Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại thị trường Hoa Kỳ - Pdf 76

Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Lời nói đầu
Chưa bao giờ vấn đề thương hiệu lại trở thành một chủ đề thời sự
được các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội thương
mại quan tâm một cách đặc biệt như hiện nay. Nhiều hội thảo, hội nghị đã
được tổ chức, hàng trăm bài báo và cả những trang website thường xuyên
đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề này.
Một trong những khía cạnh được đề cập nhiều nhất có lẽ là tình trạng
các doanh nghiệp Việt Nam bị mất thương hiệu hay nhãn hiệu hàng hoá ở thị
trường nước ngoài, đặc biệt ở thị trường Hoa Kỳ. Chúng ta có thể kể ra
hàng loạt các vụ tranh chấp thương hiệu gần đây như cuộc chiến Catfish
giữa các nhà xuất khẩu cá Tra, cá Basa Việt Nam với Hiệp hội các chủ trại
cá nheo Mỹ (CFA) về việc sử dụng thương hiệu “Catfish” cho các loại cá
nói trên của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ; cuộc chiến của Trung Nguyên đòi
lại thương hiệu từ chính đối tác là Rice Field Corp do họ đã đăng ký nhãn
hiệu này trước tại Mỹ; các nhãn hiệu Vinataba, Vinatea đều đã bị đăng ký
sở hữu tại nhiều nước trong đó có Mỹ.
Những sự kiện đó xảy ra ngay khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
được ký kết và bắt đầu được triển khai đã nhấn mạnh với chúng ta rằng:


p
Vi

t Nam trong vi

c
đă
ng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i M

?
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã mạnh dạn
chọn đề tài: “
Đă
ng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t



nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa
K

Chương III: Gi

i pháp nâng cao hi

u qu


đă
ng ký nhãn hi

u hàng
hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa K

hoá dịch vụ được lưu thông. Mỗi loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ lại được
nhiều hãng, nhiều công ty của nhiều nước khác nhau trên thế giới sản xuất
ra, và mỗi loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ này lại có những chất lượng rất
không giống nhau. Tuy vậy, người tiêu dùng trên thế giới lại có thể phân biệt
được sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của những công ty khác nhau căn cứ
vào nhãn hiệu hàng hoá của sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó. Thí dụ, ô tô là
mặt hàng được nhiều công ty của nhiều nước sản xuất, nhưng người tiêu
dùng có thể phân biệt được chất lượng của từng loại ô tô mang các thương
hiệu khác nhau và xác định được chủng loại xe nào là phù hợp với nhu cầu
của mình. Nhãn hiệu hàng hoá chính là chỉ dẫn ban đầu giúp người tiêu dùng
phân biệt được sản phẩm hàng hoá dịch vụ của những nhà sản xuất kinh
doanh khác nhau và đánh giá được phần nào chất lượng của sản phẩm hàng
hoá dịch vụ. Vậy nhãn hiệu hàng hoá là gì?
1.1 Định nghĩa nhãn hiệu hàng hoá
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
3
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Trong thực tế, mỗi quốc gia trên thế giới đều có quy định khác nhau về

t h

p nào c

a nh

ng d

u hi

u có kh

n
ă
ng phân bi

t
hàng hoá ho

c d

ch v

c

a m

t doanh nghi

p này v

t nh
ư
tên ng
ườ
i, ch

cái, ch

s

, y
ế
u t

hình và s

k
ế
t h

p màu s

c
c
ũ
ng nh
ư
s

k

vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hay dịch vụ của một doanh nghiệp
khác. Dấu hiệu có thể là chữ số, chữ cái, tên người, yếu tố hình và sự kết
hợp màu sắc.
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
4
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Cũng trên tinh thần của Hiệp định TRIPS, tại Điều 785 Mục I Chương
II Phần VI của Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 đã ghi rõ: “Nhãn hi

u hàng
hoá là nh

ng d

u hi

u dùng
để

nh ho

c s

k
ế
t h

p các y
ế
u t


đ
ó
đượ
c th

hi

n b

ng m

t ho

c nhi

u
màu s



đ
ó nh

m phân bi

t
hàng hoá c

a m

t ng
ườ
i cung c

p v

i hàng hoá c

a nh

ng ng
ườ
i cung c

p
khác. Nhãn hi

u hàng hoá có th

u chúng
tho

mãn các yêu c

u c

a m

t nhãn hi

u (certification marks).
Như vậy, luật của các nước đều thống nhất rằng nhãn hiệu hàng hoá
bao gồm cả tên nhãn hiệu (brand name) và dấu hiệu của nhãn hiệu (brand
mark)
1
. Tên nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được như:
“Dove”, “Tiger”... Còn dấu hiệu của nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà
ta có thể nhận biết được, những không thể đọc được, ví dụ như biểu tượng,
hình vẽ, màu sắc, hay kiểu chữ đặc thù. Ví dụ như hình ảnh con chim bồ
câu là biểu tượng cho sản phẩm Dove, con hổ vàng là biểu tượng cho bia
Tiger hay hình ảnh ba hình thoi chụm vào nhau là biểu tượng cho ô tô của
hãng Mitsubishi...
Việc gắn tên nhãn hiệu hiện nay đã phổ biến rộng rãi đến mức hầu
như bất kỳ hàng hoá nào cũng đều có nhãn hiệu. Ngoài ra, các nước còn có
xu hướng mở rộng việc bảo hộ đối với các yếu tố cấu thành nhãn hiệu
nhằm nâng cao tính khác biệt của sản phẩm đến mức tối đa có thể. Bất kỳ
1
Theo: “Marketing c
ă

ng m

i (trademark) bao g

m nh

ng t

ng

,
tên g

i, bi

u t
ượ
ng hay b

t k

s

k
ế
t h

p nào gi

a nh

ườ
i bán v

i nhau và
để
xác
đị
nh ngu

n c

a hàng hoá
đ
ó”.
Như vậy, khi hàng hoá được lưu thông trên thị trường thì nhãn hiệu
hàng hoá trở thành nhãn hiệu thương mại. Nếu nhãn hiệu thương mại được
đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thì người chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại
đó dưới sự bảo hộ của luật pháp. Điều đó có nghĩa là người chủ sở hữu có
thể sử dụng, chuyển nhượng, hoặc bán nhãn hiệu thương mại, hay nói cách
khác thì chủ sở hữu có thể định giá đối với nhãn hiệu thương mại của mình.
Với ý nghĩa đó, khái niệm thương hiệu của hàng hoá ra đời và được hiểu
là nhãn hiệu hàng hoá sau khi đã được thương mại hoá, được mua bán trên
thị trường. Khi đó, nhãn hiệu sẽ được gắn thêm biểu tượng đ (registered
trademark - nhãn hiệu thương mại đã được đăng ký).
Ngoài khía cạnh thương mại, thương hiệu của một sản phẩm còn bao
hàm nhiều giá trị khác bởi thương hiệu là cảm nhận tổng thể về chất lượng,
uy tín và giá trị đằng sau một cái tên, một cái logo của doanh nghiệp. Do
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
6

hữu công nghiệp thì nhãn hiệu liên kết được hiểu là “các nhãn hiệu hàng
hoá tương tự nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm,
dịch vụ cùng loại, tương tự nhau hay có liên quan đến nhau, và các nhãn
hiệu hàng hoá trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản
phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”.
2.2 Nhãn hiệu tập thể
Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định như sau: “Nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu hàng hoá được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể
khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo
quy chế do tập thể đó quy định.”
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng nêu lên rằng nhãn hiệu tập thể là
nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của một tổ chức, một nhóm, ví dụ
như Saigon Times Group hay Coop Mart,...
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
7
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
2.3 Nhãn hiệu nổi tiếng
“Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
cao”.
3. Điều kiện đối với các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu của một hàng hoá, dịch vụ là tên gọi tượng trưng của hàng
hóa dịch vụ đó. Cách thiết kế nhãn hiệu cho một loại hàng hoá dịch vụ rất
phong phú. Không thể kể hết được các loại hình của các loại nhãn hiệu,
song điều đó không có nghĩa là cấu tạo của nhãn hiệu có thể tùy tiện.
3.1 Các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ
Phù hợp với tập quán thương mại quốc tế, trong Khoản 1 Điều 6 Nghị
định 63/1996/NĐ-CP đã quy định rõ các dấu hiệu được công nhận dùng làm
nhãn hiệu hàng hoá nếu đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết
hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể độc đáo, dễ nhận biết;
b) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam (kể cả các
nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam tham gia);
c) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu hàng hoá nêu trong đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá đã nộp cho Cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả các
đơn về nhãn hiệu hàng hoá được nộp theo các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam tham gia);

3.2 Các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá không được bảo hộ
Khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/1996/NĐ-CP đã quy định những dấu
hiệu sau không được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu hàng hoá:
a) dấu hiệu không có khả năng phân biệt, như các hình và hình hình
học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như
một từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc ngôn ngữ không thông dụng trừ trường
hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách
rộng rãi;
b) dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường
của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường
xuyên, nhiều người biết đến;
c) dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,
số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang tính mô
tả hàng hoá, dịch vụ và xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ;
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
10
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
d) dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đảo


th
ươ
ng hi

u. Danh ti
ế
ng -L

i nhu

n” - Viện nghiên cứu và đào tạo về quản
lý, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2003
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
11
Hình 1: Chu trình ra quy
ế
t
đị
nh mua s

m c

a khách hàng
Đánh giá
các lựa chọn
Quyết định
mua
Hành vi sau
khi mua

một kiểu cam kết hay giao kèo. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành
của mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng bằng cách nào đó, thương
hiệu sẽ đáp lại và mang lại lợi ích cho họ thông qua tính năng hợp lý của
sản phẩm, giá cả phù hợp, các chương trình tiếp thị, khuyến mại và các hỗ
trợ khác. Nếu khách hàng nhận thấy những ưu điểm và lợi ích từ việc mua
thương hiệu cũng như họ cảm thấy thoả mãn khi tiêu thụ sản phẩm thì
khách hàng có thể tiếp tục mua sản phẩm thương hiệu đó.
Thực chất, các lợi ích này được khách hàng cảm nhận một cách rất đa
dạng và phong phú. Các thương hiệu có thể xem như một biểu tượng mà
khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân. Một số thương hiệu gắn liền với
một con người hoặc một mẫu người nào đó để phản ánh những giá trị khác
nhau hoặc những nét khác nhau. Do vậy tiêu thụ sản phẩm được gắn với
những thương hiệu này là một cách để khách hàng có thể giao tiếp với
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
12
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
những người khác, thậm chí với chính bản thân họ - tuýp người mà họ đang
hoặc muốn trở thành. Chẳng hạn, các khách hàng trẻ tuổi trở nên sành điệu,

Thương hiệu có thể làm giảm các loại rủi ro khi quyết định mua và tiêu
dùng một sản phẩm như:
R

i ro ch

c n
ă
ng: Sản phẩm không được như mong muốn.
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
13
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
R

i ro v

t ch


Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Như vậy, với khách hàng, ý nghĩa đặc biệt của thương hiệu là có thể
làm thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của họ về các sản phẩm. Sản phẩm
giống hệt nhau có thể được khách hàng đánh giá khác nhau tùy thuộc vào sự
khác biệt và uy tín của thương hiệu hoặc các thuộc tính của sản phẩm. Với
người tiêu dùng, thương hiệu làm cho sinh hoạt hàng ngày cũng như cuộc
sống của họ trở nên thuận tiện và phong phú hơn.
4.2 Đối với doanh nghiệp
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
15
Khách hàng
Xác định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm
Quy trách nhiệm cho nhà sản xuất sản phẩm
Giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng
Tiết kiệm chi phí tìm kiếm
Khẳng định giá trị bản thân
Yên tâm về chất lượng
Nhà sản xuất

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
Đối với các doanh nghiệp, thương hiệu đóng những vai trò quan trọng.
Về cơ bản, thương hiệu đáp ứng mục đích nhận diện để đơn giản hóa việc
xử lý sản phẩm hoặc truy tìm nguồn gốc sản phẩm cho công ty. Về mặt hoạt
động, thương hiệu giúp tổ chức kiểm kê, tính toán và thực hiện các ghi chép
khác. Thương hiệu đã được bảo hộ cho phép các doanh nghiệp bảo vệ hợp
pháp những đặc điểm và/hoặc hình thức đặc trưng, riêng có của sản phẩm.
Điều đó đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể đầu tư một cách an toàn cho
thương hiệu và thu lợi nhuận từ một tài sản đáng giá.
Ngoài việc mang lại cho sản phẩm những đặc điểm và thuộc tính riêng
có thể phân biệt với các sản phẩm khác, thương hiệu cũng có thể cam kết
một tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của sản phẩm. Lòng trung thành
của khách hàng đối với thương hiệu cho phép các doanh nghiệp dự báo và
kiểm soát thị trường. Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho
các doanh nghiệp khác muốn xâm nhập thị trường. Mặc dù các quy trình sản
xuất và thiết kế sản phẩm có thể dễ dàng bị sao chép lại, nhưng những ấn
tượng ăn sâu trong đầu người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm thì
không thể dễ dàng sao chép lại như vậy. Về khía cạnh này, thương hiệu có
thể được coi như một cách thức hữu hiệu để đảm bảo lợi thế cạnh tranh, là
tài sản vô giá đối với các doanh nghiệp. Chính vì thế, các công ty và các tập
đoàn lớn trên thế giới đều đưa ra khẩu hiệu: “The Brand’s the Thing” - “Có
thương hiệu là có tất cả”.

doanh nghiệp.Việc sử dụng đúng đắn chức năng của thương hiệu theo
đúng pháp luật sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển
sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc
sống, mọi việc không hoàn toàn diễn ra một cách lành mạnh như vậy. Để
đạt được lợi nhuận nhanh chóng và bằng chi phí rẻ nhất, người ta đã làm
giả, hoặc làm nhái theo các thương hiệu được ưa chuộng, mặc dù các loại
này có chất lượng thấp hơn hàng thật, thậm chí hoàn toàn không có chức
năng sử dụng. Điều này đã xảy ra từ xa xưa, khi bắt đầu xuất hiện việc trao
đổi hàng hoá trên trái đất và cùng với sự phát triển của xã hội, tệ nạn đó
ngày càng phát triển về quy mô và độ tinh vi. Các vụ tranh chấp, kiện cáo về
nhãn hiệu tại các tòa án ngày càng nhiều.
Ban đầu, vấn đề mà các toà án cần phải phán quyết là quyền sở hữu
đối với nhãn hiệu thuộc về ai. Trong các trường hợp này, nguyên tắc thường
được áp dụng là: quyền sở hữu sẽ thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn
hiệu hàng hoá đó. Để xác định ai là người sử dụng đầu tiên, các toà án lập
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
17
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
2. Tác dụng của việc đăng ký nhãn hiệu trong thương mại quốc tế
2.1 Đối với các doanh nghiệp thương mại nói chung
2.1.1 Chống lại hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh
Động cơ làm giàu bất hợp pháp, kiến thức pháp luật hạn chế cộng với
những kẽ hở trong khung pháp luật đã dẫn đến một thực tế: Hàng giả hầu
như đã len lỏi vào tận các ngóc ngách của xã hội hay nói cách khác là không
có lĩnh vực nào, ngành hàng nào mà không có đồ giả. Ngay khi một hàng
hoá có uy tín nhất định trên thị trường thì lập tức xuất hiện một loạt các
thương hiệu tương tự, na ná nhằm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Không chỉ vậy, nhiều khi các đối thủ cạnh tranh còn sao chép toàn bộ
thương hiệu, cả nhãn sản phẩm của doanh nghiệp để gắn lên hàng hoá của
họ. Không chỉ những hàng hoá tiêu dùng thông thường bị làm giả, còn nhiều
thứ giả khác mà hậu quả gây ra cho người tiêu dùng khó lường hết được
như dược phẩm, thực phẩm, vật liệu xây dựng,... Các loại hàng giả đó xuất
hiện trong mọi lĩnh vực của hoạt động thương mại, từ sản xuất, tiêu thụ
hàng hoá và dịch vụ trong nước đến hàng hoá xuất nhập khẩu.
Hiện nay, nạn làm hàng giả đang chiếm tỷ lệ lớn, tới 5- 7% giá trị
thương mại toàn cầu, hàng năm gây thiệt hại về mặt kinh tế khoảng 2-3 tỷ
Euro


o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
tỷ đồng trong một năm. Không riêng taxi Mai Linh mà nhiều hãng taxi có uy
tín khác cũng bị treo biển giả như Festival, Vina, Saigon Tourist,...
Nạn hàng giả ngày càng trở thành nỗi ám ảnh của các doanh nghiệp làm
ăn chân chính, là một trong những thách thức lớn trên con đường khẳng
định uy tín và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Trước tình hình đó, việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá chính là công cụ
hiệu quả để chống lại hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh. Một
nhãn hiệu hàng hoá đã được pháp luật công nhận bảo hộ sẽ cho phép doanh
nghiệp căn cứ vào các công cụ pháp lý có liên quan để bảo vệ quyền lợi của
mình, ngăn chặn có hiệu quả hành vi vi phạm nhãn hiệu hàng hoá đã được
bảo hộ. Vì vậy, để tránh rơi vào tình trạng “ mất bò mới lo làm chuồng”, hay
việc đổ tiền bạc, thời gian cho các vụ kiện tụng, các doanh nghiệp hãy biến
việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thương mại thành việc làm đầu tiên mỗi khi
có ý định gây dựng một nhãn hiệu hay một mặt hàng nào đó bởi bảo hộ
thương hiệu là bảo vệ chính mình.
2.1.2 Tạo khả năng độc quyền khai thác thương hiệu
Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là cho phép chủ sở hữu được
độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ nhằm mục đích

nghệ
Nhờ giá trị có được từ tiềm năng khai thác thương mại của thương
hiệu trên thị trường mà quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá được xác định giá
trị và trở thành tài sản góp vốn khi liên doanh, liên kết sản xuất, phân phối
sản phẩm. Một số nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam đã được xác định
giá trị tới vài triệu USD và dùng để góp vốn liên doanh như nhãn hiệu Viso
cho sản phẩm bột giặt, P/S cho kem đánh răng,...
Không chỉ được định giá cao trong liên doanh, liên kết, quyền sở hữu
nhãn hiệu hàng hoá còn gắn liền với việc chuyển giao công nghệ. ở Việt
Nam, rất nhiều trường hợp người nước ngoài đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
hàng hoá nhằm mục đích chào bán quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá mà
họ được bảo hộ cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh của Việt Nam (mua
bán Lixăng). Hiện nay, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo Lixăng đã
bắt đầu hình thành và đang trở thành một biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy
sản xuất, đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất
khẩu ở các nước, nhất là ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan.
Năm 1997, số hợp đồng lixăng đã được đăng ký là 221, trong đó có 26
hợp đồng được ký giữa các doanh nghiệp Việt Nam, 23 hợp đồng được ký
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
21
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th


ng sau:
2.1.4 Thâm nhập thị trường nước ngoài dễ dàng
Nền kinh tế toàn cầu đang tiến đến một sân chơi chung với luật lệ hài
hoà và thống nhất. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hoạt động
xuất nhập khẩu, hoạt động thương mại quốc tế ngày càng trở nên thông
thoáng. Tuy nhiên, để bảo hộ nền sản xuất nội địa, các nước đều dựng lên
các tiêu chuẩn khéo léo nhằm hạn chế sự xâm nhập của hàng hoá nước
ngoài. Xuất phát từ thực tế đó cộng với ý nghĩa quan trọng của bảo hộ
thương hiệu mà quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá trở thành một trong
những rào cản để thông quan hàng hoá. Các Giấy chứng nhận thương hiệu
chỉ có giá trị trong phạm vi một lãnh thổ nhất định, thông thường là lãnh thổ
quốc gia. Khi xuất, nhập hàng hoá vào một lãnh thổ quốc gia khác, nếu các
doanh nghiệp không quan tâm đến việc mở rộng phạm vi bảo hộ của văn
bằng hoặc đăng ký bảo hộ thương hiệu của mình trên lãnh thổ quốc gia đó,
việc lưu thông hàng hoá có thể bị ngăn cấm hoặc chỉ suôn sẻ sau khi doanh
nghiệp đã tốn nhiều công sức và chi phí. Khi đó, cơ hội kinh doanh và các
khoản lợi nhuận có thể đã tuột khỏi tay doanh nghiệp.
2.1.5 Đứng vững trước rào cản cạnh tranh không lành mạnh tại
thị trường nước ngoài
4
Theo C

c S

h

u công nghi

p Vi


của một hành lang pháp lý riêng. Quy tắc “đào thải” sẽ dễ dàng loại bỏ
doanh nghiệp nào lơ là với những quy tắc riêng đó. Bởi vậy, thích ứng và
đối phó thành công với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trên thị
trường ngoài nước là một thách thức với doanh nghiệp ngay cả khi doanh
nghiệp đã tạo dựng được một thương hiệu uy tín với những sản phẩm có
năng lực cạnh tranh cao.
Pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của các nước có thể khác nhau
nhưng đều đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu hợp pháp nhãn
hiệu hàng hoá, đó là quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi bị người khác xâm
phạm, quyền sử dụng nhãn hiệu và quyền chuyển giao quyền sở hữu nhãn
hiệu hàng hoá. Do đó, bảo hộ thương hiệu trong thương mại quốc tế mà cụ
thể là bảo hộ thương hiệu trên các thị trường doanh nghiệp hoạt động hoặc
có ý định kinh doanh là một lá chắn vững chắc bảo vệ doanh nghiệp trước
những đòn tấn công khó lường của các đối thủ cạnh tranh.
2.1.6 Góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã tham gia các Điều ước
quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá. Thay vì phải đăng ký bảo hộ thương
hiệu tại mỗi nước mà doanh nghiệp có ý định kinh doanh, doanh nghiệp của
các nước thành viên chỉ cần đăng ký tại một địa điểm quy định và Giấy
chứng nhận bảo hộ thương hiệu sẽ có giá trị trong phạm vi lãnh thổ mà Điều
ước quốc tế đó có hiệu lực. Ngoài ra, các Điều ước còn cho phép được bảo
hộ nhãn hiệu hàng hoá ngay cả ở những nước mà doanh nghiệp chưa sẵn
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
23
Đăng ký b

o h

nhãn hi


2.2.2 Khắc phục hiểu biết hạn chế về thị trường đối tác
Tâm lý làm ăn nhỏ hẹp, làm riêng lẻ, ngày nào biết ngày đó cộng với
khả năng tài chính hạn chế khiến cho hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam
Chử Thị Minh Hiếu - A9/K38/KTNT
24
Đăng ký b

o h

nhãn hi

u hàng hoá t

i th

tr
ườ
ng Hoa Kỳ
rất chậm trong việc tiếp cận thông tin và trì hoãn công việc khảo sát, thăm
dò thị trường đối tác. Trong khi đó, Nhà nước ta cũng như bản thân các
doanh nghiệp đều hy vọng tiếp cận với các thị trường xuất khẩu mạnh như
Mỹ, Nhật, Nga, EU,... Chiến đấu được trên những thị trường rộng lớn đó
chỉ với lượng thông tin rất hạn chế là một thách thức lớn với các doanh
nghiệp Việt Nam. Một trong những giải pháp cho vấn đề này chính là đăng
ký bảo hộ thương hiệu - công cụ hữu hiệu đảm bảo một môi trường lành
mạnh cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên mọi thị trường.
2.2.3 Tạo chỗ đứng và nâng cao vị thế của hàng Việt Nam
Hàng Việt Nam hiện xuất khẩu chủ yếu phải qua nước thứ ba, dưới
thương hiệu của nước trung gian. Thế giới chủ yếu biết đến Việt Nam như
là một nước xuất khẩu nông sản nhưng thế giới không thể nhận biết đâu là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status