BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________
Hoàng Thị Minh Phương
VĂN HOÁ TÂM LINH TRONG VĂN
XUÔI TRUNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THU YẾN
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Đối với mỗi quốc gia dân tộc, cái quan trọng nhất, cao quí nhất là giá trị văn hoá. Văn
học là một biểu hiện của văn hóa, sản phẩm của văn hoá. Là một dạng văn hoá tinh thần,
văn học chính là nơi lưu giữ giá trị văn hoá tinh thần cho mọi thế hệ. Từ văn học hiểu thêm
về văn hoá. Đứng ở góc độ văn hoá nhìn sang văn học, văn hoá đựơc nhì
n nhận một cách
tinh tế hơn, còn văn học có một nền tảng vững chắc để tồn tại và phát triển, văn học được
hiểu thấu đáo sâu sắc hơn.
Hơn đâu hết, thế giới tinh thần vô cùng phong phú của người Việt Nam, trong đó có
thế giới tâm linh thể hiện rõ nét trong văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết. Văn
học Việt Nam thời trung đại một mặt kế thừa các giá trị tinh t
hần thiêng liêng trong văn học
dân gian, mặt khác phản ánh tòan diện thế giới ấy của con người Việt Nam trong suốt mười
thế kỉ tồn tại xã hội phong kiến. Trong văn học thời kì này, thông qua tài năng nghệ thuật và
vốn văn hoá truyền thống sâu rộng của các tác giả ta phần nào hiểu được niềm
tin thiêng
liêng, tín ngưỡng truyền thống, phong tục tập quán, phương thức tư duy và những quan
niệm phổ biến của nhân dân – những điểm cốt lõi tạo nên giá trị văn hoá tinh thần đặc sắc
của văn hoá dân tộc – văn hoá tâm linh.
Nằm trong quá trình phát triển liên tục nhưng khác với các thời kì văn học khác, văn
học trung đại Việt Nam mang những đặc trưng và qui luật riêng. Đó là một thời kì văn học
thuộc thời đại văn hoá riêng- văn hoá trung đại với m
ô hình thế giới, với hệ thống giá trị,
với phương thức cảm nhận, tư duy khác. Văn xuôi trung đại không nằm ngoài qui luật ấy.
Thật cần thiết phải tiếp cận văn xuôi trung đại xuất phát từ ý thức phân biệt loại hình này.
thời đại văn hoá nó ra đời.
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào khoa học nghiên cứu
văn học Việt Nam, mảng văn học trung đại, lĩnh vực văn xuôi.
3. Lịch sử vấn đề
Trong nhiều năm gần đây, các vấn đề văn hoá, văn hoá t
âm linh, mối quan hệ giữa văn
hoá và văn học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hoá, văn học nước nhà.
Văn hoá là cội nguồn của văn học và “văn học nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn
trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hoá cao quí ấy” (Phạm Văn Đồng). Giá trị văn
hóa, tính văn hoá luôn là một thước đo giá trị của tác phẩm văn học.
Xung quanh đề tài luận văn “Văn hoá tâm
linh trong văn xuôi trung đại”, trong phạm
vi tư liệu sưu tầm được, chúng tôi điểm qua một số công trình, bài báo khoa học sau:
3.1. Nói riêng về văn hoá tâm linh, trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, các tác
giả đều có đề cập các vấn đề liên quan đến văn hoá tâm linh. Tuy nhiên sự đề cập mới chỉ
dừng lại ở nêu hiện tượng, nhìn nhận khái quát.
Đầu tiên phải kể đến công trình “Văn hoá tâm linh” của tác giả Nguyễn Đăng Duy
[17]
. Công trình giới hạn những vấn đề về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong
các lĩnh vực: tín ngưỡng thần thánh trời đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo
Phật, Đạo, Thiên chúa giáo. Tác giả điểm qua tâm linh trong mọi mặt đời sống: cá nhân, gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, mê tín dị đoan...Vấn đề tâm linh trong văn học nghệ thuật có
được nhắc đến với nét nghĩa là chiều sâu tâm hồn nhưng chỉ với cái nhìn sơ giản chung cho
mọi loại hình nghệ thuật: “Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh,
biểu tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm, làm rung động
những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn”[17;tr38].
Gần với công trình trên là chuyên luận “Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ” [
42]. Tác
Thiên đạo (đạo trời) và Nhân đạo (đạo người) như một thể thống nhất. Góc nhìn văn hoá này được tác giả nghiên cứu qua hai trường hợp Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Bình Ngô đại
cáo (Nguyễn Trãi) với những lí giải, phân tích sáng rõ, lôgic. Với Truyện Kiều gần như ông
đã “hoá giải” được chỗ mà lâu nay người ta cho là hạn chế tư tưởng của Nguyễn Du như
duy tâm, thần bí, nặng tư tưởng Thiên mệnh, nghiệp báo luân hồi...
3.4. Tâm linh trong văn học trung đại cũng được tác giả Thanh Tâm Langlet quan tâm
qua bài “Tâm linh và thơ ca Việt Nam giai đoạn cổ trung đại” [58]. Ở đây tác giả chủ yếu
dõi t
heo yếu tố tâm linh trong đời sống tôn giáo ở dòng thơ thiền Lí-Trần qua sáng tác của
các Thiền sư thuộc các thiền phái Nam Phương, Thảo Đường, Trúc Lâm. Bên cạnh đó là
tâm linh trong thơ của một số nhà thơ ở khía cạnh bộc lộ đời sống nội tâm (Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…)
Dành nhiều tâm huyết cho hướng tiếp cận thơ trung đại từ nền văn hoá truyền thống,
PGS.TS Lê
Thu Yến đưa ra cái nhìn bao quát, hệ thống những yếu tố tâm linh trong thơ
Nguyễn Du với bài “ Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du - một biểu hiện của văn
hoá Việt” [129]. Bằng những con số thống kê cụ thể, chính xác những biểu hiện truyền
thống văn hoá tinh thần dân tộc, tác giả đã khẳng định một giá trị văn hoá truyền thống
trong sáng tác của nhà thơ lớn N
guyễn Du - thế giới tâm linh: “Thế giới này biểu hiện rõ rệt
trong sáng tác Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra. Một Văn Chiêu Hồn
thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia, một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm
và nhất là thơ chữ Hán nhan nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ...” [129; tr29]. Đây
chính là một gợi ý trực tiếp cho chúng tôi chọn đề tài luận văn nà
y.
Riêng ở bộ phận văn xuôi trung đại, PGS.TS Nguyễn Đăng Na đã có cái nhìn khái
quát, hệ thống về tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và các thể loại truyện
ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi qua bài “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại- những
8. Sơn cư tạp thuật (Đan Sơn)
9. Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ)
10. Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác)
11. Tang thương ngẫu lục (PhạmĐình Hổ-Nguyễn Án)
12. Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)
13. Hát đông thư dị (Nguyễn Thượng Hiền)
14. Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm)
15. Thính văn dị lục
(Khuyết danh)
16. Nam thiên trân dị tập (Khuyết danh)
17. Thoái thực kí văn (Trương Quốc Dụng)
18. Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục)
19. Tân đính Việt điện u linh tập (Gia Cát)
20. Việt Nam kì phùng sự lục (Khuyết danh)
21
. Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm)
22. Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)
Bên cạnh đó, để cho luận văn thêm phong phú và phục vụ việc phân tích, so sánh,
chúng tôi mở rộng liên hệ đến một số tác phẩm khác: Thiên đô chiếu (Lý Công Uẩn), Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Lam Sơn thực lục và Dư điạ chí (Nguyễn Trãi), Truyện
Kiều (Nguyễn Du), Tục công dư tiệp kí (Trần Trợ), Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn), Thiền
uyển tập anh, Tam tổ thực lục và một vài tác phẩm khuyết danh khác.
4.2. Vấn đề văn bản và tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại khá phức tạp và hiện
còn nhiều ý kiến khác nhau. Vì vậy chúng tôi xin không bàn đến. Chúng tôi khảo sát các tác
phẩm dựa theo các văn bản hiện hành của các tác giả theo quan niệm p
hổ biến.
4.3. Trên cơ sở thống kê, phân loại các hiện tượng tâm linh trong các tác phẩm, lấy điểm tựa
Vấn đề nghiên cứu văn học trung đại nói chung hiện còn nhiều cách hiểu, lí giải khác
nhau. Phương pháp so sánh giúp người đọc thấy được điểm giống và khác nhau giữa các
yếu tố tâm linh trong từng đơn vị tác phẩm của các tác giả thuộc các giai đoạn lịch sử khác
nhau. Từ đó khẳng định giá trị đích thực của yếu tố văn hoá này trong văn xuôi trung đại nói
riêng và văn học trung đại nói chung. Qua đó thấy đư
ợc đóng góp của các tác giả vào tiến
trình phát triển nền văn xuôi trung đại.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc
đối với một bộ phận văn xuôi trung đại, từ đó góp một cách lí giải tương thích một số vấn
đề trong văn học thời kì này. Đồng thời khẳng định và làm
sáng tỏ giá trị đặc sắc của nó do
yếu tố văn hoá tâm linh mang lại.
7. Cấu trúc của luận văn
Chương 1
: Khái quát
1.1. Khái niệm
1.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hoá Việt Nam
1.3. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại
Chương 2
: Những biểu hiện văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại
2.1. Những biểu hiện
2.2. Nhận xét
Chương 3
: Hiệu quả thẩm mĩ của yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại
3.1. Phản ánh hiện thực và thể hiện tư tưởng
3.2. Hiệu quả nghệ thuật
3.3. Yếu tố tâm linh trong văn xuôi hiện đại
tinh thần. Với đối tượng nghiên cứu là một phương diện của văn hoá tinh thần – văn hoá
tâm linh trong văn học, chúng tôi lưu ý đến một số định nghĩa sau:
The
o Bách Khoa Toàn Thư Pháp, “Văn hoá theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng,
ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ,… những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ
chức môi trường của con người, những công cụ, nhà ở,… và nói chung là toàn bộ công
nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm
xã
hội với môi trường sinh thái của nó”.
Nhà dân tộc học người Anh, E.B.Tylor định nghĩa: “Văn hoá là một chỉnh thể phức
hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kì năng lực
thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội” [121].
Nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), tổ chức văn hoá
thế giới U
NESCO công bố định nghĩa mới về văn hoá: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống
giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con
người cơ bản, truyền thống tín ngưỡng”.
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu văn hoá theo hai nghĩa rộng-hẹp. Nghĩa rộng, văn
hoá bao gồm các giá trị vật chất (văn hoá vật chất) và giá trị tinh thần (văn hoá tinh thần) do
con người sáng tạo ra và tích luỹ qua hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử. Nghĩa hẹp,
văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người, tức những giá trị tinh thần nhằm
thoả mãn nhu yếu tinh thần trước hết của con người.
Với đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hoá tâm linh, chúng tôi hiểu và vận
dụng khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp là những giá trị văn hoá trong lĩnh vực tinh thần-văn
hoá tinh thần. Đó là “những di sản văn hoá đem lại ng
uồn cảm hứng thẩm mĩ cho con
Hướng thứ hai, tâm linh được hiểu như một khả năng phán đoán, biết trước sự việc.
Trong Pháp Việt từ điển của Lê Khả Kế, tâm linh là: “linh tính”. Hay cũng theo Từ Điển
Tiếng Việt 2000, một nét nghĩa khác của tâm linh là “khả năng biết trước một số biến cố nà
o
đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [91;tr897]. Ở đây, tâm linh được dùng
như một động từ với nội hàm “tiên tri” (biết trước và nói ra trước các sự kiện trước khi
chúng xảy ra).
Các khái niệm tâm linh trên tuy khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là hiểu tâm linh
gắn với con người, ở trong con người. Nhưng không thật là đủ nếu không hiểu tâm
linh từ
chính nghĩa tự thân của nó cũng như từ thực tiễn đời sống tinh thần.
Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh. Tâm (lòng, tấm lòng). Chữ tâm ở đây được hiểu
trong từ “tâm niệm” (thường xuyên nghĩ tới, tự nhắc mình ghi nhớ làm theo, tức tin theo
điều đó). Như thế tâm trong tâm linh là niềm tin. Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng
liêng (ví dụ: “linh khí” tức khí thi
êng-khí thiêng sông núi). Vậy tâm linh là niềm tin của con
người vào sự linh thiêng.
Tâm linh là một phần không thể thiếu trong đời sống bởi “trong đời sống con người,
ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia
đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy. Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận
thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó
được, có thể đánh giá qua những gì cụ thể nhất
định, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung,
nhưng lại không thể thiếu được ở con người. Con người sở dĩ trở thành con người, một phần
căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái
thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống t
âm linh của nó [73;tr36].
Tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, cao cả mà con người luôn hướng tới, luôn tin
tưởng nên nó có giá trị cố kết cộng đồng, ràng buộc con người bên cạnh các mối quan hệ
hữu hình khác. Nên tâm linh có mặt trong cả đời sống tinh thần, đời sống xã hội và đời sống
linh trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu
phàm có thể tác động đến đời sống của con người khi còn sống cũng như khi đã chết, trong
đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác. Từ đó con người
đi đến c
hỗ tôn vinh thờ phụng các thế lực siêu nhiên, những linh hồn của những người đã
chết với hi vọng được sống an bình nơi trần thế và hưởng phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên
kia sau khi đã chết.
Đặc trưng nổi bật của tôn giáo là đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên. Niềm tin
ấy có tác dụng như một loại thuốc an thần tạo sự cân bằng về tinh thần cho con người trong
mọi hoàn cảnh như câu nói của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân”. Niềm tin tôn
giáo (tín ngưỡng tôn giáo) là biểu hiện của đời sống tâm linh nhưng tín ngưỡng tôn giáo
không đồng nhất với tâm linh. Tâm linh chỉ là khả năng dẫn đến tôn giáo. Trong tín ngưỡng
tôn giáo, ngoài phần tâm linh còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo. Tâm linh là phần cơ bản nhất, là biểu hiện của tôn giáo trong mặt tích cực, giá trị nhất (mặt đạo đức
và văn hoá, tính hướng thiện, tính nhân văn…). Mỗi tôn giáo đều hướng về những hình
tượng thiêng liêng (Trời trong Nho giáo, Phật trong Phật giáo, Chúa trong Gia tô giáo…) và
đặt đức tin vào những triết lý, tín điều riêng. Các tôn giáo đều có chung tâm linh hướng về
một thế giới khác, ở đó linh hồn được hạnh phúc trọn vẹn sau khi từ giã cuộc đời (thiên
đàng, cõi niết bà
n, kiếp khác…). Bên cạnh mặt tích cực, văn hoá, tôn giáo (và cả tín
ngưỡng) còn biểu hiện mặt tiêu cực, phi văn hoá. Đó là khi con người vì lý do khác nhau
(nhận thức, mục tiêu, lợi ích…) mà sử dụng tôn giáo, tín ngưỡng sai lầm dẫn đến mê tín dị
đoan.
1.1.1.2.2. Tâm linh và mê tín dị đoan
Trước hết cần hiểu cặn kẽ hiện tượng bằng cách tách bóc hai vấn đề mê tín và dị đoan.
Mê tín (tin vào những điều không có thật); dị đoa
n (lắm mối rắc rối, quàng xiên, mù
niềm tin thiêng liêng (như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng
sùng bái con người…)
Cùng phát tín hiệu thiê
ng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau cơ bản.
Nếu như tín ngưỡng là một sự ý thức về thần linh với niềm tin, lòng ngưỡng mộ dưới các
hình thức lễ bái cầu cúng theo quan niệm dân gian; ý nghĩa của tín ngưỡng là biết ơn và cầu
mong đối tượng phù hộ cho mình bình yên, khoẻ mạnh, ăn nên làm ra; thì ở tôn giáo là niềm
tin vào những triết thuyết, giáo lý, kinh sách với một hệ thống lễ nghi (đọc kinh, quỳ
bái…), có tổ chức nhân sự điều hành nhằm g
iáo dục tín đồ theo lời dạy của đấng tối cao.
Tôn giáo chủ yếu hướng đến giải thoát cho cái chết, còn tín ngưỡng luôn hướng vào sự
thịnh vượng của cuộc sống.
Sự phân biệt trên cho phép ta một lần nữa nhận thức rõ vị trí độc lập của tín ngưỡng
bên cạnh tôn giáo như là những thành tố cơ bản của đời sống tâ
m linh. Đồng thời, có thể
xem đây là những căn cứ để phân biệt các hiện tượng tâm linh là tín ngưỡng hay tôn giáo.
Có thể gọi niềm tin của các tín đồ tôn giáo là tín ngưỡng tôn giáo để phân biệt với niềm tin
của các tầng lớp nhân dân không theo tôn giáo là tín ngưỡng dân gian (hay tín ngưỡng
truyền thống)
Với nhận thức trên, luận văn chúng tôi chỉ bàn đến tâm linh trong tín ngưỡng dân gian
truyền thống thông qua văn học, thuộc phạm vi đời sống c
á nhân.
1.1.1.3. Văn hoá tâm linh
Từ cách hiểu và giới hạn khái niệm văn hoá và tâm linh trên, chúng tôi hiểu văn hoá
tâm linh là những giá trị văn hoá tinh thần thiêng liêng. Đó là “văn hoá biểu hiện những giá
trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc
sống tín ngưỡng tôn giáo” [17; tr26]
Thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần, nhưng văn hoá tâm linh với những đặc thù riêng
không chỉ gồm những giá trị văn hoá vô hì
nh (những nghi lễ, ý niệm, tập tục…) mà cả
hoạt động tương ứng biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục (…) làm nên tín
ngưỡng dân gian” [51;tr1030]. Tín ngưỡng dân gian người Việt vô cùng đa dạng, ba
o gồm
tín ngưỡng thờ thánh thần, trời đất ( thành hoàng làng, thần hộ mệnh cá nhân, thánh tổ nghề,
thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hoá…); tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín
ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin tướng số phép thuật…Các tín ngưỡng song hành tồn tại trong
đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá truyền
thống Việt Nam.
Văn học chỉ là một biểu hiện của văn hoá, là một mảng màu của bức tran
h văn hoá
thời đại nó ra đời. Vì vậy khi tìm hiểu văn hoá tâm linh người Việt trong văn xuôi trung đại,
chúng tôi thu hẹp bộ phận văn hóa này trong tín ngưỡng dân gian ở những biểu hiện sau: việc thờ cúng trong các nghi lễ (lễ cầu đảo, lễ phong sắc thần, lập miếu, tạc tượng thờ) và
một số tập tục (tục thờ thần, khấn nguyện, cúng giỗ tổ tiên..). Bên cạnh đó là niềm tin thiêng
liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (giấc mộng, điềm báo, sự linh ứng,
niềm tin vào phép thuật, hoá kiếp…).
1.1.2. Văn xuôi trung đại
1.1.
2.1. Thời kỳ trung đại trong văn học Việt Nam
1.1.2.1.1. Thời kì trung đại
Tên gọi “văn học Việt Nam thời trung đại” thực ra là một qui ước mang tính khoa học
mà các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng “mượn” từ khái niệm “thời
trung đại” trong lịch sử châu Âu. Thời trung đại được xem là thời đại văn hoá lớn trong lịch
sử nhân loại. Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hoá truyền thống có ảnh hưởng
đến ngày nay. Riêng đối với Việt Nam, thời trung đại là thời hình thành toàn bộ di sản văn
hoá thà
nh văn của dân tộc.
trong sự vận động theo hướng dân tộc hóa và dân chủ hoá.
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ khi ra đời, văn học trung đại Việt Nam đã gắn
với vận mệnh đất nước và con người. Chủ đề nổi bật của văn học thời kì này là chủ nghĩa
yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng. Chủ đề ấy là sợi chỉ đỏ xuyê
n suốt nền
văn học, từ thơ ca của các nhà sư đời Lí, các vị tướng đời Trần đến các nhà thơ nhà văn lớn
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, tư
tưởng yêu nước và nhân đạo có những biểu hiện khác nhau.
Đã trở thành qui luật, nền văn học trung đại của dân tộc
nào cũng được xây dựng trên
cơ sở nền văn hoá văn học dân gian của dân tộc đó. Văn học dân gian Việt Nam là nền tảng
hình thành nền văn học viết trên nhiều phương diện. Tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian,
văn học viết có cơ sở vững chắc để phát triển. Từ những tác phẩm văn xuôi thành văn đầu
tiên: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái… ra đời trên cơ sở sưu tầm ghi chép các truyền
thuyết dân gian, “từ bi
a miệng người đời”, đến những tác phẩm có qui mô lớn như Đại Việt
sử kí toàn thư cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn học dân gian. Cũng không ai có thể phủ
nhận ảnh hưởng của văn học dân gian đậm đà về văn liệu, thi liệu, bút pháp thể hiện…đối
với những tác phẩm tr
uyền kì như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, thơ Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu… Khẳng
định giá trị và tìm hiểu đặc điểm của văn học viết trung đại cũng đồng thời là sự đánh giá
cao vai trò, vị trí của văn học dân gian- suối nguồn tươi mát giàu dưỡng chất nuôi lớn nền
văn học viết.
Trong thời
kì trung đại, sự giao lưu ảnh hưởng của các nền văn học lâu đời (Trung
Hoa, Ấn Độ…) với các nền văn học hình thành sau (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) là
một tất yếu khách quan. Ở Việt Nam mặc dù đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nền văn
hoá văn học dân tộc vẫn không bị đồng hoá. Sự tiếp thu ảnh hưởng văn học Trung Hoa
không làm mất đi bản sắc dân tộc m
mới có thể hiểu được văn học trung đại như là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá trung
đại. Đi trọn mười thế kỉ, văn học trung đại kết thúc vai trò lịch sử của m
ình trong tiến trình
văn học dân tộc: phản ánh một cách chân thực sinh động đời sống của con người Việt Nam
trên các phương diện vật chất và tinh thần, đặc biệt là đời sống tâm linh sâu sắc; để lại cho
nền văn học nhiều kinh nghiệm quí giá.
1.1.2.2. Thể loại văn xuôi trung đại
1.1.2.2.1. Thể loại văn học trung đại là một hiện tượng rất bề bộn, phức tạp. Việc phâ
n loại
văn học, kể cả văn xuôi là một công việc rất khó trong điều kiện văn sử bất phân. Vấn đề thể
loại văn xuôi ở đây chỉ có ý nghĩa làm cơ sở lí luận cho các nội dung tiếp theo.
Văn xuôi, theo thi pháp học gồm hai thể văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình. Thời
trung đại chưa xuất hiện văn xuôi
trữ tình. Văn xuôi tự sự thời kì này chủ yếu viết bằng chữ
Hán. Bên cạnh loại tự sự bằng văn xuôi còn có tự sự bằng văn vần. Tự sự bằng văn vần được gọi là truyện Nôm. Khái niệm văn xuôi tự sự (hay văn xuôi chữ Hán) được dùng để
khu biệt với truyện Nôm.
Theo Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, [74], căn
cứ vào qui mô và tính chất của các tác phẩm, có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm:
truyện ngắn, ký và tiểu thuyết chương hồi. Luận văn chúng tôi theo cách phân chia này để
gọi tên các tác phẩm văn xuôi trung đại được khảo sát.
Tiểu t
huyết chương hồi là thuật ngữ chỉ “một thể loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung
Quốc thịnh hành vào đời Minh Thanh” [32;tr280]. Loại tác phẩm này có ảnh hưởng sâu xa
đối với tiểu thuyết của các nước châu Á như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Trong đó,
tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán của Việt Nam là một hiện tượng độc đáo
với các tác phẩm: Nam triều công nghiệp diễn chí, Tâ
y Dương gia tô bí lục, đỉnh cao là
truyện trong các tác phẩm được khảo sát chính là truyện. Sau đây là số lượng truyện trong
mỗi tác phẩm :
1. Lĩnh Nam chích quái 18/20 truyện+22/23truyện dịch thêm.
2. Việt điện u linh 27/27 truyện
3. Nam ông mộng lục 8/28 truyện
4. Thánh Tông di thảo 14/19 truyện
5. Truyền kì mạn lục
20/20 truyện
6. Việt điện u linh tục bổ 3 truyện
7. Công dư tiệp ký 23/43 truyện
8. Sơn cư tạp thuật 7 truyện /184 thiên
9. Vũ trung tuỳ bút 7 truyện /89 thiên
10. Tang thương ngẫu lục 14 truyện / 90 thiên
11. Lan Trì kiến văn lục 23 truyện / 45 thiên
12. Hát đông thư dị 7/66 truyện
13. Truyền kỳ tân phả 4/4 truyện
14. Thính văn dị lục 5 truyện
15. Nam thiên trân dị tập 4/138 truyện
16. Thoái thực kí văn
3 truyện
17. Vân nang tiểu sử 13/109 truyện
18. Tân đính Việt điện u linh tập 3/41 truyện
19. Việt Nam kì phùng sự lục 2 truyện
1.1.2.2.2. Vấn đề tên gọi thể loại của nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại chưa dừng lại ở
khái niệm truyện (truyện văn xuôi chữ Hán) mà thực tế người ta còn gọi là tiểu thuyết (tiểu
thuyết chữ Hán). Tại sao vậy ?
Trong văn học hiện đại, tiểu thuyết là thuật n
gữ chỉ “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian”, “là thể loại văn
học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học
.
1.1.2.2.3. Truyện Việt Nam thời trung đại có một tỉ lệ lớn truyện truyền kì (tiểu thuyết
truyền kì) như Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kì tân phả ...Vậy truyền kì là
gì và yếu tố văn hóa tâm linh trong loại truyện này là ở đâu ?
Trước hết, truyền kì được hiểu là truyền đi một sự lạ. Truyền kì có tính chất là những
truyện kì lạ được lưu truyền lại. Đồng thời truyền kì cũng là khái niệm chỉ “một thể loại tự
sự ngắn cổ điển của văn học Trung Q
uốc thịnh hành ở thời Đường” [32; tr386], là thể loại
“chứa đựng nhiều tình tiết li kì,quái dị”.
Truyện truyền kì có nguồn gốc trong văn học Trung Quốc. Loại này đã thúc đẩy sự ra
đời của thể loại truyền kì trong văn học vùng Đông Á t
rong đó có Việt Nam. Truyền kì đã
trở thành một thể loại truyện mang tính chất “kì văn dị sự”- một bộ phận tạo nên diện mạo
nền văn xuôi trung đại Việt Nam. Hạt nhân cơ bản của truyện truyền kì là yếu tố kì. Kì trước hết là cái lạ, cái khác biệt
trái với cái bình thường (kì lạ, li kì). Kì cũng còn là cái quái đản, phi thường, siêu nhiên (kì
quái, kì dị). Cái lạ, phi thường, siêu nhiên trong truyện truyền kì đã tạo nên những “kì văn”
với những “kì nhân”, “kì sự”. Cái kì tạo nên sức hấp dẫn lạ lùng, góp phần làm nên sức sống
lâu bền cho tác phẩm. Sức nặng nghệ thuật của yếu tố này đư
ợc Nghê Trác trong Nhị kì
duyên tiểu dẫn cô đúc “vô truyền bất kì, vô kì bất truyền” (tác phẩm không lưu truyền được
là do không có gì lạ, và không có gì lạ nên tác phẩm không lưu truyền được) (dẫn theo Trần
Lê Bảo )[6].
Vậy phạm vi của cái lạ trong truyền kì là đâu vì lạ cũng là phạm trù của cái quái trong
truyện chí quái? Cả hai loại truyện đều có yếu tố thần kỳ quái dị, nói đến hiện tượng bất
bình thường trong tự nhiê
n và xã hội (gió, bão, lụt bất thường, những con vật quái dị, người
biến dạng hóa hình hay sự nhân hóa thần linh, động vật, đồ vật, sự thần kì hóa con người...).
bởi yếu tố kì ở đâ
y luôn mang tín ngưỡng, quan niệm dân gian. Ngoài ra là yếu tố quái của
truyện thần quái: hiện tượng gái hóa trai, con vật quái dị hay truyện về người phương Bắc
giấu của cải, xem phong thủy, huyệt mạch…Tất nhiên những hiện tượng quái này luôn xuất
phát và hàm chứa tín ngưỡng dân gian. Đó là các vấn đề công lí đạo nghĩa, luật nhân quả,
dương trợ âm phù....
Vậy, cũng giống như đặc điểm của yếu tố kì trong truyện truyền kì,
các yếu tố văn hóa
tâm linh trong văn xuôi tự sự vừa mang nội dung phản ánh, khái quát hiện thực, thể hiện tư
tưởng niềm tin của con người thời trung đại vừa có giá trị nghệ thuật tạo nên sắc màu lung
linh, huyền ảo hấp dẫn cho truyện kể.
1.1.2.2.4. Yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại Việt Nam - “địa hạt” của những điều kì
lạ, siêu nhiên, huyền bí, sản phẩm của trí tưởng tượng của con người thời trung đại làm ta
liên tưởng đến yếu tố huyền thoại, kì ảo phổ biến trong văn học.
Kì ảo là một tính từ chỉ những gì “được tạo nên bởi trí tưởng tượng, chứ không tồn tại
trong thực tế ”, “gợi lên những chuyện ma quỉ, cái siêu nhiên, những giấc mơ quái đản,
kể
cả những ác mộng” (M.Renard). Kì là lạ lùng; ảo là không có thật. Từ đó có thể hiểu: “Cái
kì ảo là cái lạ lùng, không có thật, không thể bắt gặp trong thế gian này, nói chung là cái
siêu nhiên, nếu ta hiểu các siêu nhiên là những gì không tồn tại ở trên đời” (Phùng Văn
Tửu). Như vậy, phạm vi của cái kì ảo trong văn học là rất rộng, từ các vị thần trong thần
thoại, các ông bụt bà tiên, mụ phù thủy trong truyện dân gian, đến c
ác quỉ sứ, hồn ma, phép
thuật, người biến dạng...trong truyện trung đại, hiện đại bởi đó đều là những hiện tượng siêu
nhiên, nhân vật siêu trần. Theo đó, dễ dàng thấy trong văn chương cổ kim Đông Tây xuất
hiện nhiều yếu tố kì ảo: Hămlet (thế kỷ XVII), Truyện Kiều (thế kỷ XVIII), Truyền kì mạn
lục (thế kỷ XVI), Liêu Trai chí dị (thế kỷ XVIII, XIX), hay sáng tác của Hoffmann, A.Poe,
H.Balzac thế kỷ XI
X, của F.Kafka, Aymé, Boges thế kỉ XX... Nhưng không phải bất cứ tác
tưởng tượng của con người. Nhưng, mang hình thức kì ảo, hoang đường, siêu nhiê
n, yếu tố
này tồn tại như một tất yếu, là hiện thực thứ hai tồn tại song cùng hiện thực trần thế. Ở đó,
con người luôn tin vào những điều huyền hoặc, những hiện tượng mang tính quái dị, hoang
đường mà không hề nghi ngờ sợ hãi. Chính niềm tin ấy tạo nên nét riêng trong đời sống tâm
linh dân tộc một thời kì.
Liên quan đến những yếu tố có “tính mập mờ khó phân định giữa thực và ảo” trong
văn học, huyền thoại cũng là một vấn đề được nhiều người qua
n tâm.
Theo cách hiểu phổ biến, huyền thoại là những sáng tác không tưởng từ xưa đến nay,
những hiện tượng văn học mang tính chất của những sáng tác văn hóa dân gian thời cổ.
Huyền thoại chính là sản phẩm của kiểu tư duy cổ nguyên sơ nhất của nhân loại - tư duy
huyền thoại. Ở hình t
hức có tính tưởng tượng, huyền hoặc và kì diệu, huyền thoại là một