1
Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn NGUYN TH HNG XY DNG TUYN IM DU LCH
VN HểA TM LINH TNH HI DNG
luận văn thạc sĩ du lịch
Hà Nội, 2014 2 Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã nhận đƣợc sự hƣớng dẫn,
chỉ bảo quý báu, nhiệt tình và trách nhiệm của TS. Triệu Thế Việt. Với tất cả
tình cảm của mình tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy.
Đồng thời tác giả còn nhận đƣợc sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa
Du lịch học, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội, các Sở, ban, ngành của tỉnh Hải Dƣơng. Tác giả xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp trong thời gian học tập và nghiên cứu. Hà Nội, tháng 02 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Hường
4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BẢN ĐỒ
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trƣởng khách du lịch giai đoạn 2006 – 2012
Bảng 2.2. Số liệu khách tham quan khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc (2006 –
2012)
Bảng 2.3. Số lƣợt khách tham quan đền thờ Chu Văn An (2007 –2012)
Bảng 2.4. Số lƣợt khách tham quan Văn Miếu Mao Điền (2007 – 2012)
Bảng 3.1. Chỉ tiêu phát triển du lịch đến năm 2020
5.2. Phƣơng pháp khảo sát, điều tra thực địa 11
5.3. Phƣơng pháp bản đồ - GIS 12
5.4. Phƣơng pháp chuyên gia 12
6. Những đóng góp của luận văn 13
7. Bố cục của luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH VÀ
XÂY DỰNG TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH 14
1.1. Du lịch văn hoá và du lịch văn hoá tâm linh 14
1.1.1. Du lịch văn hoá 14
1.1.2. Du lịch văn hoá tâm linh 15
1.2. Tuyến điểm du lịch và tuyến điểm du lịch văn hoá tâm linh 23
1.2.1 Tuyến điểm du lịch 23
1.2.2. Tuyến, điểm du lịch văn hoá tâm linh 25
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh
26
1.3. Một số vấn đề cơ bản về tuyến điểm du lịch và tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh
ở Việt Nam 30
1.3.1. Một số vấn đề cơ bản về tuyến điểm du lịch ở Việt Nam 31
1.3.2. Một số vấn đề cơ bản về tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh 32
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH VÀ XÂY
DỰNG TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH Ở TỈNH HẢI DƢƠNG 34
2.1. Khái quát về tỉnh Hải Dƣơng 34
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.2. Tài nguyên du lịch văn hoá tâm linh tỉnh Hải Dƣơng 37
2.2.1. Khái quát nguồn tài nguyên du lịch văn hoá tâm linh 37
2.2.2.Những giá trị tiêu biểu 41
2.3. Các điểm tài nguyên tiêu biểu 59
2.31. Khu di tích và danh thắng Côn Sơn 59
3.3. Các giải pháp cụ thể 100
3.3.1. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể và bảo đảm được tính
thiêng của các di tích lịch sử, văn hóa 100
3.3.2.Tuyên truyền quảng bá – giáo dục cộng đồng 101
3.3.3. Vốn đầu tư 102
3.3.4. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách và tăng cường công tác quản lý nhà
nước về du lịch 103
3.3.5. Giải pháp mở rộng thị trường 104
3.3.6. Nguồn nhân lực cho tuyến điểm du lịch 104
3.3.7. Quản lý và quy hoạch du lịch 105
3.4. Một số kiến nghị 106
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
7
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế của đất nƣớc đã phát triển, sự nhận thức
và trình độ dân trí của con ngƣời đã đƣợc nâng cao, việc đi du lịch là nhu cầu không
thể thiếu, nó dƣờng nhƣ đã trở thành một tiêu chí trong cuộc sống. Chính vì vậy du
lịch ngày càng phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nhiều lợi ích
cho mỗi con ngƣời và mỗi quốc gia với nhiều loại hình du lịch khác nhau nhƣ du
lịch biển, du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch văn hóa… gần đây ngƣời ta hay nhắc tới một
loại hình mới đó là loại hình du lịch văn hóa tâm linh. Trên thế giới, từ lâu du lịch
văn hóa tâm linh là một loại hình du lịch khá phát triển đặc biệt ở những quốc gia
châu Á theo đạo Phật nhƣ Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… Ở Việt Nam
loại hình du lịch văn hóa tâm linh này vẫn còn khá mới lạ tuy nhiên nó đã có sức
thu hút mạnh. Trong những năm gần đây văn hóa tâm linh đang là một vấn đề đƣợc
nhiều ngƣời quan tâm và đƣợc nhắc đến nhiều hơn. Văn hóa tâm linh đƣợc coi là
một mặt của hoạt động văn hóa xã hội trong đời sống con ngƣời, nó đƣợc biểu hiện
biết đến hai di tích đƣợc xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia là Côn Sơn và
Kiếp Bạc còn rất nhiều những di tích khác của tỉnh mới chỉ có số lƣợng ít du khách
biết đến. Hình ảnh du lịch Hải Dƣơng nhìn chung còn mờ nhạt, chƣa thực sự tạo
đƣợc dấu ấn và sự quan tâm trong lòng du khách bởi một số lí do nhƣ sau:
- Sản phẩm du lịch của Hải Dƣơng chƣa đặc sắc, còn đơn điệu.
- Chất lƣợng nguồn khách chƣa cao, thời gian lƣu trú tại Hải Dƣơng còn
ngắn dẫn đến hiệu quả kinh doanh chƣa cao.
- Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch còn hạn chế về quy mô, hình thức và
nội dung.
- Phát triển du lịch chƣa thực sự gắn với công tác bảo tồn các giá trị văn hóa,
môi trƣờng tự nhiên và chƣa thực sự đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng…
Vấn đề đặt ra cho ngành du lịch Hải Dƣơng nói riêng và toàn tỉnh nói chung
là làm thế nào để khách du lịch biết đến Hải Dƣơng nhiều hơn, để hoạt động du lịch
đƣợc phát triển nhiều hơn cũng nhƣ khai thác đƣợc tối đa các giá trị sinh thái, giá trị
văn hóa, lịch sử, giá trị tâm linh của các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, văn
hóa? Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài:“Xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa
tâm linh tỉnh Hải Dương” làm luận văn của mình, góp phần nhỏ bé vào trong việc
phát triển du lịch tỉnh nhà trong tƣơng lai.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở vận dụng lý luận và thực tiễn về xây dựng tuyến điểm du lịch, du
lịch văn hóa và du lịch văn hóa tâm linh, mục đích chính của đề tài là nghiên cứu
xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh, thực trạng hoạt động du lịch văn hóa
tâm linh của Hải Dƣơng; Các giá trị của một số di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu và
ý nghĩa tâm linh của các di tích để từ đó đề xuất một số tuyến điểm du lịch văn hóa
tâm linh nhằm phát triển loại hình du lịch mới của tỉnh Hải Dƣơng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
- Tác giả tập trung đi vào nghiên cứu tổng quan các vấn đề lí luận và thực
Luận văn tốt nghiệp của Phùng Thị Hằng năm 2008 là “Xây dựng một số
điểm, tuyến du lịch ở khu vực phía tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập”, với đề tài
này tác giả nghiên cứu chuyên sâu về khoa học địa lý với các phƣơng pháp nghiên
10
cứu thế mạnh nhƣ phƣơng pháp bản đồ, phƣơng pháp thang điểm tổng hợp, đề tài
đã khoanh vùng nghiên cứu xây dựng tuyến điểm du lịch của tỉnh Hà Tây cũ.
Ngoài ra phải kể đến luận văn tốt nghiệp năm 2012 “Xây dựng một số tuyến
điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới” của Đinh Nhật Lê, với
đề tài này tác giả cũng đã đƣa ra đƣợc cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng tuyến
điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới. Đồng thời tác giả cũng
đã nghiên cứu việc xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội và
đƣa ra một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả các tuyến điểm đó.
Đề tài cấp nhà nƣớc về tuyến điểm du lịch phải kể đến đề tài khoa học cấp bộ
của PGS.TS Phạm Trung Lƣơng và nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu phát
triển du lịch “Cơ sở khoa học xây dựng các tuyến điểm du lịch”. Có thể nói đây là
một đề tài nghiên cứu đạt đƣợc nhiều thành công, có tính ứng dụng cao, là cơ sở
quan trong cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng về xây dựng các tuyến điểm du lịch.
Nhìn chung đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề
văn hóa tâm linh và xây dựng tuyến điểm du lịch với những nội dung phong phú,
đa dạng. Tuy nhiên về xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh còn là vấn đề
khá mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là thực trạng phát triển du lịch và
tuyến điểm du lịch tỉnh Hải Dƣơng, một số di tích tiêu biểu cùng với các giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh Hải Dƣơng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian:
Nghiên cứu việc xây dựng tuyến điểm du lịch và hoạt động du lịch văn hóa
truyền thống, đặc trƣng quan trọng nhất của ngành Địa lí học và Du lịch học. Để
hoàn thành luận văn tác giả đã tiến hành khảo sát, điều tra thực địa tại các di tích
trọng điểm có khả năng khai thác phục vụ mục đích du lịch văn hóa tâm linh trên
địa bàn tỉnh Hải Dƣơng cụ thể là khu danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc, đền thờ Chu
Văn An, đền Sinh – đền Hóa, chùa Thanh Mai, cụm di tích đền Cao, Văn miếu Mao
Điền, đền Tranh, đền Cao – An Phụ
Thời gian khảo sát, thực địa vào mùa lễ hội của các di tích và tháng 7 dƣơng
lịch (tháng nghỉ hè và cũng là thời điểm các di tích thƣờng vắng khách). Các hoạt
động tác giả tiến hành khi đi khảo sát, điều tra thực địa là quan sát, mô tả, điều tra,
ghi chép, chụp ảnh, ghi âm tại các điểm cần nghiên cứu; Đồng thời tác giả đã tiến
hành gặp gỡ, trao đổi với các nhà quản lý các khu di tích và danh thắng, chính
quyền địa phƣơng, cơ quan quản lý tài nguyên (ban quản lí các di tích, phòng quản
lí di sản - Sở Văn hoá- Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dƣơng), cơ quan quản lý
chuyên ngành ở địa phƣơng và cộng đồng sở tại (Phòng Nghiệp vụ du lịch- Sở Văn
hoá- Thể thao và Du lịch Hải Dƣơng).
12
Việc khảo sát, điều tra thực địa giúp tác giả tránh đƣợc những kết luận, quyết
định chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn. Ngoài ra còn giúp cho việc so sánh,
đánh giá và kiểm tra độ chính xác của những tƣ liệu đã có, khắc phục hiệu quả
những hạn chế của phƣơng pháp thu thập, xử lý số liệu trong phòng.
5.3. Phƣơng pháp bản đồ - GIS
Phƣơng pháp này có mặt ngay từ khi Địa lý du lịch ra đời với tƣ cách nhƣ
một khoa học. Bản đồ là một phƣơng tiện không những phản ánh những đặc điểm
về không gian, về nguồn tài nguyên, các luồng khách, các cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ du lịch hoặc thuộc tính riêng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch.
Phƣơng pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lý cho phép kết hợp các thông
tin với các đối tƣợng của bản đồ và tạo ra các mối quan hệ mới có thể đƣợc sử dụng
cho nhiều mục đích ứng dụng nhƣ: đánh giá tài nguyên, xác định vị trí thuận lợi cho
phát triển các tuyến du lịch, đánh giá các tác động đến môi trƣờng.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và xây dựng
tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh
Chƣơng 2: Thực trạng khai thác du lịch văn hóa tâm linh và xây dựng tuyến
điểm du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Hải Dƣơng
Chƣơng 3: Một số giải pháp xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh ở
tỉnh Hải Dƣơng
14
NỘI DUNG
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH VÀ XÂY DỰNG TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
1.1. Du lịch văn hoá và du lịch văn hoá tâm linh
1.1.1. Du lịch văn hoá
Ngày nay du lịch văn hóa đang là một xu hƣớng của các nƣớc đang phát
triển, đem lại lợi ích lớn lao cho cộng đồng xã hội. Bên cạnh những loại hình du
lịch truyền thống nhƣ du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo
hiểm… gần đây du lịch văn hóa đƣợc xem là loại sản phẩm đặc thù của các nƣớc
đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch
chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả
những phong tục tập quán, những tín ngƣỡng, tôn giáo… để tạo sức hút đối với
khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch thích
nghiên cứu khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là
cơ hội tốt để phát triển nhu cầu của họ. Loại hình du lịch văn hóa này rất phù hợp
với bối cảnh của Việt Nam bởi Việt Nam là quốc gia giàu truyền thống văn hóa, có
nét đặc sắc trong phong tục, tập quán, tín ngƣỡng, tôn giáo.
Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du
khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển, đƣợc quan tâm đầu tƣ phát triển
ở nhiều nƣớc trong đó có Việt Nam.
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2007 có định nghĩa: “Du lịch văn hóa là
hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng
tín ngƣỡng ở Việt Nam dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ văn hóa, xã hội, lịch sử…
Dƣới mỗi góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu, họ lại đƣa ra những quan điểm, khái
niệm khác nhau về vấn đề tín ngƣỡng.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự
ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người
tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh
hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội
theo niềm tin thiêng liêng ấy”. [19; tr. 351]
Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh lại đƣa ra quan điểm
khác cụ thể hơn, rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào
cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng
vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát
được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào
“cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó
là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời
sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ”. [43; tr. 16]
16
Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn sau một thời gian nghiên cứu ông đã
khẳng định: “Trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liêng liên quan đến một thế
giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra
nó”. [47; tr. 67].
Ngoài ra, nhà tâm lí học nổi tiếng ngƣời Mỹ - M. Scott đƣa ra quan điểm của
mình về vấn đề tín ngƣỡng nhƣ sau: “Chúng ta dường như có xu hướng định nghĩa
hai chữ tín ngưỡng một cách quá hạn hẹp. Ta thường chỉ coi rằng tín ngưỡng phải
gắn liền với một niềm tin nào đó vào Thượng đế, hoặc phải gắn liền với một số thực
hành nghi lễ, hoặc phải là thành viên trong một cộng đồng phụng sự. Theo tôi, tín
ngưỡng chính là sự cảm nhận của con người về thế giới mà họ đang sống, về cuộc
sống xung quanh họ và về vị trí của bản thân họ trong thế giới đó”.
Trong đời sống thƣờng ngày hiện nay, khi nói đến tín ngƣỡng ngƣời ta
tộc và nhiều tác giả trên thế giới. Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên
hệ giữa thần thánh và con người”. Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là
sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu
anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo cả”. Bên cạnh đó C.Mác lại
đƣa ra một khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội: “Tôn giáo là tiếng thở dài
của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần
của trật tự không có tinh thần” hay “… tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác
của con ngƣời khi chƣa tìm đƣợc bản thân mình một lần nữa. Con ngƣời chính là
thế giới con người, là nhà nƣớc, là xã hội. Nhà nƣớc ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn
giáo, tức thế giới quan lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là
cƣơng yếu bách khoa của nó, là lôgic dƣới hình thức phổ cập của nó, là vấn đề danh
dự duy linh luận của nó, là sự nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của
nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi
và biện hộ” [24; tr. 33]. Còn Ph.Ăngghen lại có khái niệm mang khía cạnh nguồn
gốc của tôn giáo: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con
người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị học trong đời sống hàng
ngày…”
Có thể nói tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con ngƣời trong cuộc
đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất
mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hƣớng con ngƣời đến một hy vọng
18
tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc
đời mà quá khứ, hiện tại, tƣơng lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con
ngƣời, dù có phần ảo tƣởng để yên tâm, tin tƣởng để sống và phải sống trong một
thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Trong cuốn Lý luận tôn giáo và vấn đề tôn giáo ở Việt Nam của giáo sƣ
Đặng Nghiêm Vạn viết: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lƣợng siêu nhiên, vô hình,
mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách hƣ ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ ở thế giới bên kia.
liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó.
Những giá trị tâm linh ấy hết sức bền vững và có thể nói nó là hằng số của
văn hóa gia đình. Không một sự thay đổi nào về trạng thái xã hội, về giá trị cấu trúc
và giá trị chức năng của gia đình có thể làm cho những giá trị tâm linh ấy mất đi.
Giá trị văn hóa tâm linh của văn hóa gia đình vẫn tồn tại vĩnh cửu chừng nào con
ngƣời còn tồn tại”.
Qua đây cho chúng ta nhận thấy đƣợc rằng đời sống tâm linh chính là nền
tảng vững chắc nhất trong mối quan hệ cộng đồng, làng xã từ xƣa tới nay.
Trong cuốn sách Văn hóa tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy có viết:
“Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng
liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Những cái thiêng liêng cao cả, niềm tin
thiêng liêng đọng lại ở những không gian, biểu tượng, hình ảnh, ý niệm thiêng
liêng.
Tâm linh thể hiện ở nhiều mặt trong đời sống tinh thần của con người, trong
đó tín ngưỡng tôn giáo chiếm một mảng quan trọng…” [18; tr. 11]
Chính vì vậy mà trong đời sống của ngƣời dân Việt Nam yếu tố tâm linh
luôn đƣợc đề cao và nó tồn tại trong đời sống của các cá nhân (niềm tin thiêng liêng
vào đền, chùa, phật…); trong đời sống gia đình (thờ cúng tổ tiên); trong đời sống
cộng đồng làng xã (thờ thành hoàng làng, anh hùng có công dựng và giữ nƣớc);
ngoài ra còn có tâm linh với tổ quốc giang sơn đất nƣớc, với văn học nghệ thuật và
trong tín ngƣỡng, tôn giáo…
* Văn hoá tâm linh:
Từ xa xƣa, trong các hoạt động văn hóa truyền thống dân tộc, ngƣời Việt
Nam đều tổ chức hoạt động văn hóa tâm linh, hoặc do nhà nƣớc Trung ƣơng tổ
chức, hoặc do làng xã tổ chức theo những lễ nghi trang trọng, uy linh, với sự tham
gia một cách thành kính, tự nguyện của nhân dân nhƣ lễ giỗ tổ Hùng Vƣơng, lễ tế
Trời, Đất, tế Thần, Thánh, tế Tổ tiên nhằm mục đích cầu cho quốc thái dân an,
mong cho con cháu đƣợc mạnh khỏe, hạnh phúc… Thông qua những hoạt động văn
hóa tâm linh đó, bản thân con ngƣời ta tự tu tâm tích đức để trở lên tốt đẹp hơn,
đoàn kết hơn, hƣớng thiện hơn, bớt đi cái ác, cái xấu trong lòng.Ý nghĩa tích cực
hành hƣơng
Theo Thƣợng tọa Thích Đạo Đạo trong tham luận Hoằng pháp với vấn đề
du lịch tâm linh ông cho rằng: “Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền
thống. Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim. Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết
hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh. Nâng cao được
giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh, cụ thể đối với Phật giáo chúng ta là hiểu
hơn về chân lý giải thoát, giá trị chân thực của cuộc sống hiện tại”.
21
Còn cựu tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ Abdul Kalam thì cho rằng: “Du lịch tâm
linh có nghĩa là thăm viếng bằng trái tim”.
Việt Nam coi du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch văn hóa chuyên
đề, một trong những nhân tố phát huy giá trị tinh thần, lòng yêu nƣớc, niềm tin, tăng
cƣờng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nƣớc. Tín
ngƣỡng, văn hóa vừa đƣợc coi là giá trị cốt lõi của sản phẩm du lịch tâm linh, vừa là
sợi dây kết nối tâm hồn ngƣời Việt Nam với bạn bè quốc tế. Theo Tổng cục trƣởng
Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn, xét về chất, du lịch văn hóa tâm linh thực chất
là loại hình du lịch văn hóa trong đó, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm cơ sở và mục
tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời trong đời sống tinh thần.
Du lịch văn hóa tâm linh chính là khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh
trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào các giá trị văn hóa vật thể, phi
vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con ngƣời về thế giới, những giá trị
về đức tin, tôn giáo, tính ngƣỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác.
Hoạt động chủ yếu của du lịch văn hóa tâm linh đó là: Hành hƣơng đến
những điểm tâm linh nhƣ những ngôi chùa, các tòa thánh, đền, đài, lăng, tẩm, phủ,
khu tƣởng niệm…; tại đó tiến hành các hoạt động thờ cúng: thờ cúng thành hoàng,
thờ mẫu, thờ cúng tổ nghề, thờ tam phủ, tứ phủ, thờ tứ pháp, thờ bốn vị tứ bất tử,
thờ danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, thờ táo quân, thổ địa… Bên cạnh đó là
các hoạt động chiêm bái, cầu nguyện, tụng kinh, thiền, yoga, pháp đàm; thiền trà;
tham vấn; pháp thoại; thiền ca… Ngoài ra trong hoạt động của du lịch văn hóa tâm
phật tử sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật. Chùa từ lâu cũng đã trờ thành
yếu tố cốt lõi trong sản phẩm du lịch văn hóa của ngành du lịch. Du khách có thể đi
du lịch đến các di tích Phật giáo để thực hiện những ý niệm thiêng liêng cũng nhƣ
nâng cao sự hiểu biết về tôn giáo thông qua các đối tƣợng cụ thể nhƣ kiến trúc,
tƣợng thờ, điêu khắc, các di vật
+ Nhà thờ: hay còn đƣợc gọi là thánh đƣờng, nhà thờ có nhiều cấp độ khác
nhau tùy theo tính chất, điều kiện và đặc thù của từng địa phƣơng. Bình đồ của nhà
thờ phải phục vụ cho các nghi lễ và cả tín đồ tụng niệm. Kiến trúc nhà thờ thƣờng
đƣợc chia thành ba khu chính là buồng áo, gian thánh và khu hội chứng.
+ Văn miếu: là công trình kiến trúc công cộng thƣờng để thờ Khổng Tử và
các bậc tiên triết, tiên nho, ngoài ra còn bao gồm cả hệ thống trƣờng học, trƣờng thi
mà chính ở đó diễn ra quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân tài dƣới các triều đại
phong kiến Việt Nam nhƣ văn miếu Quốc Tử Giám, văn miếu Mao Điền, văn miếu
Xích Đằng
+ Đình: Là công trình kiến trúc công cộng của làng quê Việt Nam, đó là nơi
sinh hoạt văn hóa của cƣ dân nơi đây. Đình là công trình kiến trúc đƣợc dựng lên
làm nơi thờ thành hoàng làng và là nơi diễn ra lễ hội làng, là nơi họp bàn các công
việc của làng.
+ Đền: là công trình kiến trúc đƣợc xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc
để ghi nhớ công ơn của anh hùng dân tộc, ngƣời có công với đất nƣớc.
23
+ Miếu: Miếu thƣờng có miếu thờ thần tự nhiên nhƣ thần cây, thần đá, thần
núi, sông , miếu thờ tổ ngành nghề
+ Phủ: là nơi thờ Mẫu. Mẫu đƣợc tôn là các bà Chúa. Phủ xuất hiện muộn
hơn so với các công trình kiến trúc đền, chùa.
1.2. Tuyến điểm du lịch và tuyến điểm du lịch văn hoá tâm linh
1.2.1 Tuyến điểm du lịch
* Điểm du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2007 đã đƣa ra định nghĩa về điểm du lịch
Điểm du lịch đô thị gồm các điểm du lịch mà ở đó chủ yếu phát triển các loại
hình du lịch liên quan đến các nhân tố kinh tế - chính trị. Đó là các đô thị, trung tâm
kinh tế và chính trị của thế giới, quốc gia hay khu vực.
Điểm du lịch đầu mối, mạng lƣới giao thông nơi có: ga xe lửa, bến cảng, sân
bay, nơi giao cắt các trục đƣờng lớn thƣờng cũng trở thành điểm có nhiều cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch phục vụ du khách nhƣ khách sạn ga, nhà trọ, nhà hàng ăn
uống, nơi vui chơi giải trí, cửa hàng lƣu niệm, tạp hoá
Thông thƣờng trên thực tế, các yếu tố tạo nên các điểm du lịch nói trên
thƣờng không tách rời và ảnh hƣởng đồng thời lẫn nhau. Bởi vậy, việc sắp xếp các
điểm du lịch chủ yếu theo ý nghĩa của chúng. Đó là hệ thống các điểm du lịch có ý
nghĩa địa phƣơng, vùng, quốc gia và quốc tế. Mỗi đối tƣợng không gian của hoạt
động kinh tế đều có đặc trƣng, đặc trƣng riêng của điểm du lịch nhƣ : Điểm du lịch
mang tính xen ghép. Tại các điểm du lịch luôn tồn tại nhiều ngành nghề, đối tƣợng
đa dạng khác nhau và có nhiều hoạt động có thể có mục đích hỗ trợ hoặc trái ngƣợc.
Vì vậy, điểm đến du lịch mang tính phức tạp, khó kiểm soát và định hƣớng chặt
chẽ. Điểm du lịch giống nhƣ một sản phẩm cụ thể có chu kì vòng đời phát triển, bão
hoà và suy thoái. Các điểm du lịch Việt Nam chủ yếu nằm trong giai đoạn phát
triển, một số nơi mới chỉ là điểm tiềm năng; do đó các sản phẩm du lịch ra đời ồ ạt,
lƣợng khách đến ngày càng nhiều kéo theo sự đa dạng hoá các hoạt động xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề chúng ta đang gặp phải là sự không đồng đều giữa các điểm du
lịch dẫn đến sự quá tải ở một số điểm du lịch truyền thống và khai thác không hiệu
quả tại các điểm du lịch mới. Khả năng sức chứa của điểm đến du lịch, tức là sự đàn
hồi tối đa của điểm du lịch trƣớc áp lực của hoạt động du lịch đến môi trƣờng sinh
thái, môi trƣờng kinh tế - xã hội. Lý thuyết sức chứa của điểm đến du lịch giúp
chúng ta xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng hiện tại của hoạt động du lịch lên nguồn
tài nguyên, tính toán đƣợc sự suy thoái của chúng và xây dựng đƣợc hƣớng đi bền
vững cho tƣơng lai điểm du lịch. Nhƣ vậy, điểm du lịch có thể là một địa phƣơng,
một đất nƣớc hay một vùng đất mà ở đó có nguồn tài nguyên du lịch phong phú dựa
trên một số tiêu chuẩn quy định của mỗi quốc gia về mức độ hấp dẫn của tài
nguyên; cơ sở vật chất kỹ thuật; khả năng phục vụ du khách và những đóng góp
+ Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trƣờng và cơ sở dịch vụ phục vụ
khách du lịch dọc theo tuyến.
Về mặt không gian lãnh thổ, tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng,
tiểu vùng, trung tâm) hoặc tuyến liên vùng (giữa các vùng)
Đối với cấp tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du lịch ngoại tỉnh (liên
tỉnh)
1.2.2. Tuyến, điểm du lịch văn hoá tâm linh
Điểm du lịch văn hóa tâm linh bao gồm những điểm du lịch phát triển trên
thể loại du lịch văn hóa tâm linh nhƣ: Trung tâm lịch sử (điểm du lịch lịch sử) là nơi
có các công trình xây dựng từ xa xƣa. Đó là các thành phố, đô thị hoặc làng cổ vẫn