ 7 trở đi
60.000
Phí tra cứu thông tin (cho mỗi nhóm đến 6 sản phẩm, dịch vụ) 60.000
- Nếu đơn nhãn hiệu có trên 6 sản phẩm/dịch vụ trong một nhóm,
phải nộp thêm cho mỗi sản phẩm/dịch vụ từ thứ 7 trở đi
24.000

trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận là đơn hợp lệ. Ở Mỹ, thời hạn này là 30
ngày. Nội dung công bố đơn đăng ký nhãn hiệu là các thông tin liên quan đến đơn hợp lệ ghi
trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ kèm
theo.
Kể từ thời điểm đăng trên Công báo, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến
về việc cho hay không cho chủ thể nộp đơn được cấp văn bằng bảo hộ (opposition period).
 Thẩm định nội dung:
Đơn đăng ký nhãn hiệu đã được công nhận là hợp lệ được thẩm định nội dung để đánh
giá khả năng cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho đối tượng nêu trong đơn theo các
điều kiện bảo hộ. Thời hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu là 9 tháng kể từ ngày công bố
đơn.
21 Tham khảo
22 Xem phục lục
16
Hầu hết các nước đều quy định xét nghiệm nội dung đối với đươn xin đăng ký nhãn hiệu
hàng hóa vì lợi ích công và đối thủ cạnh tranh. Nói chung, ba cách tiếp cận có thể thấy trên
quy mô quốc tế.
Hệ thống pháp luật Vương quốc Anh quy định trách nhiệm xét nghiệm các lý do tuyệ
đối và tương đối của các cơ quan đăng ký, đồng thời quy định thủ tục phản đối. Hệ thống này
cũng được quy định tại châu Âu như các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các nước Bắc
Âu.
Theo cách tiếp cận thứ hai, cơ quan đăng ký chỉ xét nghiệm các lý do tuyệt đối, còn
pháp luật không quy định về thủ tục phản đối và dành cho chủ sở hữu quyền có trước tiến
hành thủ tục hủy bỏ hiệu lực đăng ký hay khởi kiện hành vi vi phạm do việc đăng ký hay sử
dụng thủ tục có sau. Hệ thống này được áp dụng theo luật Nhãn hiệu hàng hóa cũ của Pháp và
Thụy Sĩ song cả hai quốc gia này đều quy định thủ tục phản đối trong luật mới cả họ.
Hệ thống thứ ba theo kiểu của Đức quy định việc Cơ quan đăng ký xét nghiệm theo lý
do tuyệt đối và có việc phản đối theo thủ tục hành chính, trong đó sở hữu các quyền có trước
có thể phản đối đơn xin đăng ký nhãn hiệu vi phạm bằng một thủ tục rút gọn và không quá
tốn kém. Hệ thống này là sự thỏa hiệp giữa các hệ thống nêu trên và theo xu hướng hiện đại

Trước khi Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo từ chối chấp nhận đơn hợp lệ, thông báo từ
chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc quyết định cấp văn bằng bảo hộ, người nộp đơn có thể chủ
động hoặc theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung các tài liệu đơn.
Đối với yêu cầu sửa đổi, bổ sung Mẫu nhãn hiệu, danh mục hàng hoá, dịch vụ mang
nhãn hiệu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu, người nộp đơn phải nộp bản tài liệu tương ứng đã
được sửa đổi, kèm theo bản thuyết minh chi tiết nội dung sửa đổi so với bản tài liệu ban đầu
đã nộp.
Việc sửa đổi, bổ sung đơn không được mở rộng phạm vi (khối lượng) bảo hộ vượt quá
nội dung đã bộc lộ trong danh mục hàng hoá, dịch vụ đối với đơn đăng ký nhãn hiệu và không
được làm thay đổi bản chất của đối tượng nêu trong đơn. Nếu việc sửa đổi làm mở rộng phạm
vi (khối lượng) bảo hộ hoặc làm thay đổi bản chất đối tượng thì người nộp đơn phải nộp đơn
mới và mọi thủ tục được tiến hành lại từ đầu.
Người nộp đơn có thể yêu cầu sửa chữa sai sót về tên, địa chỉ của người nộp đơn, tác
giả.
Mọi yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải được làm thành văn bản theo mẫu 01-SĐĐ quy định
tại Phụ lục B của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN. Có thể yêu cầu sửa đổi với cùng một nội
dung liên quan đến nhiều đơn, với điều kiện người yêu cầu phải nộp lệ phí theo số lượng đơn
tương ứng.
Việc sửa đổi, bổ sung đơn, kể cả thay đổi về người được uỷ quyền, do người nộp đơn
chủ động thực hiện hoặc theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ phải được thể hiện bằng văn
bản, ghi rõ nội dung sửa đổi, bổ sung và kèm theo chứng từ nộp lệ phí sửa đổi, bổ sung đơn.
 Tách đơn
Người nộp đơn có thể chủ động hoặc theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ tách đơn (tách
một hoặc một số thành phần của nhãn hiệu hoặc một phần danh mục hàng hoá, dịch vụ trong
đơn đăng ký nhãn hiệu sang một hoặc nhiều đơn mới, gọi là đơn tách).
24 Tham khảo Quyền sở hữu trí tuệ, Lê Nết, NXB Đại học quốc gia TP.HCM, 2006
18
Đơn tách mang số đơn mới và được lấy ngày nộp đơn của đơn ban đầu hoặc (các) ngày
ưu tiên của đơn ban đầu (nếu có).
Đối với mỗi đơn tách, người nộp đơn phải nộp lệ phí nộp đơn và mọi khoản phí, lệ phí

SHCN.
25 Là một trong những loại văn bằng bảo hộ được quy định tại khoản 3, điều 92 Luật SHTT 2005 đã sửa đổi bổ
sung 2009, “Văn bằng bảo hộ gồm Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc
quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, Giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu và Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý”
26 Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng, t. 81
27 Điều 98 Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung 2009
19
1.2.3.6. Đăng ký quốc tế theo Nghị định thư/Thỏa ước Madrid
28

Ngoài việc đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu của mình trong phạm vi lãnh thổ nước Việt
Nam, các chủ thể sở hữu nhãn hiệu vẫn có thể đạt được sự bảo hộ tại các nước khác là thành
viên của Thỏa ước Madrid 1891 (được sửa đổi lần cuối cùng 1967) cho nhãn hiệu của mình
đối với hàng hóa và dịch vụ bằng việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đó tại Văn phòng quốc tế
về Sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Văn phòng quốc tế).
 Quyền đăng ký quốc tế nhãn hiệu dựa trên đăng ký nhãn hiệu cơ sở tại Việt Nam
a) Người đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam có quyền đăng
ký quốc tế nhãn hiệu tương ứng theo Thoả ước Madrid;
b) Người đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam và người đã được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam có quyền đăng ký quốc tế nhãn hiệu tương ứng theo
Nghị định thư Madrid.
 Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam
a) Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu chỉ định nước muốn được đăng ký bảo hộ là thành
viên Thoả ước Madrid và không chỉ định bất kỳ nước nào là thành viên Nghị định thư Madrid
phải được làm bằng tiếng Pháp.
b) Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu chỉ định ít nhất một nước là thành viên Nghị định thư
Madrid, kể cả đồng thời chỉ định nước là thành viên Thoả ước Madrid phải được làm bằng
tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.
c) Người nộp đơn phải nộp tờ khai yêu cầu đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo mẫu 06-

phòng quốc tế trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ tài liệu đơn hợp lệ theo quy
định.
b) Ngày Cục Sở hữu trí tuệ nhận được đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu sẽ được coi là
ngày nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong trường hợp Văn phòng quốc tế nhận được đơn
đó trong vòng 02 tháng kể từ ngày ghi trên dấu nhận đơn của Cục Sở hữu trí tuệ. Trường hợp
đơn không được người nộp đơn hoàn thiện để gửi đến Văn phòng quốc tế trong thời hạn nói
trên thì ngày nhận được đơn tại Văn phòng quốc tế sẽ được coi là ngày nộp đơn đăng ký quốc
tế nhãn hiệu.
1.2.4 Hiệu lực, gia hạn, hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
1.2.4.1 Hiệu lực
Theo quy định của Luật SHTT 2005, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCN
ĐKNH) có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam và có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể
từ ngày nộp đơn. Tuy nhiên, hiệu lực của Giấy chứng nhận sẽ bị chấm dứt trong những trường
hợp sau:
- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không nộp lệ phí duy trì hoặc gia hạn hiệu
lực theo quy định;
29 Khoản 2, điều 3, Thỏa ước Madrid 1981 “ Người nộp đơn phải chỉ ra hàng hoá hoặc dịch vụ mà theo đó
nhãn hiệu được yêu cầu bảo hộ, và nếu có thể, thì cả nhóm hàng hoá hoặc các nhóm hàng hoá tương ứng theo
phân loại hàng hoá được thiết lập theo Thoả ước Nice về phân loại quốc tế hàng hoá và dịch vụ nhằm mục đích
đăng ký nhãn hiệu. Nếu người nộp đơn không thực hiện việc chỉ dẫn phân loại này thì Văn phòng quốc tế sẽ thực
hiện việc phân loại hàng hoá theo các nhóm sản phẩm tương ứng với phân loại hàng hoá nêu trong phân loại nêu
trên. Việc chỉ dẫn các nhóm hàng hoá của người nộp đơn sẽ được Văn phòng quốc tế kiểm tra, Văn phòng quốc
tế sẽ thực hiện việc kiểm tra trong sự phối hợp với Cơ quan quốc gia. Trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến
giữa Văn phòng quốc tế và Cơ quan quốc gia, thì quan điểm của Văn phòng này sẽ được ưu tiên.”
21
- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;
- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không
có người thừa kế hợp pháp;
- Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hay người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong
thời hạn 5 năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính

- Nhãn hiệu đã đăng ký không đủ khả năng bảo hộ;
- Người chủ nhãn hiệu không có quyền nộp đơn (có đôi khi chủ nhãn hiệu trong
trường hợp này còn phải bồi thường thiệt hại do hành vi lạm dụng quyền sở hữu
công nghiệp của họ gây ra.
1.2.5. Các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Điều 73, Luật SHTT 2005 quy định về các trường hợp dấu hiệu không được bảo hộ với
danh nghĩa nhãn hiệu nếu :
“1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc
huy của các nước;
2. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy
hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
3. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút
danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
4. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu
kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử
dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
5. Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu
dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính
khác của hàng hoá, dịch vụ. »
Nhãn hiệu không được bảo hộ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
31
:
- Trường hợp thiếu tính phân biệt: có thể hiểu trường hợp thiếu tính phân biệt ở đây là
điều kiện tiên quyết để một dấu hiệu được ghi nhận là nhãn hiệu , nếu thiếu nó sẽ
không được công nhận và bảo hộ. Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPS và hiệp
định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ.
- Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ còn đưa ra một số trường hợp
không được bảo hộ cụ thể do thiếu tính phân biệt:

Khi một cá nhân hay doanh nghiệp đăng ký thành công một nhãn hiệu, nếu nhãn hiệu đó
có chứa các thành phần màu sắc khác nhau, cách thiết kế đặc trưng và trình bày cách điệu (Ví
dụ: các nhãn hiệu của Nike, Louis Vuiton…) thì cần đảm bảo rằng nhãn hiệu đó phải được thể
hiện một cách chính xác như lúc đăng ký dù được xuất hiện ở bất kỳ đâu (tivi, đài báo, báo
điện tử, các phương tiện thông tin đại chúng…) vì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh
về các sản phẩm của cá nhân hay doanh nghiệp đó.
Nếu các cá nhân, doanh nghiệp đều chú ý đến việc kiểm tra và sử dụng các nhãn hiệu
mà mình đăng ký một cách chặt chẽ, cẩn thận thì sẽ hạn chế được tối đa các rủi ro không đáng
có trong các hoạt động thương mại của mình.
Nhằm chứng tỏ sự độc quyền của mình đối với nhãn hiệu đăng ký, một số doanh nghiệp
sử dụng các dấu hiệu như: ® (được sử dụng đối với những nhãn hiệu đã đăng ký), TM (được
sử dụng để thể hiện cho người khác biết đây là nhãn hiệu hàng hoá), SM (được sử dụng cho
nhãn hiệu dịch vụ)… bên cạnh các nhãn hiệu của mình. Việc sử dụng các biểu tượng này
không bắt buộc và cũng không làm tăng thêm sự bảo hộ cho nhãn hiệu đó mà đơn thuần chỉ là
một cách thức cảnh báo cho những người có dự định đăng ký nhãn hiệu tương tự với nhãn
hiệu này cân nhắc trước khi tiến hành đăng ký.
32 />trong-kinh-doanh/1276.html
24
Mỗi một doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau, việc
đăng ký một nhãn hiệu cho nhiều sản phẩm hay nhiều nhãn hiệu cho nhiều sản phẩm là tuỳ
thuộc theo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, việc đăng ký một nhãn hiệu
cho nhiều sản phẩm sẽ góp phần vào việc củng cố tên tuổi, hình ảnh và thương hiệu của
doanh nghiệp đó trong mắt người tiêu dùng. Tuy nhiên có những trường hợp cần thiết phải có
những hình ảnh có tính phân biệt nhằm giúp sản phẩm mới có thể được hướng đến những
nhóm người tiêu dùng cụ thể, thì việc sử dụng một nhãn hiệu mới có những chi tiết mới
nhưng vẫn có sự liên hệ với nhãn hiệu cũ là cần thiết cho chiếc lược kinh doanh của doanh
nghiệp đó.
Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn phương án này nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất trong sản xuất và kinh doanh.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status