Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
Lời nói đầu
Chưa bao giờ vấn đề thương hiệu lại trở thành một chủ đề thời sự được
các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội thương mại
quan tâm một cách đặc biệt như hiện nay. Nhiều hội thảo, hội nghị đã được tổ
chức, hàng trăm bài báo và cả những trang website thường xuyên đề cập đến
các khía cạnh khác nhau của vấn đề này.
Một trong những khía cạnh được đề cập nhiều nhất có lẽ là tình trạng các
doanh nghiệp Việt Nam bị mất thương hiệu hay nhãn hiệu hàng hoá ở thị
trường nước ngoài, đặc biệt ở thị trường Hoa Kỳ. Chúng ta có thể kể ra hàng
loạt các vụ tranh chấp thương hiệu gần đây như cuộc chiến Catfish giữa các
nhà xuất khẩu cá Tra, cá Basa Việt Nam với Hiệp hội các chủ trại cá nheo Mỹ
(CFA) về việc sử dụng thương hiệu “Catfish” cho các loại cá nói trên của Việt
Nam nhập khẩu vào Mỹ; cuộc chiến của Trung Nguyên đòi lại thương hiệu từ
chính đối tác là Rice Field Corp do họ đã đăng ký nhãn hiệu này trước tại Mỹ;
các nhãn hiệu Vinataba, Vinatea đều đã bị đăng ký sở hữu tại nhiều nước
trong đó có Mỹ.
Những sự kiện đó xảy ra ngay khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được
ký kết và bắt đầu được triển khai đã nhấn mạnh với chúng ta rằng: Hiệp định
có thể mở ra nhiều cơ hội làm ăn cho các doanh nghiệp Việt Nam, song cũng
là khởi đầu của nhiều thách thức mới. Làm ăn với một đối tác đầy tiềm năng
nhưng cũng khó lường như Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt
với không ít khó khăn. Bài học kinh nghiệm đắt giá đầu tiên mà một số doanh
nghiệp Việt Nam gặp phải khi tiếp cận thị trường Mỹ, đó là bài học về đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá. Thực tiễn đó khiến chúng ta phải đặt ra câu
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
1
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
hỏi: Làm thế nào để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong việc đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu hàng hoá tại Mỹ?
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã mạnh dạn chọn
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của những công ty khác nhau căn cứ vào nhãn
hiệu hàng hoá của sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó. Thí dụ, ô tô là mặt hàng
được nhiều công ty của nhiều nước sản xuất, nhưng người tiêu dùng có thể
phân biệt được chất lượng của từng loại ô tô mang các thương hiệu khác nhau
và xác định được chủng loại xe nào là phù hợp với nhu cầu của mình. Nhãn
hiệu hàng hoá chính là chỉ dẫn ban đầu giúp người tiêu dùng phân biệt được
sản phẩm hàng hoá dịch vụ của những nhà sản xuất kinh doanh khác nhau và
đánh giá được phần nào chất lượng của sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Vậy nhãn
hiệu hàng hoá là gì?
1.1 Định nghĩa nhãn hiệu hàng hoá
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
3
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
Trong thực tế, mỗi quốc gia trên thế giới đều có quy định khác nhau về
nhãn hiệu hàng hoá. Tuy vậy, khi thương mại quốc tế ngày càng phát triển,
chu kỳ sống của hàng hoá dịch vụ bị rút ngắn lại dẫn đến việc xuất hiện ngày
càng nhiều những hàng hoá dịch vụ mới với những chất lượng khác nhau thì
những tranh chấp, xung đột giữa các công ty liên quan đến nhãn hiệu hàng
hoá là điều khó tránh khỏi. Để hạn chế những tranh chấp, xung đột đó cần
phải có những quy định thống nhất về nhãn hiệu hàng hoá trên phạm vi toàn
thế giới.
Tại vòng đàm phán Uruguay của GATT (tiền thân của tổ chức WTO) đã
thông qua Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được ký kết vào
ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 cùng với sự ra đời
của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Trong Hiệp định TRIPS, các quốc gia
trên thế giới đã tiến tới một thoả thuận chung nhất về nhãn hiệu hàng hoá
trong thương mại quốc tế. Theo Hiệp định này thì nhãn hiệu hàng hoá được
coi là đối tượng có khả năng bảo hộ là: "bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp
nào của những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một
doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của những doanh nghiệp khác.
tượng cho sản phẩm Dove, con hổ vàng là biểu tượng cho bia Tiger hay hình
ảnh ba hình thoi chụm vào nhau là biểu tượng cho ô tô của hãng Mitsubishi...
Việc gắn tên nhãn hiệu hiện nay đã phổ biến rộng rãi đến mức hầu như
bất kỳ hàng hoá nào cũng đều có nhãn hiệu. Ngoài ra, các nước còn có xu
hướng mở rộng việc bảo hộ đối với các yếu tố cấu thành nhãn hiệu nhằm
nâng cao tính khác biệt của sản phẩm đến mức tối đa có thể. Bất kỳ một đặc
trưng nào của sản phẩm tác động vào giác quan của người tiêu dùng cũng có
thể được coi là một phần của nhãn hiệu, miễn là chúng có tính phân biệt. Do
đó, ngoài tên nhãn hiệu, dấu hiệu nhãn hiệu thì tiếng động, mùi vị riêng biệt
của sản phẩm cũng có thể được đăng ký bản quyền. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ
1
Theo: “Marketing căn bản - Marketing essentials” , Philip Kotler. Nh xuà ất bản Thống kê, 2002.
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
5
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
gây nhiều khó khăn cho việc lưu trữ, đối chiếu, kiểm tra khi xảy ra tranh
chấp.
1.2 Phân biệt nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu thương mại và thương hiệu
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế (International Trademark
Association) thì: “Nhãn hiệu thương mại (trademark) bao gồm những từ ngữ,
tên gọi, biểu tượng hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa những yếu tố trên được
dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản
xuất hoặc của người bán với nhau và để xác định nguồn của hàng hoá đó”.
Như vậy, khi hàng hoá được lưu thông trên thị trường thì nhãn hiệu hàng
hoá trở thành nhãn hiệu thương mại. Nếu nhãn hiệu thương mại được đăng ký
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì
người chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại đó dưới sự
bảo hộ của luật pháp. Điều đó có nghĩa là người chủ sở hữu có thể sử dụng,
chuyển nhượng, hoặc bán nhãn hiệu thương mại, hay nói cách khác thì chủ sở
hữu có thể định giá đối với nhãn hiệu thương mại của mình. Với ý nghĩa đó,
hoá trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch
vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”.
2.2 Nhãn hiệu tập thể
Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định như sau: “Nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu hàng hoá được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể
khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo
quy chế do tập thể đó quy định.”
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng nêu lên rằng nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của một tổ chức, một nhóm, ví dụ
như Saigon Times Group hay Coop Mart,...
2.3 Nhãn hiệu nổi tiếng
“Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho
những sản phẩm, dịch vụ có uy tín làm cho nhãn hiệu đó được biết đến rộng
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
7
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
rãi”. (Khoản 10 Điều 2 Nghị định 06/2001/NĐ-CP).
Định nghĩa nêu trên không quy định rõ ràng căn cứ xác định “biết đến
rộng rãi”. Luật pháp quốc tế và Luật của các nước trên thế giới cũng không có
các tiêu chuẩn mang tính “công thức” để xác định nhãn hiệu nổi tiếng. Trên
thực tế, để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, phải xem xét từng
trường hợp cụ thể dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như thời điểm nhãn hiệu
được đăng ký, giá trị thương mại của nhãn hiệu, thị phần của nhãn hiệu,...
Khoản 6 Điều 6 trong Hiệp định thương mại Việt- Mỹ cũng đã đề cập
đến vấn đề này như sau: “Để xác định một nhãn hiệu hàng hoá có phải là nổi
tiếng hay không phải xem xét đến sự hiểu biết về nhãn hiệu hàng hoá đó trong
bộ phận công chúng có liên quan, gồm cả sự hiểu biết đạt được trong lãnh thổ
của Bên liên quan do kết quả của hoạt động khuếch trương nhãn hiệu hàng
hoá này. Không Bên nào được yêu cầu rằng sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng
hoá phải vượt ra ngoài bộ phận công chúng thường tiếp xúc với hàng hoá
gia);
d) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá của người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ
nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5
năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì nhãn hiệu hàng hoá không được sử
dụng theo quy định tại điểm c)
e) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá của người khác được coi là nổi tiếng (theo điều 6 bis Công ước Pari)
hoặc với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được sử dụng và đã được
thừa nhận một cách rộng rãi;
f) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên
thương mại được bảo hộ với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ;
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
9
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
g) không trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc đã được
nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn;
h) không trùng với một hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả của
người khác trừ trường hợp được người đó cho phép.
3.2 Các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá không được bảo hộ
Khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định những dấu hiệu
sau không được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu hàng hoá:
a) dấu hiệu không có khả năng phân biệt, như các hình và hình hình học
đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như một từ
ngữ, chữ nước ngoài thuộc ngôn ngữ không thông dụng trừ trường hợp các
dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi;
b) dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của
hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên,
nhiều người biết đến;
c) dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số
định mua sản phẩm của khách hàng (xem Hình 1). Đây chính là điều quan
trọng nhất mà một thương hiệu cũng như công ty được gắn với thương hiệu
đó cần vươn tới.
Nếu khách hàng nhận ra một nhãn hiệu và có một vài kiến thức về nhãn
hiệu đó, họ không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm, xử lý nhiều thông tin để
đưa ra quyết định về tiêu dùng sản phẩm. Như vậy, từ khía cạnh kinh tế,
thương hiệu cho phép khách hàng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản phẩm. Dựa
vào những gì họ đã biết về nhãn hiệu - chất lượng, đặc tính của sản phẩm... -
2
Theo: “Tạo dựng v quà ản trị thương hiệu. Danh tiếng -Lợi nhuận” - Viện nghiên cứu v à đ o tà ạo về quản
lý, Nh xuà ất bản Lao động xã hội, 2003
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
11
Hình 1: Chu trình ra quyết định mua sắm của khách h ngà
Đánh giá
các lựa chọn
Quyết định
mua
H nh vi sauà
khi mua
Nhận thức
vấn đề
Tìm kiếm
thông tin
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
khách hàng hình thành những giả định và kỳ vọng có cơ sở về những gì mà
họ còn chưa biết về nhãn hiệu.
Mối quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng có thể được xem như một
kiểu cam kết hay giao kèo. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành của
mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng bằng cách nào đó, thương hiệu sẽ
sử dụng...)
Với hàng hoá tin tưởng, các thuộc tính của sản phẩm rất khó có thể biết
được (Ví dụ: chi trả bảo hiểm...) Do việc đánh giá, giải thích các thuộc tính và
lợi ích của sản phẩm là hàng hoá kinh nghiệm và hàng hoá tin tưởng rất khó
nên các thương hiệu có thể là dấu hiệu đặc biệt quan trọng về chất lượng và
các đặc điểm khác để người tiêu dùng nhận biết rõ ràng hơn.
Thương hiệu có thể làm giảm các loại rủi ro khi quyết định mua và tiêu
dùng một sản phẩm như:
Rủi ro chức năng: Sản phẩm không được như mong muốn.
Rủi ro vật chất: Sản phẩm đe dọa sức khỏe hoặc thể lực của người sử
dụng hoặc những người khác.
Rủi ro tài chính: Sản phẩm không tương xứng với giá đã trả.
Rủi ro xã hội: Sản phẩm không phù hợp với văn hóa, tín ngưỡng, hoặc
chuẩn mực đạo đức xã hội.
Rủi ro tâm lý: Sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người
sử dụng.
Rủi ro thời gian: Sản phẩm không như mong muốn dẫn đến mất chi phí
cơ hội để tìm sản phẩm khác.
Mặc dù khách hàng có những cách khác nhau để xử lý những rủi ro này,
nhưng chắc chắn có một cách mà họ sẽ chọn, đó là chỉ mua những thương
hiệu nổi tiếng, nhất là những thương hiệu mà họ đã có những kinh nghiệm tốt
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
13
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
trong quá khứ. Vì vậy, thương hiệu có thể là một công cụ xử lý rủi ro rất quan
trọng (xem thêm Hộp 1).
Như vậy, với khách hàng, ý nghĩa đặc biệt của thương hiệu là có thể làm
thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của họ về các sản phẩm. Sản phẩm giống
hệt nhau có thể được khách hàng đánh giá khác nhau tùy thuộc vào sự khác
biệt và uy tín của thương hiệu hoặc các thuộc tính của sản phẩm. Với người
thương hiệu và thu lợi nhuận từ một tài sản đáng giá.
Ngoài việc mang lại cho sản phẩm những đặc điểm và thuộc tính riêng
có thể phân biệt với các sản phẩm khác, thương hiệu cũng có thể cam kết một
tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của sản phẩm. Lòng trung thành của
khách hàng đối với thương hiệu cho phép các doanh nghiệp dự báo và kiểm
soát thị trường. Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp khác muốn xâm nhập thị trường. Mặc dù các quy trình sản xuất và
thiết kế sản phẩm có thể dễ dàng bị sao chép lại, nhưng những ấn tượng ăn
sâu trong đầu người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm thì không thể dễ
dàng sao chép lại như vậy. Về khía cạnh này, thương hiệu có thể được coi như
một cách thức hữu hiệu để đảm bảo lợi thế cạnh tranh, là tài sản vô giá đối
với các doanh nghiệp. Chính vì thế, các công ty và các tập đoàn lớn trên thế
giới đều đưa ra khẩu hiệu: “The Brand’s the Thing” - “Có thương hiệu là có
tất cả”.
4.3 Đối với quốc gia
Khi nói đến Thuỵ Sỹ, người ta nghĩ ngay đến đồng hồ, nói đến Nhật Bản
người ta nghĩ ngay đến Sony, Honda, Toyota mặc dù đồng hồ không phải là
tất cả nước Thuỵ Sỹ cũng như Sony, Honda, Toyota không phải là tất cả nước
Nhật. Như vậy, việc xây dựng thương hiệu không chỉ thúc đẩy sản phẩm của
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
15
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
doanh nghiệp mà còn góp phần tạo nên diện mạo quốc gia. Những thương
hiệu mạnh đã quảng bá hình ảnh và trình độ phát triển của nước Nhật, Thuỵ
Sỹ,... đến toàn thế giới .
Những thương hiệu mạnh sẽ đóng vai trò sứ giả để sản phẩm các quốc
gia chiếm lĩnh thị trường thế giới, tạo nên những bước đệm vững chắc góp
phần đưa đất nước hội nhập kinh tế quốc tế.
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN
HIỆU HÀNG HOÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Tiếp theo là các nước: Italia (1868), Anh (1875), Bỉ (1879), Mỹ (1881), Đức
(1894), Nga (1896) ... Đến nay hầu hết các nước đều đã có luật về nhãn hiệu
hàng hoá. Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật này chỉ điều chỉnh vấn đề bảo
hộ thương hiệu trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Trong khi đó, việc tham gia
thương mại quốc tế là một đòi hỏi tất yếu hiện nay đối với các doanh nghiệp
muốn vươn xa và chiếm lĩnh thị trường. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho
các doanh nghiệp mà còn cho các quốc gia trong việc kiểm soát việc bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá.
Trước thực tế đó, các Điều ước quốc tế và Điều ước khu vực lần lượt
được ra đời như: Công ước Paris, Thoả ước Madrid, Nghi định thư Madrid,
Quy chế thiết lập nhãn hiệu thương mại cộng đồng Châu Âu... Một mặt, đó là
những căn cứ pháp lý cơ sở để xây dựng và hoàn chỉnh luật bảo hộ nhãn hiệu
hàng hoá ở các nước thành viên, nhưng quan trọng hơn, đó là những đóng
góp để tạo dựng một Hệ thống đăng ký nhãn hiệu trong thương mại quốc tế,
từ đó thúc đẩy tiến trình hội nhập và hình thành nên một thị trường toàn cầu.
2. Tác dụng của việc đăng ký nhãn hiệu trong thương mại quốc tế
2.1 Đối với các doanh nghiệp thương mại nói chung
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
17
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
2.1.1 Chống lại hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh
Động cơ làm giàu bất hợp pháp, kiến thức pháp luật hạn chế cộng với
những kẽ hở trong khung pháp luật đã dẫn đến một thực tế: Hàng giả hầu như
đã len lỏi vào tận các ngóc ngách của xã hội hay nói cách khác là không có
lĩnh vực nào, ngành hàng nào mà không có đồ giả. Ngay khi một hàng hoá có
uy tín nhất định trên thị trường thì lập tức xuất hiện một loạt các thương hiệu
tương tự, na ná nhằm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Không chỉ vậy,
nhiều khi các đối thủ cạnh tranh còn sao chép toàn bộ thương hiệu, cả nhãn
sản phẩm của doanh nghiệp để gắn lên hàng hoá của họ. Không chỉ những
hàng hoá tiêu dùng thông thường bị làm giả, còn nhiều thứ giả khác mà hậu
mình, ngăn chặn có hiệu quả hành vi vi phạm nhãn hiệu hàng hoá đã được
bảo hộ. Vì vậy, để tránh rơi vào tình trạng “ mất bò mới lo làm chuồng”, hay
việc đổ tiền bạc, thời gian cho các vụ kiện tụng, các doanh nghiệp hãy biến
việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thương mại thành việc làm đầu tiên mỗi khi có
ý định gây dựng một nhãn hiệu hay một mặt hàng nào đó bởi bảo hộ thương
hiệu là bảo vệ chính mình.
2.1.2 Tạo khả năng độc quyền khai thác thương hiệu
Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là cho phép chủ sở hữu được độc
quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ nhằm mục đích kinh
doanh. Do đó, một khi chủ sở hữu đăng ký và được bảo hộ nhãn hiệu thì họ sẽ
có quyền gắn nhãn hiệu đó lên hàng hoá, bao bì, giấy tờ giao dịch trong hoạt
động kinh doanh và quảng cáo nhãn hiệu của mình thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng như đài, báo, truyền hình, biển quảng cáo... Độc quyền
khai thác nhãn hiệu tạo cho doanh nghiệp khả năng lập chiến lược phân phối
và kiểm soát thị trường cho sản phẩm của mình một cách hợp lý. Tất cả
những hoạt động này sẽ đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra một cách trôi chảy, lành mạnh và đạt hiệu quả cao nhất.
Mặt khác, việc bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá với nội dung
đảm bảo tính độc quyền sử dụng nhãn hiệu sẽ tạo cho doanh nghiệp tâm lý an
toàn. Đồng thời, nó cũng khuyến khích các doanh nghiệp không ngừng hoàn
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
19
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
thiện sản phẩm, nghiên cứu và phát triển những sản phẩm mới đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của xã hội.
2.1.3 Thúc đẩy hợp tác, liên doanh liên kết và chuyển giao công
nghệ
Nhờ giá trị có được từ tiềm năng khai thác thương mại của thương hiệu
trên thị trường mà quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá được xác định giá trị và
trở thành tài sản góp vốn khi liên doanh, liên kết sản xuất, phân phối sản
xuất nhập khẩu, hoạt động thương mại quốc tế ngày càng trở nên thông
thoáng. Tuy nhiên, để bảo hộ nền sản xuất nội địa, các nước đều dựng lên các
tiêu chuẩn khéo léo nhằm hạn chế sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài.
Xuất phát từ thực tế đó cộng với ý nghĩa quan trọng của bảo hộ thương hiệu
mà quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá trở thành một trong những rào cản để
thông quan hàng hoá. Các Giấy chứng nhận thương hiệu chỉ có giá trị trong
phạm vi một lãnh thổ nhất định, thông thường là lãnh thổ quốc gia. Khi xuất,
nhập hàng hoá vào một lãnh thổ quốc gia khác, nếu các doanh nghiệp không
quan tâm đến việc mở rộng phạm vi bảo hộ của văn bằng hoặc đăng ký bảo
hộ thương hiệu của mình trên lãnh thổ quốc gia đó, việc lưu thông hàng hoá
có thể bị ngăn cấm hoặc chỉ suôn sẻ sau khi doanh nghiệp đã tốn nhiều công
sức và chi phí. Khi đó, cơ hội kinh doanh và các khoản lợi nhuận có thể đã
tuột khỏi tay doanh nghiệp.
2.1.5 Đứng vững trước rào cản cạnh tranh không lành mạnh tại thị
trường nước ngoài
Trong bất kỳ một môi trường kinh doanh nào, hàng hoá của doanh
nghiệp đều phải cạnh tranh với vô vàn hàng hoá cùng loại do các doanh
nghiệp trong nước sản xuất cũng như được nhập khẩu từ nhiều nước khác
nhau. Song mỗi môi trường cạnh tranh có đặc điểm riêng chịu sự điều chỉnh
của một hành lang pháp lý riêng. Quy tắc “đào thải” sẽ dễ dàng loại bỏ doanh
nghiệp nào lơ là với những quy tắc riêng đó. Bởi vậy, thích ứng và đối phó
thành công với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường ngoài
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
21
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
nước là một thách thức với doanh nghiệp ngay cả khi doanh nghiệp đã tạo
dựng được một thương hiệu uy tín với những sản phẩm có năng lực cạnh
tranh cao.
Pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của các nước có thể khác nhau
nhưng đều đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu hợp pháp nhãn hiệu
hại trực tiếp tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt
Nam, buộc họ phải từ bỏ thị truờng đó hoặc phải mất công gây dựng lại một
nhãn hiệu khác để thâm nhập thị trường. Còn nếu muốn giành lại nhãn hiệu
của mình, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ phải theo đuổi các vụ kiện tụng tốn
kém. Để lấy lại thương hiệu của mình tại Mỹ, Vifon phải mất hơn 1 năm và
chi phí gần 10.000 USD; Vinamilk cũng đã mất khoảng 20.000 USD mới đòi
lại được nhãn hiệu của chính mình,... So với lệ phí đăng ký trung bình
200USD cho một thương hiệu hàng hoá (xét mặt bằng chung trên thế giới) thì
đó là những khoản tiền không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
2.2.2 Khắc phục hiểu biết hạn chế về thị trường đối tác
Tâm lý làm ăn nhỏ hẹp, làm riêng lẻ, ngày nào biết ngày đó cộng với khả
năng tài chính hạn chế khiến cho hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam rất
chậm trong việc tiếp cận thông tin và trì hoãn công việc khảo sát, thăm dò thị
trường đối tác. Trong khi đó, Nhà nước ta cũng như bản thân các doanh
nghiệp đều hy vọng tiếp cận với các thị trường xuất khẩu mạnh như Mỹ,
Nhật, Nga, EU,... Chiến đấu được trên những thị trường rộng lớn đó chỉ với
lượng thông tin rất hạn chế là một thách thức lớn với các doanh nghiệp Việt
Nam. Một trong những giải pháp cho vấn đề này chính là đăng ký bảo hộ
thương hiệu - công cụ hữu hiệu đảm bảo một môi trường lành mạnh cho các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên mọi thị trường.
2.2.3 Tạo chỗ đứng và nâng cao vị thế của hàng Việt Nam
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
23
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ
Hàng Việt Nam hiện xuất khẩu chủ yếu phải qua nước thứ ba, dưới
thương hiệu của nước trung gian. Thế giới chủ yếu biết đến Việt Nam như là
một nước xuất khẩu nông sản nhưng thế giới không thể nhận biết đâu là sản
phẩm sản xuất tại Việt Nam. Đây là một trong những lý do quan trọng giải
thích tại sao sản phẩm Việt Nam dù là đặc sản nhưng vẫn khó xuất khẩu, giá
cả bấp bênh, thu nhập của nông dân có xu hướng giảm. Khi các doanh nghiệp
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
25
PRIVATENămN Số đơn nhón hiệu hàng hoỏ nộp trực tiếpSS Của
người
Việt NamV Của người
nước ngoàin Tổng
sốss 1982-19881 4614 7737 123411 19891 2552 2322 4874 19901 8908 5925 14821 19911 17471 6136 23
606 19921 15951 30223 46174 19931 22702 38663 61366 19941 14191 27122 41314 19951 22172 341
6656335 19961 23232 31183 54415 19971 16451 31653 48104 19981 16141 20282 36423 19991 238
0017861 41664 20002 34833 23992 58825 20012 30953 32503 63456 20026541227788188 Tổ
ng sốn 312283 322443 634726
Hình 2: Số đơn đăng ký nhãn hiệu h ng hoá à
1982-2002
Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam