Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ các thầy cô giáo trong
khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh
tế quốc dân đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trình
học tập tại trường. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới
PGS.TS Nguyễn Như Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
chỉ bảo em trong suốt quá trình hoàn thành bài chuyên đề
thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc
Công ty TNHH một thành viên sở hữu trí tuệ VCCI đặc biệt
là chú Trần Huy Phương – Giám đốc Công ty và chị Nguyễn
Mai Phương - Trưởng phòng Pháp chế và nhãn hiệu đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến để em hoàn
thành bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................ 4
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HOÁ ............................................................................................ 2
1.1. Nhãn hiệu là gì? .................................................................................... 2
1.1.1. Lịch sử hình thành ........................................................................ 2
NHÃN HIỆU ......................................................................................... 63
3.1. Xu hướng gia tăng nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu sau khi Việt Nam gia
nhập WTO .................................................................................................. 63
3.2. Các giải pháp từ phía doanh nghiệp ................................................. 65
3.4. Các giải pháp từ nhà nước ................................................................. 67
KẾT LUẬN ........................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 74
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cty Công ty
DN Doanh nghiệp
NH Nhãn hiệu
SHTT Sở hữư trí tuệ
SHCN Sở hữu công nghiệp
TH Thương hiệu
VN Việt Nam
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này mở ra cơ hội to lớn trong việc
phát triển kinh tế đất nước nhưng chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức
đặc biệt là tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc
bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ trước hết là do nhu cầu của sự phát triển và
giao lưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế,
phẩm, dịch vụ hay một Công ty được truyền đạt tới đối tượng mục tiêu bằng
tên gọi hoặc các dấu hiệu nhận biết khác, như logo hoặc hình tượng. Nhãn
hiệu không phải là cái tên: một tên Công ty nào đó mà không truyền đạt tới
đối tượng mục tiêu thông điệp hay thuộc tính gì thì không thể gọi là một nhãn
hiệu. Các thuộc tính của nhãn hiệu tồn tại trong mắt của người sở hữu và phản
ánh sự tích luỹ các thông điệp truyền thông mà đối tượng mục tiêu đã nhận
được liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hay Công ty và những “kinh nghiệm"
mà người tiêu dùng đó đã trải qua với sản phẩm, dịch vụ hay Công ty đó.
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Những người cổ đại thời
kỳ đồ đá vẫn thường trao đổi với nhau những vũ khí được thiết kế khác biệt
với vẻ ngoài đem lại cảm tưởng sẽ giúp họ thành công hơn trong săn bắn.
Những người đóng tàu Viking cũng có những "nhãn hiệu” tàu biển khác nhau.
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
Về sau này, khi loài người biết đúc kim loại, nhiều người đã đúc lên sản phẩm
tên họ của mình như một chứng tích khẳng định chất lượng của sản phẩm.
Trên thực tế, định nhãn (branding), hay việc sử dụng các biểu tượng để
truyền đạt các thông tin về một sản phẩm hay dịch vụ có thể được coi là một
hoạt động chỉ riêng gặp ở con người. Đây cũng là nền tảng của thương mại:
nếu không có thông tin về danh tiếng của một người sản xuất hay người bán,
hoạt động thương mại hẳn nhiên sẽ bị ngừng trệ. Tuy nhiên, quyền lực thực
sự của các nhãn hiệu lại có từ khi dấu hiệu này được truyền từ một cá nhân
nào đó sang một cộng đồng kinh doanh lớn hơn. Quá trình chuyển đổi này
tăng cường giá trị nhãn hiệu, mở rộng mức độ ảnh hưởng của nó và kết quả là
nó tạo ra của cải vật chất cho người sở hữu.
1.1.2. Khái niệm về nhãn hiệu
Nhãn hiệu là những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cơ
sở sản xuất,kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ ,hình ảnh hoặc
sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
người khác trừ trường hợp được người đó cho phép.
Các dấu hiệu sau đây không được Nhà nước bảo hộ với danh nghĩa là
nhãn hiệu hàng hoá:
- Dấu hiệu không có khả năng phân biệt, như các hình và hình học đơn
giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như một từ
ngữ; chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng trừ trường hợp
các dấu hiêu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi;
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
- Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của
hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên,
nhiều người biết đến;
- Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,
số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang tính mô
tả hàng hoá, dịch vụ và xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đảo
người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của hàng
hoá hoặc dịch vụ;
- Dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lương, dấu kiểm tra, dấu
bảo hành... của Việt Nam, nước ngoài cũng như của các tổ chức quốc tế;
- Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ,
biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kì, quốc
huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của Việt
Nam cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan, người có thẩm
quyền tương ứng cho phép.
Nhãn hiệu gồm:
Nhãn hiệu gắn vào sản phẩm,bao bì sản phẩm để phân biệt sản phẩm
cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau;
Nhãn hiệu dịch vụ gắn vào phương tiện dịch vụ để phân biệt dịch vụ
- Mức độ nhận biết về một nhãn hiệu: là khả năng mà một khách hàng
tiềm năng có thể nhận ra hoặc nhớ được rằng nhãn hiệu đó được dùng cho
một chủng loại sản phẩm nào đó. Mức nhận biết càng cao, tính quen thuộc
càng lớn, sự tin cậy đối với nhãn hiệu càng dễ được củng cố. Đó là cơ sở ban
đầu của nhu cầu sử dụng các thông điệp quảng cáo: trước một loạt nhãn hiệu
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
của cùng một loại sản phẩm trên cùng một quầy hàng bên trong một siêu thị,
nếu độ chênh biệt về chất lượng, bao bì, giá cả… là không đáng kể, xu hướng
tự nhiên của khách hàng là sẽ chọn lấy các nhãn hiệu mà họ từng được nghe
nhắc đến nhiều nhất, hoặc qua truyền miệng, hoặc qua các phương tiện truyền
thông đại chúng….
Bên cạnh nhu cầu phải tạo dựng mức độ nhận biết về nhãn hiệu, doanh
nghiệp thường cũng cần khẳng định các nỗ lực đảm bảo hoặc nâng cao chất
lượng sản phẩm của mình. Tuy nhiên, đa số người tiêu dùng lại ít có khả năng
hoặc xu hướng sử dụng các chỉ tiêu chất lượng được công bố trong quá trình
so sánh, chọn lựa giữa các nhãn hiệu (ngoại trừ trong lĩnh vực tiếp thị công
nghiệp).
- Chất lượng cảm thụ của nhãn hiệu: tức sự cảm nhận về tính khác biệt
trong chất lượng tổng thể (đặc biệt là nếu có sự ưu trội) của sản phẩm mang
nhãn so với mục đích tiêu dùng và so với các sản phẩm cùng loại mang các
nhãn hiệu khác. Do đó, trừ khi có bước đột phá về công nghệ và kèm theo đó
là về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh, thường thì sức hấp dẫn của một
nhãn hiệu sẽ không nằm ở bản thân các chỉ tiêu kỹ thuật, mà sẽ phụ thuộc
nhiều hơn vào nghệ thuật chọn lựa và sử dụng các ngôn từ đơn giản, gần gũi
và thuyết phục để diễn đạt về hiệu quả của các chỉ tiêu kỹ thuật đó đối với
khách hàng mục tiêu: CÔ GÁI HÀ LAN 1,2,3 khẳng định “triple care”,
EXPO nắp đỏ nhấn mạnh nguồn gốc đậu nành của sơn dầu alkyd, ABBOTT
gọi GAIN IQ là dưỡng chất cho trí tuệ…
sẻ tâm lý với khách hàng (trẻ trung của KOTEX, vui nhộn của FANTA), có
lúc nhằm diễn đạt địa vị xã hội (thời trang của SPACY, sang trọng của
MERCEDES)…. Vai trò của các ấn tượng liên kết là làm tăng thêm giá trị
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
tâm lý cho sản phẩm thông qua việc làm giàu hình ảnh và cảm xúc về nhãn
hiệu trong quá trình chọn mua và sử dụng một sản phẩm mang nhãn.
Tuy nhiên, ngay cả khi chất lượng cảm thụ hoặc các ấn tượng liên kết
của một nhãn hiệu được bảo tồn, chiến thuật cạnh tranh liên tục bằng giá cả
hoặc khuyến mãi của các nhãn hiệu cạnh tranh cũng có thể khiến cho người
tiêu dùng thay đổi nhãn hiệu trong ngắn hạn, trung hạn, hoặc dài hạn. Do vậy,
không thể không xem xét đến một thành tố giá trị quan trọng khác: ý hướng
trung thành với nhãn hiệu (brand loyalty). David A. Aaker cho rằng có thể
phân “ý hướng trung thành” thành năm cấp độ từ thấp tới cao thông qua khái
niệm “tháp ý hướng trung thành” (The Loyalty Pyramid). Ở cấp độ thấp nhất
là những người tiêu dùng không quan tâm gì đến các nhãn hiệu (no brand
loyalty), đối với họ, các nhãn hiệu là không khác biệt gì nhau và họ dễ dàng
thay đổi nhãn hiệu tùy theo giá cả (switchers). Ở cấp độ thứ hai, người tiêu
dùng thỏa mãn với nhãn hiệu và có thể gọi là khách hàng quen biết (habitual
buyers), chủ yếu do họ không có gì không ưng ý đối với sản phẩm mang
nhãn, nhưng chỉ cần nhãn hiệu cạnh tranh đưa ra được một lý do đáng chú ý
(mà không cần phải có bất kỳ một nỗ lực nào) thì họ có thể đổi nhãn. Ở cấp
độ thứ ba cũng là các khách hàng quen biết, nhưng muốn họ đổi nhãn, nhãn
hiệu cạnh tranh phải gánh chịu một khoản chi phí thuyết phục nhất định
(switching cost). Ở cấp độ thứ tư là các khách hàng ưa thích nhãn hiệu nhờ
vào chất lượng cảm thụ của nhãn hiệu hay một số ấn tượng liên kết nào đó,
thường đi kèm với quá trình sử dụng nhãn hiệu khá lâu dài, được gọi là các
khách hàng thân thiết (friends of the brand). Ở cấp độ cao nhất là các khách
hàng tận tâm với nhãn hiệu (committed customers), họ cảm thấy có sự tự hào
lợi thế công nghệ nếu tập trung thành công vào việc áp dụng và khai thác liên
tục các kỹ thuật mới nhằm tạo thế đột phá cho sản phẩm mang nhãn, hoặc lợi
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
thế thương mại qua hoạt động kinh doanh lâu năm hay tranh thủ hợp lý các
thời cơ thị trường để chi phối hoặc khai thác tốt kênh phân phối. Cuối cùng,
lợi thế tài chính nhờ tích lũy hay khai thác được các nguồn đầu tư dồi dào là
một yếu tố hết sức quan trọng tạo khả năng tận dụng tốt hơn mọi thời cơ so
với đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, trong khi tên thương mại, nhãn hiệu và biểu tượng kinh doanh
(logo) thiên về hướng phản ánh mặt chủ quan của doanh nghiệp: xuất xứ, quy
mô, tầm cỡ, sức mạnh chuyên môn, phong cách kinh doanh…; thì trong quá
trình được đính lên sản phẩm để đi vào thương trường, một sản phẩm mang
nhãn lại phải tập trung theo hướng tìm hiểu, đáp ứng và thể hiện mặt khách
quan trong mối quan hệ với khách hàng: nhu cầu, ước muốn, nét tính cách của
người tiêu dùng mục tiêu và yêu cầu khác biệt hóa so với nhãn hiệu của đối
thủ cạnh tranh. Tùy theo cấu trúc phong cách kinh doanh của doanh nghiệp,
các giá trị và các nét tính cách của nhãn hiệu/lô-gô và các giá trị và các nét
tính cách của nhãn hiệu có thể hội tụ (trong phong cách đa diện), trùng nhau
(trong phong cách nhất thể) hay phân kỳ và tách biệt (trong phong cách đa
nhãn).
1.2. Tại sao cần bảo hộ nhãn hiệu
Trong quá trình kinh doanh, các DN trên toàn thế giới đều đã nhất trí:
Nhãn hiệu là một tài sản của DN, gắn chặt nhất với quá trình lưu thông hàng
hoá. Thông qua nhãn hiệu, nhà sản xuất có thể quảng cáo về sản phẩm, về bản
thân DN mình thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Nhãn hiệu sẽ
đại diện cho danh tiếng, chất lượng và uy tín của sản phẩm, của DN sản xuất
ra sản phẩm đó: Khi nhắc tới IBM, người ta biết tới một DN hàng đầu cung
cấp các máy chủ chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, nhãn hiệu sẽ giúp người
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với các tập đoàn xuyên
quốc gia có quy mô càng lớn, thì giá trị của các nhãn hiệu càng cao và nếu có
thể định giá được thì cũng phải vào khoảng vài chục tỷ USD. Bà An dẫn
chứng ra một số nhãn hiệu có giá trị vào loại cao đã được Tạp chí Business
Week công bố, như Coca - Cola khoảng 67,52 tỷ USD, Microsoft gần 60 tỷ
USD, IBM 53 tỷ USD, Nokia 26,5 tỷ USD, Mc Donald’s 26 tỷ USD, Toyota
24,9 tỷ USD... (Nguồn: Cục SHTT).
Đối với những tập đoàn trên, việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu độc
quyền nhãn hiệu là điều tối quan trọng, giúp họ có thể tránh được bất cứ sự
xâm phạm nào về bản quyền sử dụng, cũng như giúp họ giải quyết hữu hiệu
trong trường hợp bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. “Đây là một yêu cầu hết
sức quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập, bởi khi doanh
nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường, một khi đã có được thế vững
chắc trong lòng người tiêu dùng, chắc chắn nhãn hiệu của doanh nghiệp đó sẽ
là mục tiêu "nhòm ngó" của nhiều nhà sản xuất của nước sở tại”.
Nếu chậm chân không đăng ký kịp thời nhãn hiệu thì DN dễ bị mất nhãn
hiệu, mất thị trường, do đó nhiều kế hoạch kinh doanh của DN bị phá sản và
hoạt động xuất nhập khẩu của DN sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong trường hợp
mất nhãn hiệu mà hàng chưa xuất vào thị trường thì việc xuất hàng sẽ không
thực hiện được. DN phải thay đổi nhãn hiệu khác nếu muốn tiếp tục xuất
khẩu, do đó tốn thêm chi phí. Nếu hàng đang xuất vào thị trường đó thì người
chiếm đoạt nhãn hiệu có thể yêu cầu pháp luật can thiệp và hàng hoá nhập
khẩu có thể bị bắt giữ, chủ hàng bị xử phạt, mất thị phần. Đó là chưa kể đến
việc bị làm hàng giả, hàng nhái, ảnh hưởng đến uy tín DN.
Việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa mang tính lãnh thổ: nhãn hiệu đăng ký ở
nứơc nào thì chỉ bảo hộ trên lãnh thổ nước đó. Muốn mở rộng phạm vi bảo hộ
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Công ước tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa thuận đa phương và
song phương khác về bảo hộ quyền SHCN. Công ước đề ra nguyên tắc “đối
xử quốc gia” (Điều 2) mà theo đó, công dân Việt Nam có quyền được hưởng
các điều kiện thuận lợi như công dân của bất kỳ một nước thành viên nào
khác trong việc bảo hộ nhãn hiệu (NH) tại nước đó, miễn là tuân thủ các điều
kiện và thủ tục quy định đối với công dân của nước tương ứng
Công ước cũng đề ra nguyên tắc được hưởng quyền ưu tiên trong việc đăng
ký mở rộng thị trường quốc tế (các Khoản A,B,C Điều 4) theo đó, nếu một công
dân Việt Nam đã nộp đơn đầu tiên để đăng ký NH tại bất kỳ một trong các nước
thành viên nào của Công ước, trong thời hạn 6 tháng tiếp theo, nếu tiếp tục nộp
đơn đăng ký NH đó vào các nước thành viên khác, sẽ có quyền yêu cầu các quốc
gia liên quan xem ngày ưu tiên của các đơn nộp tiếp sau này sẽ là ngày đã nộp
đơn đầu tiên. Đặc biệt, Công ước quan tâm đến việc bảo hộ các NH nổi tiếng
(Điều 6 bis), theo đó, các nước thành viên có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ
đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng một NH có tính sao chép, bắt chước, phiên dịch
... và có khả năng gây nhầm lẫn với một NH đã được cơ quan có thẩm quyền coi
là NH nổi tiếng tại nước đó.
Thoả ước Madrid và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước :
Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng
ký quốc tế Nhãn hiệu hàng hoá tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí
tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva. Theo Thoả ước này thì công dân của một nước
thành viên của Thoả ước muốn bảo hộ một nhãn hiệu hàng hoá của mình tại
nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn hiệu hàng hoá của
mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan Sở
hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng
quốc tế của WIPO. Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ
rõ những nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
như hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa
chọn. Khi cơ quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý
bảo hộ thì nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ
quan này đã đăng ký.
Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi lẽ
một thủ tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những
thay đổi sau này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn
hiệu.
Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức
tạp đối với việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó
khăn cho những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các
nhãn hiệu của họ trên thế giới. Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng
ký trên phạm vi quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước
khi chuyển nhượng một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết. Việc
gia hạn đăng ký cũng chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản. Việc đăng ký trên
phạm vi quốc tế có thời hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm.
Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia
nữa nếu họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc
nếu có thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư.
Nếu việc đăng ký cơ bản - hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký quốc tế
- bị hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid sẽ tạo
điều kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một loạt các
hồ sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn. Các đơn đăng ký
này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế ban đầu
ở mỗi nước. Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên, ngay
cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế.
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
Hiệp định TRIPS
1/1/2006, và có khả năng được kéo dài thời kỳ chuyển giao nếu có yêu cầu.
Các quốc gia đang phát triển chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh sáng
chế đối với một số lĩnh vực công nghệ nhất định tính đến thời điểm xin gia
nhập thì được phép kéo dài thêm năm năm nữa, tức là đến ngày 1/1/2005, để
ban hành quy định bảo hộ như vậy.
Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại của WTO tại Doha năm 2001, các
quốc gia kém phát triển đã được gia hạn thêm 10 năm để thực thi các quy
định về bảo hộ bằng phát minh sáng chế và “bí mật thương mại” trong khuôn
khổ của TRIPS vì những quy định này có liên quan đến dược phẩm.
Tuy nhiên, do Hiệp định TRIPS đã trải qua 10 năm nên không thể
bao hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề về Internet và tác
quyền kỹ thuật số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa
những chuẩn mực toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ. Hiệp định này mới
chỉ đặt nền tảng cho việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa.
Kể từ khi ký kết Hiệp định TRIPS, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới đã
giải quyết nhiều vấn đề tác quyền kỹ thuật số trong các hiệp định về Internet,
cụ thể Hiệp định Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp định về Biểu diễn
và Ghi âm của WIPO (WPPT).
Yêu cầu:
Nhìn chung, hiện có 9 loại tài sản trí tuệ đang được thừa nhận và bảo hộ
bởi các công ước quốc tế. Đó là:
- Các phát minh sáng chế trong lĩnh vực chế tạo (Công ước Pari; Hiệp
ước hợp tác về phát minh sáng chế; Hiệp ước Buđapét);
- Các giải pháp hữu ích như các thiết kế chức năng trong lĩnh vực chế tạo
(Công ước Pari);
- Nhãn hiệu thương mại phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các doanh
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như
Bình
nghiệp khác nhau (Công ước Pari; Hiệp định Mađrít; Hiệp ước về Luật nhãn
số ngoại lệ nhất định đối với các quyền liên quan đến một nhãn hiệu hàng
hoá, chẳng hạn như sử dụng các thuật ngữ mang tính mô tả với mục đích lành
mạnh, với điều kiện những ngoại lệ này không làm tổn hại đến lợi ích hợp
pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá.
Các thành viên của WTO có thể quy định các điều kiện cấp Lixăng và
chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hoá, trong đó không được quy định việc cấp
lixăng không tự nguyện và chủ sở hưu nhãn hiệu hàng hoá đã đăng kí có
quyền chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hoá đó có hoặc không kèm theo việc
chuyển nhượng cơ sở kinh doanh mang nhãn hiệu hàng hoá đó.
Thời hạn bảo hộ một nhãn hiệu hàng háo là không dưới 7 năm và có
thể được gia hạn với số lần không hạn chế.
Một mặt nhấn mạnh sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có
hiệu quả và toàn diện quyền SHTT, mặt khác muốn bảo đảm rằng những biện
pháp và thủ tục thực thi quyền SHTT không trở thành các chướng ngại cho
hoạt động thương mại quốc tế, đã đưa ra những quy định tối thiểu mà mỗi
quốc gia thành viên đều phải tuân thủ, đặc biệt nhấn mạnh các thủ tục và các
biện pháp chế tài dân sự, hành chính và hình sự đối với các hành vi xâm phạm
quyền, kiểm soát biên giới về SHTT, ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp liên
quan đến SHTT giữa các nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới
Hiệp ước về luật nhãn hiệu
Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT), được thông qua ngày 27/10/1994, đã
có hiệu lực ngày 1/8/1996. Tính đến ngày 1/7/2005, 33 quốc gia, trong đó có
Hoa Kỳ, đã tham gia hiệp định. TLT được ban hành để đơn giản hóa các thủ
tục xin cấp phép, đăng ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc
gia khác nhau. TLT đã hài hòa thủ tục của các cơ quan cấp phép đăng ký nhãn
hiệu của các quốc gia khác nhau thông qua việc quy định những yêu cầu tối
Nguyễn Thị Trà Giang Kinh tế quốc tế 46