Truyện Kiều - sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du potx - Pdf 12

Truyện Kiều - sáng tạo nghệ thuật của
Nguyễn Du TRUYỆN KIỀU - SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN DU
(Xét về thể loại, bố cục và kết cấu truyện)
1.1-Thể loại: Kim Vân Kiều truyện là một cuốn tiểu thuyết “tài tử giai nhân”,
viết theo lối chương hồi . Kim Vân Kiều truyện gồm 4 quyển , 20 hồi, đầu mỗi hồi có
câu văn biền ngẫu, mỗi vế từ 7 đến 11 chữ. Mỗi hồi kết thúc ở chỗ sự việc hoặc tình ý
nhân vật đang khai triển hay đến chỗ thắt nút hoặc đạt đến chỗ bức xúc hay cao trào.
Điều đó nuôi dưỡng ở độc giả sự hồi hộp, sự hứng thú và sự chờ đợi. Ưu thế của tiểu
thuyết viết bằng văn xuôi như Kim Vân Kiều truyện là ở chỗ nó có thể dung nạp một
số lượng lớn nhân vật, sự kiện trong một cốt truyện phức tạp, được diễn đạt bằng một
thứ ngôn ngữ gần sát với ngôn ngữ đời sống (bạch thoại). Kim Vân Kiều truyện với
quy mô của loại tiểu thuyết chương hồi, với đề tài phụ nữ, có khả năng bao quát rộng
rãi hiện thực xã hội, có khả năng phản ánh nhiều mặt trong số phận chìm nổi của con
người trong xã hội đầy mâu thuẫn, đầy biến động khi chế độ phong kiến đang đi vào
con đường suy thoái, có khả năng thể hiện nhiều mặt trong đời sống tư tưởng, tình
cảm cũng đầy mâu thuẫn phức tạp của con người. Kim Thánh Thán khi đề tựa cho tác
phẩm này có nói công của Thanh Tâm Tài Nhân “ không đặt dưới bà Nữ Oa” (!).
Chọn cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân để làm cơ sở viết nên tác phẩm của
mình, chắc hẳn Nguyễn Du đã tâm đắc nhiều điều trong thế giới nghệ thuật của Kim
Vân Kiều truyện. Trong Truyện Kiều,Nguyễn Du nói rõ: “ Cảo thơm lần giở trước
đèn/Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”. Có nghĩa là Nguyễn Du coi tác phẩm của
Thanh Tâm Tài Nhân là một thứ “ cảo thơm”.
Cái làm nên vẻ đẹp có một không hai của Truyện Kiều- mặc dù nó được viết
lại trên cơ sở Kim Vân Kiều truyện - trước hết là ở chỗ Truyện Kiều viết theo thể
loại truyện thơ và với thiên tài của mình, Nguyễn Du nâng thể loại truyện thơ lên

Nguyễn Du đã tạo nên tác phẩm có bố cục, kết cấu chặt chẽ hơn- xét trong toàn cục
cũng như từng bộ phận, bằng các biện pháp sau:
1.2.1- Mỗi một giai đoạn phát triển của cốt truyện ( biến cố) , hoặc tình
tiết hoặc đơn giản hơn một chi tiết tự sự, trạng thái tâm lí ít nhiều quan trọng được
Nguyễn Du thuật lại bằng đoạn thơ tương đối hoàn chỉnh về mặt kết cấu nghĩa là gồm
đủ phần mở đầu, khai triển và kết thúc. Phân tích tỉ mỉ hơn ta thấy bố cục của từng
đoạn văn ấy cũng như của toàn tác phẩm thường theo hình thức ba đoạn: hợp- phân-
hợp ( đối với tả người tả cảnh). Riêng tả tình, Nguyễn Du đưa vào đây bút pháp trữ
tình rất đậm đà làm cho đoạn văn có sắc thái đặc biệt.
Ví dụ đoạn Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích ( từ câu 1033 đến câu 1054):
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giừ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Đặc biệt, phần đời này, trong Kim Vân Kiều truyện chỉ chiếm 1 hồi ( hồi 20: 35
trang / 474 trang truyện chữ Hán), Nguyễn Du đã viết lại thành 526 câu thơ, tức gần
1/6 tác phẩm. Thêm nữa nếu ứng với 3 hồi cuối (18,19,20) trong Kim Vân Kiều
truyện- thể hiện trong 104 trang/474 trang toàn truyện - thì Nguyễn Du viết đến 1024/
3254 câu thơ- gần bằng 1/3 toàn tác phẩm. (Ngược lại, Nguyễn Du, chỉ dùng 20 câu
thơ để viết lại nội dung cả hai hồi 5+6 trong nguyên tác). Điều đó chứng tỏ Nguyễn
Du đã lướt qua, hoặc tô đậm thêm một số tình tiết biến cố so với Kim Vân Kiều truyện
. Đặc biệt Nguyễn Du chú ý nhấn mạnh cái kết thúc có tính bi kịch của cuộc đời Thuý
Kiều, điều mà Xuân Diệu gọi là ‘ bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều”. Ngược
lại Nguyễn Du lướt qua những tình tiết như thủ tục mua Kiều của Mã Giám sinh, cảnh
Tú Bà truyền nghề cho Thuý Kiều, cảnh Thuý Kiều trừng trị bọn người “bạc ác tinh
ma”
1.2.3- Giữa các đoạn văn tác giả đã bỏ nhiều công phu vạch ra mối quan
hệ của chúng bằng những từ ngữ, câu văn rất tài tình.
Ví dụ: Thanh Tâm Tài Nhân chuyển mạch thường dùng lời kể của tác giả để lái
mạch chuyện. Để chuyển từ đoạn giới thiệu hai chị em Kiều sang đoạn giới thiệu Kim
Trọng bằng câu: “ Thôi ta hãy tạm gác câu chuyện hồ cầm của Thuý Kiều để nói sang
chuyện khác.
Nguyên trong vùng có một vị tú sĩ nhà giàu, họ Kim tên Trọng, biểu tự là Thiên
Lí. Trọng có một vẻ mặt đẹp như Phan An, văn tài nhanh ngang Tử Kiến. Trong khi
tuổi mới mười lăm mà lòng đã tơ tưởng đến chuyện gia thất, nay nghe Thuý Kiều tinh
ngón hồ cầm lại thạo thi phú thì ngày đêm ao ước, muốn đặng giáp mặt một lần. Vì
thế nên chàng luôn luôn theo dõi , kể cũng lắm công phu mà chưa có dịp” [18; 65].
Trong khi đó ở Truyện Kiều, Kim trong xuất hiện gần như tình cờ, và chân dung Kim
Trọng được cảm nhận qua hai Kiều:
Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng
Đuề huề lưng túi gió trăng

Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Kiều từ trở gót trướng hoa
Trời vừa gác núi chiêng đà thu không
Gương nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước, cây g bóng sân
Hải đường lả ngọn đông lân
Giọt sương chíu nặng, cành xuân la đà
Chuyện về Thuý Kiều trong đêm đó ở Kim Vân Kiều truyện kết thúc ở chỗ “
Nói xong bà đỡ Thuý Kiều vào giường để hai mẹ con cùng ngủ” nhưng ở Truyện Kiều
kết thúc bằng một đoạn tả cảnh:
“ Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay sang láng giềng
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.
Thanh Tâm Tài Nhân chuyển sang nói về Kim Trọng theo lối thông báo trực
tiếp: “Nói về Kim Trọng, sau khi tạm biệt chị em Thuý Kiều thì ngày đêm tơ tưởng, có
tìm cách để mong lại được giáp mặt hai Kiều ” thì Nguyễn Du khéo léo dùng hai câu
thơ:
“ Cho hay là giống hữu tình
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong
Chàng Kim từ lại thư song
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây”
Câu thơ chuyển đoạn đã nói đúng tình cảnh đôi lứa bước vào mối tình đầu -vừa
của Kim Trọng vừa của Thuý Kiều
1.2.5- Nguyễn Du rất chú ý miêu tả thời gian trôi qua giữa hai biến cố vừa
làm khâu chuyển mạch vừa tạo sự gợi sựphát triển, sự vận động. GS Trần Đình Sử
nhận xét rất tinh tế: “ Nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân ít hoặc không có cảm giác
về thời gian, nhân vật sống lưu lạc mà ít cảm giác lưu lạc” [21; 146]. Nguyễn Du miêu
tả thời gian rất đặc sắc thông qua miêu tả bức tranh thiên nhiên – chỉ bằng một vài nét

Nguyễn Du mô tả bằng sự chuyển vần chậm chạp của thời gian- thời gian mang màu
sắc tâm lí sinh động:
Lần lần ngày gió đêm trăng
Thưa hồng , rậm lục đã chừng xuân qua
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia
Trên hai đường, dưới nữa là hai em
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành
Kim, Kiều “ từ khi đá biết tuổi vàng” phải đợi cho đến khi có cơ hội để gặp lại
nhau thì khoảng thời gian “ mai phục” chờ thời cơ ấy không trôi chùng chình, chậm
chạp làm sao được! Ngòi bút Nguyễn Du là ngòi bút của trái tim nên nói được đầy đủ
lí lẽ của trái tim đôi lứa!
1.2.6- Dùng phép liên hệ: liên hệ giữa tình cảnh của nhân vật này với tình
cảnh của nhân vật khác, lấy ngay tình cảm mình ( Nguyễn Du) làm khâu nối liền.
Nguyễn Du nói tình cảnh của Thuý Kiều ở nhà Hoạn Thư, sau đó nói về tình cảnh
Thúc Sinh:
Lần lần tháng trọn ngày qua
Nỗi gần nào biết đường xa thế này ( tình cảnh Thuý Kiều)
Lâm Tri từ thuở uyên bay
Buồng không, thương kẻ tháng ngày chiếc thân ( tình cảm của tác giả)
Mày ai trăng mới in ngần
Phấn thừa , hương cũ bội phần xót xa (tình cảnh của Thúc Sinh)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status