BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------
HOÀNG THỊ THANH XUÂN
VĂN HÓA TÂM LINH TRONG
“TRUYỆN KIỀU” VÀ “VĂN CHIÊU HỒN” CỦA
NGUYỄN DU Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
góp phần trả lời những câu hỏi trên, cũng như mong muốn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc, vốn đã được lưu truyền hàng trăm năm nay, chúng tôi chọn đề tài “Văn hóa tâm linh trong
Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du” để làm luận vă
n tốt nghiệp cao học văn học Việt
Nam của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Truyện Kiều, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du ra đời và vận động trong một môi trường văn
hóa có những đặc trưng loại hình khác biệt. Đó là một nền văn hóa trung đại với mô hình hai thế
giới, với hệ thống giá trị, với phương thức cảm nhận và tư duy khác chúng ta ngày nay. Bên cạ
nh
thế giới hiện hữu, người xưa hình dung ra một thế giới tâm linh với niềm tin vào sự huyền bí, những
điều kì lạ siêu nhiên. Chính thế giới thứ hai này đã qui định cách nhìn, cách cảm của người xưa
trong đó có tác giả Truyện Kiều và Văn chiêu hồn. Cho nên mục đích mà người viết luận văn hướng
đến là cố gắng chỉ ra, hệ thống lại những bi
ểu hiện của thế giới tâm linh trong các tác phẩm một
cách rõ nét nhất, từ đó thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa tâm linh trong đời sống tinh thần của
người xưa đồng thời cho thấy văn hóa tâm linh có giá trị như thế nào trong thời đại mới.
Khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc tiếp thu truyền thống văn hóa Việt. Từ đó
góp thêm tiếng nói lí giả
i về sức sống lâu bền của hai tác phẩm trong lòng dân tộc.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khoa học luận văn nghiên cứu “Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn
Chiêu hồn của Nguyễn Du”.
Phạm vi khảo sát chủ yếu căn cứ trên cơ sở những ý kiến của các bậc nghiên cứu tiền bối,
chúng tôi chỉ tập trung khai thác thêm ở những vấn đề, những khiá cạnh có liên quan đến đề tài văn
hóa tâm linh trong tác phẩm Truyện Kiều và Văn chiêu hồn.
Về phạm vi tư liệu: ngày nay có quá nhiều văn bản Truyện Kiều và Văn chiêu hồn được lưu
hành trên thị trường, rất khó có thể tìm được cơ sở chính xác. Do đó, để công việc nghiên cứu được
tiến hành thuận lợi, chúng tôi xin chọn văn bản Truyện Kiều và Văn chiêu hồn được in trong cuốn
“Nguyễn Du toàn tập” (tập 2) do Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến và nhi
Tâm linh cũng được Sơn Nam đề cập trong bài “Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn
hóa Việt Nam” [62]. “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa cho tới nay, từ trong truyền
thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những
ca khúc về tổ quốc và cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình
thườ
ng trong cuộc sống”. Tâm linh của con người ngưng đọng trong trí nhớ và con người luôn tâm
niệm, thành kính về điều mình đã tin, đã làm. “Trí nhớ không phải đứng dừng một chỗ, lâu ngày
phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh” [23, tr.130].
Gần với quan niệm tâm linh của hai tác giả trên, có thể nói đến công trình “Tìm hiểu văn
hóa tâm linh Nam Bộ” của Nguyễn Hữu Hiếu [29]. Tác giả chú ý đến văn hóa tâm linh ở khía cạnh
đời thường c
ủa người Việt Nam bộ không theo tôn giáo. “Trong cuộc sống tâm linh đời thường,
niềm tin thiêng liêng phong phú, đa dạng hơn nhiều và đối tượng mà họ đặt niềm tin có khi gần gũi
và thân thiết hơn”. Trên cơ sở tiếp biến văn hóa Chăm, Khmer, Hoa, người Việt có hình thức sinh
hoạt văn hóa tâm linh đa dạng: hiện tượng thờ Phật và thờ Mẫu, hiện tượng đồng bóng... đặc biệt là
sinh hoạt tâm linh tạ
i gia.
Hồ Bá Thâm trong bài viết “Tín ngưỡng dân gian- một lĩnh vực trong đời sống tâm linh
cần sự quan tâm của xã hội” [87], tác giả khẳng định “Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận cơ bản
của văn hóa tâm linh, một lĩnh vực nhạy cảm mà trong lịch sử nhận thức và giao tiếp văn hóa đã có
những nhận thức , đánh giá khác nhau”. Cho nên theo tác giả, chúng ta cần phải có sự quan tâm
đúng mức đối v
ới lĩnh vực này.
4.2. Văn hóa là cội nguồn của văn học. Tính văn hóa là thước đo giá trị của tác phẩm
văn học. Từ văn học hiểu về văn hóa. Trần Nho Thìn “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn
văn hóa” xuất bản năm 2002 [90]. Trong đó, bài viết “Mô hình hai thế giới và vấn đề phương pháp
nghiên cứu văn học Việt Nam thời trung đại (khảo sát qua Truy
ện Kiều), tác giả đưa ra hai mô hình
cụ thể là thế giới trời- quyền năng vô hạn và thế giới linh hồn, ma quỷ - tuy không có quyền nhưng
lại chi phối, ảnh hưởng rất lớn đối với người đang sống. Từ đó cho thấy một đặc điểm cơ bản của
Thu Yến v
ới chuyên đề “Truyền thống văn hóa Việt trong sáng tác của Nguyễn Du” [108]. Bằng
giọng văn mượt mà, sâu lắng, tác giả đem lại cho người đọc những rung động, những cảm xúc và cả
niềm tri ân đối với thiên tài Nguyễn Du. “Trong tác phẩm của Nguyễn Du không chỉ có không khí lễ
hội mà còn có thế giới trời, Phật, thần thánh, ma quỷ; không chỉ có mồ mả, tha ma, nghĩa địa mà
còn có chiêm bao, mộng mị, bói toán”.
Nguy
ễn Du đã nói hộ chúng ta. Trong tác phẩm Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, tác giả nhấn
mạnh đến bản chất văn hóa tâm linh của người Việt “Dù Nguyễn Du tự sáng tác hay sáng tác theo
lời xin của một nhà chùa nào đó thì qua tác phẩm này vẫn thấy rõ quan niệm của ông. Ông đang
làm công việc mà mỗi người dân Việt vẫn làm”. Đây là ý kiến xác đáng, có tính chất gợi mở trực
tiếp trong công việc nghiên cứu đề tài “V
ăn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn
của Nguyễn Du”. Chúng tôi xin trân trọng lĩnh hội.
Nếu như Truyện Kiều thu hút khách thơ bao nhiêu, thì Văn chiêu hồn lại như vì sao tinh tú
chỉ mới được nhìn ngắm, chiêm ngưỡng từ xa, hoặc là đặt những bước chân dè dặt mà chưa đi đến
tận cùng để thấy hết vẻ đẹp của nó. Xin đơn cử một ví dụ: cuốn sách “
Nguyễn Du về tác gia tác
phẩm” do Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu [17]. Ngoài phần
giới thiệu chung thì phần nội dung có đến 74 bài viết về sáng tác của Nguyễn Du. Trong đó có
65/74 bài viết về Truyện Kiều; 2/74 bài viết về Văn chiêu hồn. Chúng tôi nhận thấy, dường như các
tác giả đã dành quá nhiều ưu ái cho Truyện Kiều mà chưa có sự đánh giá cụ thể cho tác phẩm Văn
chiêu hồn.
Hoài Thanh trong bài viết “Văn chiêu hồn” trích trong cuốn “nghiên cứu Văn- Sử -Địa” do
Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn [81, tr.237] đã cho rằng “chủ nghĩa nhân đạo ở đây không có sức
chiến đấu như trong truyện Kiều, nó đi vào chỗ hoàn toàn bế tắ
c”. Và “Bài văn tế rất dồi dào tính
quần chúng, nó dựng lên những hình ảnh rút ra từ trong trí tưởng tượng và trong cuộc đời thực của
quần chúng… Nhưng về mặt tinh thần nó biểu hiện cái tiêu cực, phần mê tín dị đoan nhiều hơn là
cái phần hăng hái, tráng kiện trong tinh thần quần chúng”. Như vậy, đứng trên lập trường ý thức hệ
trình cụ thể nào nghiên cứu về vă
n hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn
Du cả. Song các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu khoa học trên đây, do phạm vi đề tài
hoặc quá rộng hoặc là quá hẹp nên chỉ mới đưa ra những nhận định khái quát về phương diện tâm
linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du. Trong công trình này, chúng tôi cố gắng
hệ thống và làm rõ những vấn đề trên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài “Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du”,
chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên c
ứu chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê phân loại: Là phương pháp chính, nhằm thống kê và phân loại các yếu tố
tâm linh sau đó rút ra nhận xét.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực
tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn.
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên
tắc chi phối s
ự hình thành của chúng. Từ đó, rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc sáng tạo
toàn bộ cấu trúc tác phẩm.
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Là phương pháp nhằm làm nổi bật nét tương đồng cũng như
sự khác biệt của tác phẩm Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du so với các nhà văn khác
trên phương diện thế giới quan, nhân sinh quan.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu mối quan h
ệ giữa văn học và văn hóa để có cơ sở
đánh giá khách quan tác dụng của văn học trong việc phản ánh văn hóa dân tộc.
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên
cứu.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về
hóa tâm linh trong tác phẩm văn học, người viết luận văn góp phần chỉ rõ các biểu hiện tâm linh của
người Việt thể hiện trong sáng tác củ
a Nguyễn Du. Từ đó có những nhìn nhận đánh giá khách quan
về các hiện tượng này, đồng thời có ý thức trân trọng, nâng niu giá trị tinh thần của cha ông để lại.
Mặt khác, luận văn góp thêm tiếng nói lý giải về sức sống trường tồn của hai tác phẩm Truyện Kiều
và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du suốt hơn hai trăm năm qua.
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÂM LINH TRONG “TRUYỆN
KIỀU” VÀ “VĂN CHIÊU HỒN” CỦA NGUYỄN DU
1.1 Văn hóa tâm linh
1.1.1. Khái niệm văn hóa:
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Nó là toàn bộ cuộc
sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người. Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả
những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa.
Riêng ở nước ta, cũng có khá nhiều quan niệm về văn hóa:
Từ
đầu thế kỉ XX, Đào Duy Anh đã phát hiện văn hóa phải gắn liền với sinh hoạt của con
người nảy sinh trong quá trình lao động và trong từng hoàn cảnh địa lí nhất định: Theo ông, nghiên
cứu “Các điều kiện địa lí có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, song người là
giống hoạt động cho nên trở lại cũng có thể dùng sức mình mà xử trí và biến những điều ki
ện ấy cho
thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình. Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển và
khiến văn hóa cũng biến chuyển theo. Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương
diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy”.[1,
tr.3]
Trong giáo trình “cơ sở văn hóa Việt Nam”, Tr
ần Ngọc Thêm đã định nghĩa về văn hóa như
sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
m tâm linh
Tâm linh gồm chữ “tâm” và chữ “linh” tạo nên. Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu,
“tâm” có nghĩa là tim (lòng), thuộc về thế giới bên trong. “Linh” có rất nhiều nét nghĩa như: “linh”
trong linh hoạt, nhạy bén; “linh” trong thần linh; người chết cũng được gọi là “linh”; “linh” còn
dùng để nói đến những ứng nghiệm, bói toán.
Hoàng Phê cũng cho rằng tâm linh là “tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết trước một
biến cố nào đó sẽ x
ảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [72,tr.897].
Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng. Một trong những xác định súc tích
và khá chuẩn về tâm linh phải kể đến, là khái niệm tâm linh của Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là
cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín
ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những
biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”[12; tr.11].
Từ khái niệm của Nguy
ễn Đăng Duy, chúng ta nhận thấy tâm linh trước hết phải gắn liền với
ý thức con người. Cũng tức là sẽ không có tâm linh nằm ngoài ý thức con người. Nhưng ý thức nói
chung của con người hết sức rộng lớn. Nên chỉ khi nào con người có ý thức về cái thiêng, cái cao cả
thì mới gọi đó ý thức tâm linh. Không như các dạng ý thức khác, ý thức tâm linh tựa như mạch suối
ngầm nuôi dưỡng tâm hồn người, làm thăng hoa đờ
i sống tâm linh của con người. Đẹp hơn. Lung
linh hơn. Ý thức tâm linh không chỉ tồn tại ở dạng ý niệm mà nó còn được biểu hiện ra ở những
hình ảnh, những biểu tượng phát ra tín hiệu thiêng về cội nguồn đất nước, tổ tiên, tình yêu quê
hương... như cây đa, bến nước, đình, đền, miếu mạo... Rồi tới lúc nào đó, các biểu tượng thiêng
liêng này quay trở lại tác động vào tâm hồn người nh
ững rung cảm thẩm mĩ, khiến nó tự bộc lộ ra
bằng những hoạt động hành động cụ thể như cúng vái, cầu nguyện, tham gia hội hè... Tâm linh do
đó, tự bản thân nó có sức truyền cảm, tập hợp to lớn khó cưỡng lại được. Tâm linh có trong mọi mặt
đời sống con người từ phạm vi cá nhân, gia đình đến phạm vi cộng đồng làng xã, tổ quốc, từ các
loại hình nghệ thuật đến tín ngưỡng, tôn giáo.
Một câu hỏi đặt ra là, tâm linh bắt nguồn từ
tin ấy được nhiều người thừa nhận và cùng tin theo, cùng làm theo một số nghi thức gì đó để bày tỏ
niềm tin chung” [24, tr.33].
Từ các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy tín ngưỡng và tôn giáo đều có chung niềm tin
thiêng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất vớ
i nhau. Điểm khác biệt giữa tín
ngưỡng và tôn giáo là: tín ngưỡng không có giáo chủ, giáo lý, giáo hội cụ thể và đình, đền, miếu,
phủ cũng không phải là giáo đường, không phải là nơi giảng kinh thuyết pháp mà chỉ là nơi thờ tự,
cúng tế, hội hè... Ở tín ngưỡng, con người ta thấy mọi vật chung quanh đều trở nên linh thiêng, và
chỉ tập trung giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chứ không thiết kế một thiên đàng
hay một mi
ền cực lạc nào cả. Trong khi tôn giáo có giáo chủ, giáo lí, giáo hội, có giới luật, thì tín
ngưỡng vẫn bó kết con người vào sự sùng kính đơn sơ với niềm tin ngóng đợi đơn giản vào thần,
mẫu, tổ tiên sẽ phù hộ độ trì cho họ được mạnh khỏe, bình yên, ăn nên làm ra. Tín ngưỡng mang
tính địa phương nhỏ hẹp, gần gũi với đời sống nhân dân nên có sức cuốn hút mạnh mẽ với đại đa số
người dân còn tôn giáo cũng là một hiện tượng xã hội nhưng mang tính tổ chức cao, hướng đến một
đời sống tâm linh siêu việt nên phạm vi ảnh hưởng và lan tỏa của tôn giáo rộng khắp thế giới. Suy
cho cùng, tín ngưỡng và tôn giáo tuy có khác nhau nhưng không loại trừ nhau mà vẫn cùng tồn tại
xen kẻ bổ sung cho nhau.
Như vậy, tín ngưỡng hướng con người tới sự thịnh vượng của cuộc sống. Tức là tín ngưỡng
đồng nghĩ
a với tâm linh (niềm tin thiêng liêng) còn tôn giáo không hoàn toàn là tâm linh mà chỉ là
một dạng đặc biệt của tâm linh, tôn giáo cũng phải cứu cánh ở tâm linh. Cùng phát ra tín hiệu thiêng
nhưng tín ngưỡng gắn liên với đời sống trần tục một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức của cá nhân
và đều hướng đến chân, thiện, mỹ cho cuộc đời này. Qua đây, chúng ta cũng phân biệt được tín
ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) còn gọi là tín ngưỡng dân gian hay tín ngưỡng truyền thống để phân
biệt v
ới tín ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) tôn giáo.
Tâm linh và mê tín dị đoan
Trong từ điển tôn giáo, Mai Thanh Hải đã nói rất rõ về mê tín dị đoan: “Mê tín là tin nhảm,
tin xằng bậy, không thấy, không hiểu mà nhắm mắt tin theo mù quáng, tin theo một cách mê muội,
i ý chí, bản ngã để sống và làm việc, xử sự tốt hơn, xứng đáng
với truyền thống tốt đẹp của cha ông ta. Còn mê tín dị đoan là dựa vào thần Phật để kiếm chác,
thương mại hóa niềm tin, hoặc đặt ra bao nhiêu điều kì quái khác thường như trên chúng tôi vừa đề
cập khiến cho người khác tin theo một cách mê muội, hành động theo sự tin ấy không những hao
tốn về tiền bạc mà còn có khi thiệt h
ại về tính mạng bản thân.
Giữa tâm linh và mê tín dị đoan chỉ cách nhau ranh giới nhỏ hẹp. Điển hình như hiện tượng
nói chuyện với người âm của các nhà ngoại cảm, trước đây được cho là mê tín phù phiếm thì nay đã
được khoa học thừa nhận “khả năng ngoại cảm” và bước đầu được nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì
thế có những trường hợp không thể qui hoàn toàn tâm linh là mê tín dị đoan, là những ng
ộ nhận của
con người. Chẳng qua đấy chỉ là những vấn đề mà khoa học không hoặc chưa có cách nào chứng
minh đúng hay sai mà thôi. Vì vậy tâm linh luôn là một bí ẩn. Điều chúng ta nên làm và có thể làm
là cố gắng đẩy lùi và xóa bỏ dần dần hiện tượng “nghe ở đâu có ông nọ, bà tê linh thiêng lắm” rồi
đổ xô kéo đến cúng viếng mà chẳng biết rõ gốc tích thế nào...
Qua sự phân biệt trên, chúng ta thấy tâm linh là một biểu hiện trong đời số
ng tinh thần của
con người với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó. Do đó không nên đơn giản hóa cho rằng tâm
linh là mê tín dị đoan, cũng không nên thần bí hóa, tuyệt đối hóa khái niệm tâm linh, gán cho nó
những đặc tính cao siêu phi thường coi đó là cứu cánh của nhân loại. Cần phải có thái độ nhận thức
đúng đắn vấn đề nhạy cảm này, đồng thời khẳng định tâm linh là phương diện quan trọng, rất cần
thi
ết cho đời sống tinh thần của nhân loại. Ở đó, con người tin vào tín ngưỡng, vào tôn giáo, và có
cả niềm tin về chính cuộc sống trần thế này. “không chỉ có Thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật
mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật công lí cũng thiêng liêng
không kém”[20, tr8]
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh
Từ việc giới thuyết về khái niệm văn hóa và khái niệm tâm linh, chúng tôi nhận thấy tất cả
những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn hóa tâm linh. Hơn nữa đã gọi là
tâm linh thì nó không thể mất đi được. Tâm linh là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con
Trong điều kiện về thời gian và khả năng của người viết, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi
nghiên cứu văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng người Việt không theo tôn giáo.
1.2. Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh
1.2.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian
*Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một trong những cơ sở hình thành văn hóa tâm linh, bắt
nguồn và chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, tâm lí, thói quen và tính cách của
người Việt.
Sinh sống trong điều kiện địa lí sinh thái đầy khắc nghiệt, khí hậu thời tiết thay đổi thất
thường, khi hạn hán, lúc lũ lụt… suốt ngày bán mặt cho đất bán lư
ng cho trời nhưng nhiều khi kết
quả chỉ là con số không tròn trĩnh. Điều này tất yếu dẫn đến tâm lí phụ thuộc, ý thức tôn sùng và
thái độ hòa hợp với thiên nhiên. Đầu tiên phải kể đến “đất” và “nước” là hai thành tố có vai trò
quyết định, mà cư dân nông nghiệp lúa nước luôn quyện chặt với nó tựa như “Người ta là hoa đất”.
Nhưng để có nước (mưa) thì cần đến “trời”, do vậy người x
ưa tín ngưỡng tôn thờ Trời, Đất, Nước
và các hiện tượng thiên nhiên có liên quan đến đời sống nông nghiệp như mây, mưa, sấm, chớp...
Trong đó Trời là trên hết, vì theo người xưa trời sinh ra mọi vật “Trời sinh voi sinh cỏ”. Cái gì cũng
phải xin trời, lạy trời:
“Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày”
Khi đã có mưa, người ta hân hoan biết ơn, cầ
n cù làm việc:
"Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì cầy cạn, nơi thì bừa sâu.
"Nhờ trời mưa gió thuận hòa,
Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.
Hình ảnh mặt trời vì thế đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống của cư dân lúa nước đến mức
tôn sùng, quy phục:
Nế
u như ở loại hình văn hóa gốc du mục, người ta thờ con vật có sức mạnh như chó sói, hổ,
chim ưng, đại bàng.... thì ở loại hình văn hóa nông nghiệp dẫn người Việt Nam đến tục thờ các con
vật hiền lành hơn như chim, rùa, rắn, cá sấu… là các con vật gần gũi với cuộc sống của cư dân lúa
nước. Người Việt quan niệm “nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượ
ng” nên đã nâng các con vật này lên
mức biểu trưng : Tiên, Rồng thông qua các truyền thuyết về họ Hồng Bàng. Trong đó Tiên được
trừu tượng hoá từ giống chim sống ở trên cạn, còn Rồng được trừu tượng hoá từ hai loại bò sát rắn
và cá sấu sống ở dưới nước. Theo nguyên lí âm – dương và lối sống hòa hợp, thích nghi với thiên
nhiên, người nông nghiệp đã biến con vật thành chim mẹ, rồng cha làm nên cội nguồn tổ tiên của
người Việt. Con rồng, rắn, rùa…vì thế đã đi vào các câu chuyện thần thoại trong dân gian về con vật
thiêng phù hộ cho con người trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hình tương rồng cũng được
các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo của
nó càng thể hiện uy quyền phong kiến. Ngày nay, rồng dùng để đặt tên cho nhiều địa danh trong
nước: Hàm Rồng, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long v.v. Tất cả việc làm này thể hiện ý thức bảo
toàn nòi giống và lòng tôn kính, tự hào dân ta thu
ộc dõng dõi con rồng cháu tiên.
Ở thời thượng cổ, cư dân trồng lúa nước quan niệm rằng lúa sinh ra thóc gạo để nuôi sống
con người nên người ta gắn lúa với hình ảnh của người phụ nữ. Vì tin rằng lúa là một loại cây có
“hồn” nên dân ta nảy sinh tín ngưỡng thờ thần lúa. Để được mùa, hằng năm cư dân lúa nước phải
làm lễ rước mạ, gọi hồn lúa, lễ nhập lúa vào kho. Thứ đến các loài cây xuất hiện s
ớm ở vùng nông
nghiệp lúa nước như cây đa, cây dâu, quả bầu...cũng được người dân tôn thờ. Dân gian thường
truyền tụng: “thần cây đa, ma cây gạo” hay “cây thị có ma, cây đa có thần”. Tin rằng cây có linh
hồn, nên có tục, hễ nhà nào có đám ma, có người chết thì gia chủ phải đeo tang cho cây, vì sợ cây
buồn, héo mà chết. Cây cũng là nơi ngự trị của các thần, ma. Loại cây sống lâu năm đều có thể
thành tinh- mộc tinh. Nên với đặc tính c
ộng sinh, sống hòa hợp với thiên nhiên thì dù thần hay ma,
người Việt cũng kính trọng, cúng vái rất trang nghiêm.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và thờ vật thiêng tạo nên bản sắc văn hóa của cộng đồng người
anh hùng liệt sĩ, th
ờ tà thần.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trước khi Nho giáo du nhập, người Việt Nam đã có truyền thống cúng giỗ tổ tiên. Cúng giỗ
tổ tiên không phải là biểu hiện tôn giáo mà là biểu hiện huyết thống. Huyết thống thì bao giờ cũng
có nguồn gốc. Vì vậy, thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống đẹp nhất của người Việt, là
một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần c
ủa chúng ta. Đó là đạo lí, là phong tục, tập
quán của một dân tộc và còn chỉ rõ ta là người có cội có nguồn, có tổ có tông, chứ không phải là
một tay ma cà bông… không có gia phả. Người xưa cũng từng nói “cây có gốc mới nở cành xanh
ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” như nhắc nhỡ chúng ta khắc sâu ý thức về cội nguồn
tổ tiên trong đời sống tâm linh của mình. Đồng thời cũng răn dạy con cháu mai hậu nhấ
t thiết không
được đánh mất cái mà tổ tông đã có “Giấy rách phải giữ lấy lề”.
Nếu như người phương Tây chú trọng vào ngày sinh thì người Việt Nam lại chú trọng vào
ngày giỗ (ngày mất). Bởi theo quan niệm của người xưa đây là ngày con người đi vào cõi vĩnh
hằng. Người xưa tin rằng thể xác tuy tiêu tan nhưng linh hồn thì bất diệt nên sau khi chết linh hồn
của con người vẫn tiếp tục sống v
ới tổ tiên, ông bà ở nơi chín suối. Tin rằng nơi đó, tổ tiên, ông bà,
cha mẹ, người thân đã qua đời vẫn có thể đi về thăm nom, phù hộ độ trì cho con cháu trong gia đình.
Tin rằng ở đó, người chết cũng có một cuộc sống như cuộc sống ở trần gian, tức là cũng cần đến
nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, đi lại .. theo quan niệm “dương sao âm v
ậy”. Chính vì vậy, ngoài
mồ mả tổ tiên ở nghĩa địa, thì trong mỗi gia đình gia chủ đều dành vị trí sang trọng, đẹp nhất của thế
nhà lập nên bàn thờ cúng tổ tiên. Từ việc thờ cúng, người xưa cho rằng giữa thế giới thực tại, hữu
hình với thế giới siêu nhiên, vô hình; giữa con cháu với tổ tiên, ông bà, những người thân đã mất
luôn luôn như có một sợi dây liên hệ mật thiế
t. Đây cũng là dịp để người sống giao tiếp – thông linh
với người đã khuất. Trong khi cúng bái, người sống khấn vái, cầu nguyện một điều gì đó với tổ tiên,
ông bà, người thân qua đời. Nhưng nhìn chung niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, là họ mong
Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Quang Trung,... bất kể là những vị anh hùng có nguồn gốc từ tự nhiên
hay có thật trong lịch sử thì họ cũng là những con người sống khôn thác thiêng, lập công trạng khi
sống và hiển linh phù trợ giúp dân giúp nước khi chết.
Vì thế, thờ cúng tổ
tiên – gia đình và thờ cúng tổ tiên - đất nước là điều linh thiêng, hết sức
quan trọng không thể thiếu được trong phong tục của người Việt Nam. Qua đó, khẳng định lòng yêu
nước, tinh thần đoàn kết của cư dân Việt.
Tục cúng cô hồn. Xuất phát từ việc tôn kính người chết và lòng nhân ái bao dung, người
Việt có tục cúng cô hồn. Cô hồn là những linh hồn cô đơn, cô độc “vô gia cư” khổ sở, đói rách,
ngày đêm lang thang đi tìm miếng ăn, thức uống, kiếm chỗ ở… Nhưng mấy ai biết mà cho, mà
cúng. Đói rét, vất vưởng. Những lúc ấy, oan hồn có thể bằng hình thức này hay hình thức khác về
quấy nhiễu người sống, làm cho người ở cõi trần gian không thể sống yên ổn… Vậy nên, quan niệm
“dương sao âm thế”, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” dân ta đã xây am chúng sinh và cúng cô
hồn, một mặt làm vơi bớt phần nào sự cực khổ của những linh hồn kém may mắn không người cúng
vái, mặt khác cầu cho cô hồn sớm được giải thoát, không còn quấy nhiễu người dương thế.
*Tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên và con người dẫn đến việc hình thành lễ hội dân gian
Có lẽ không một nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào lại không có lễ hội. C
ũng như
Trung Quốc và các nước khác, Việt Nam là một đất nước có rất nhiều lễ hội. Theo thống kê của các
nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì Việt Nam có tới 500 lễ hội lớn nhỏ trải dài theo lịch sử dân tộc,
rộng khắp ở mọi miền đất nước và suốt cả bốn mùa xuân hạ thu đông. Lễ hội chiếm một vị trí vô
cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con ngườ
i Việt Nam. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu
biểu và giá trị riêng: Tết Nguyên đán (1-1): buổi sáng đầu năm (tính theo Âm lịch), Tết Nguyên tiêu
(15-1): đêm rằm đầu tiên trong năm, treo đèn, còn gọi là thượng nguyên, Tết Thanh minh (5-3): rẩy
mã, viếng mộ, chơi xuân, hội đố lá, Tết Đoan ngọ (5-5): tết hoa quả, diệt sâu bọ, mừng con nước,
đua thuyền, Tết Thất tịch (7-7): hoặc Vu lan, xá tội vong nhân, cúng cô hồn (15-7) còn gọi Trung
nguyên, Tết Trung thu (15-8): th
ưởng trăng, gia đình đoàn tụ, múa lân rồng, Tết Trùng cửu (9-9):
còn gọi là trùng dương, số 9 là con số của trời, cầu trời mưa thuận gió hòa, Tết Hạ nguyên (15-10):
thiêng liêng này.
*Tín ngưỡng dân gian chi phối đời sống xã hội
Do có niềm tin đặc biệt vào tín ngưỡng dân gian, nên người dân Việt tin rằng tín ngưỡng dân
gian có sự chi phối sâu sắc đời sống của họ. Biểu hiện dễ thấy nhất trong hoạt động xem bói, chấm
tử vi, phong thủy, coi ngày giờ
.
Dẫu biết rằng chuyện gì đến sẽ đến, không nên lo lắng, sầu thương, vấn vương! Hãy để nó
đến tự nhiên rồi đi tự nhiên. Con người ai rồi cũng phải chết! Thế nhưng trong thực tế cuộc sống,
tuyệt nhiên, không ai bằng lòng với điều đó cả! Dẫu biết rằng thiên cơ bất khả lậu, nhưng không ai
là không muốn biết trước vận mệ
nh của cuộc đời mình. Phải chăng những băn khoăn này đã thôi
thúc con người đi tìm ẩn số bằng cách xem tử vi, xem tướng, xem tuổi, xem ngày cưới hỏi, xem giờ
động thổ làm nhà, xem giờ hạ huyệt v.v… Những việc làm này không thể thiếu trong cuộc sống của
người dân Việt. Đây là vấn đề tâm linh, xét cho cùng ranh giới giữa nó với mê tín di đoan gần nhau
trong gang tấc. Xưa đã thế mà nay cũng chẳng có gì khác hơ
n! Dù cho đây là thời đại của công nghệ
thông tin, của khoa học nhưng đây cũng chính là thời mà con người ta bàn về tâm linh, đời sống tâm
linh, văn hóa tâm linh nhiều nhất. Và có chăng cái điều mà các nhà khoa học đang làm là tìm cách
rút ngắn khoảng cách tâm linh với khoa học mà thôi. Tâm linh là mảnh đất vô cùng phong phú và
phức tạp như chính sự phức tạp và phong phú có trong cuộc đời của mỗi con người vậy! Chừng nào
con người còn đau khổ chừng đó tâm linh v
ẫn còn giá trị thiêng liêng. Cho nên, bỏ qua những gì gọi
là mê tín dị đoan, mụ mị thiết nghĩ đây là việc làm đáng quý, đáng trân trọng. Bởi phàm sinh ra
trong kiếp con người, bất luận như thế nào con người ta cũng ý thức được giá trị của bản thân, của
sự sống. Tránh xa cái rủi ro đem lại điều may mắn cho người đang sống mà không xúc phạm người
đã khuất quả là một việc r
ất nên làm. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Niềm tin linh thiêng
chi phối sâu sắc đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người.
Lời thề cũng là một yếu tố thuộc về tâm linh. Lời thề được thể hiện giữa con người với con
người trong cuộc sống hàng ngày. Khi chứng minh một điều gì đó là đúng là chân xác, người Việt
bán thế kỉ thứ
hai đã có một trung tâm văn hóa Phật giáo ở Luy Lâu. Về sau Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc
truyền vào nước ta với nhiều tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.
Phái Thiền tông đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Phật, là niết bàn, nên nó đòi hỏi người tu
thiền phải mất nhiều công phu và có trí tuệ, giữ tâm tĩnh lặng, suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lí. Do
đó, Thiền tông chủ yếu gắn vớ
i tầng lớp trí thức, thượng lưu.
Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông gần gũi và phổ biến trong đời sống quần chúng nhân dân
hơn. Đi đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu: “Nam mô A - Di - Đà Phật”. Tịnh độ tông ra đời
ví như con thuyền bát nhã nâng đỡ con người đến với niết bàn tịch tịnh. Bởi quan niệm cho rằng,
đời sống của người bình dân khốn khó, vất vả, suố
t ngày bận lo việc cơm áo nên không thể tự mình
tĩnh tâm thiền được và do đó sẽ khó lòng đạt được bản thể chân như.
Riêng Mật tông, chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (linh phù, mật chú, ấn quyết…)
mau chóng được giải thoát để đến niết bàn. Do vậy khi vào nước ta, Mật tông hòa nhập vào dòng tín
ngưỡng của cư dân Việt như dùng pháp thuật yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh…
Đạo giáo gồm hai phái: phái thần tiên và phái phù thuỷ. Phái thần tiên có hai cách tu: nội tu
và dưỡng sinh. Dưỡng sinh thì người tu đạo dùng thuốc linh đan để được trường sinh. Nội tu là cách
con người chủ yếu dựa vào mình, tự mình rèn luyện khí công mà chứng ngộ Đạo. Phái Tu tiên khá
thịnh hành nhưng chủ yếu dành cho giai cấp thống trị. Phái phù thủy lấy bùa chú, phương thuật,
nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người.
Cũng như Phật giáo, Đạ
o giáo vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ thứ II gắn liền với tích
Cao Biền lùng tìm yểm huyệt, hy vọng cắt đứt long mạch hòng triệt tiêu nhân tài đất Việt. Đạo giáo
khi vào Việt Nam đã tìm thấy rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người Việt
xưa như việc sùng bái ma thuật, phù phép, tin rằng có thể dùng bùa chú để chữa bệnh, trừ tà, làm
tăng sức mạnh…vì v
ậy đạo giáo phù thủy rất dễ dàng len lõi vào cuộc sống của người bình dân còn
phái tu tiên vì gắn liền với thoát tục nên chỉ thịnh hành với tầng lớp trên. Các nhà Nho ở nước ta, do
ảnh hưởng của phái tu tiên, nên có khuynh hướng ưa thanh tịnh, thích nhàn lạc. Nhất là đối với
Xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàng”
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Chữ “nghĩa” trong quan niệm của người Việt có nội dung gần như trùng khít với chữ “tình”:
“Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người dưng có nghĩa trăm năm cũng chờ”
(Ca dao)
Bài ca dao dưới đây phần nào cho thấy khả năng đồng hóa Nho giáo mãnh liệt của truyền
thống văn hóa Việt Nam:
“Mình về em chẳng cho về
Em nắm vạt áo em đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba
Chữ Trung thì để phần cha
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình”
Đối với Phật giáo, ta tiếp thu sự bình đẳng, lòng từ bi, bác ái. Những điều này phù hợp với
tinh thần nhân ái dân chủ truyền thống của dân tộc.
“Mái chùa che chở hồn dân tộ
c,
Nếp sống muôn đời của Tổ tông”
Nó hiện thành ông bụt, bà tiên cứu giúp người hoạn nạn như các câu chuyện cổ tích Tấm
Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa lưu truyền mãi muôn đời… Đồng thời cũng loại bỏ chủ trương tu hành
khổ hạnh, diệt dục giáo điều mà nhập thế giúp đời như nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác thiền sư...
Như vậy, Phật giáo là sự lự
a chọn tối ưu của người Việt, bởi họ nhận thấy tư tưởng Phật giáo
không phải là một hệ thống lí thuyết phức tạp mà căn bản là dựa vào con người, lấy con người làm
trung tâm. Trước Phật, tất cả chúng sanh đều bình đẳng như nhau, ai cũng có thể tìm đến Phật. Tìm
đến với Phật là tìm đến ông bụt, Phật bà, Mẫu để được cảm thông, chia sẻ, được ch
ở che, bảo vệ,
được phù hộ độ trì cho cuộc sống hằng ngày đầy khó khăn vất vả nhưng cũng rất hạnh phúc này.
Cho nên người Việt chỉ tiếp nhân đạo Phật chủ yếu như một phương thức làm giàu cuộc sống tinh
m đau già yếu thì mời đạo sĩ chữa bệnh, trừ tà. Ca
dao Việt Nam có câu:
Dân tộc ta bốn nghìn năm lịch sử
Từ Đinh, Lý cho đến Trần, Lê
Dân ta giữ đạo bồ đề
Nữa tu chân chính, nữa tề quốc gia.
Hay như bài thơ được lưu truyền trong nhân gian nói về việc vua Lý Nhân Tông ca ngợi bản
lĩnh cao cường của thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền:
“Giác Hải tâm như h
ải
Thông Huyền đạo diệc huyền
Thần thông kiêm biến hóa
Nhất Phật, nhất thần tiên”
Khi Nho giáo được coi là khuôn vàng thước ngọc trong việc xây dựng thể chế nhà nước thì
Phật giáo và Đạo giáo vẫn có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống quần chúng nhân dân. Có thể kể