nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người hà nội (khảo sát trên địa bàn quận đống đa) - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN
HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
(Khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà nội - 2010
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN
HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
(Khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN PHẠM HÙNG
Hà nội - 2010
2
MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lí do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 9
3. Mục đích nghiên cứu 11
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 11

2.1 Khái quát về Hà Nội 44
2.1.1 Hà Nội 44
2.1.2 Người Hà Nội

46
2.1.2.1 Dân số 46
2.1.2.2 Mật độ dân cư 46
2.1.2.3 Nguồn gốc dân cư 46
2.1.2.4 Một số đặc điểm văn hóa của người Hà Nội 51
2.2 Khái quát về quận Đống Đa 59
2.2.1 Vị trí địa lý

59
2.2.2 Lịch sử hình thành

60
2.2.3 Đặc điểm dân cư

61
4
2.2.4 Đặc điểm kinh tế

62
2.2.5 Đặc điểm văn hóa xã hội

63
2.3. Các hình thức tổ chức hoạt động du lịch văn hoá tâm linh ở quận Đống
Đa 64
2.3.1. Hình thức cá nhân


2.6.1 Độ tuổi

99
2.6.2 Giới tính

100
2.6.3 Trình độ học vấn

101
2.6.4 Mục đích đi du lịch

102
2.6.5 Thời điểm đi du lịch

102
2.6.6 Độ dài chuyến đi

102
2.7 Đánh giá về hoạt động du lịch văn hóa tâm linh ở quận Đống Đa 103
2.7.1 Mặt mạnh

103
6
2.7.2 Mặt yếu

104
Tiểu kết chương 2 106
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
VĂN HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI (QUA KHẢO SÁT Ở
QUẬN ĐỐNG ĐA) 108

3.2.5 Giải pháp về an ninh, an toàn du lịch

132
Tiểu kết chương 3 133
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
PHỤ LỤC
8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2. GS.TS: Giáo sư. Tiến sĩ
3. PGS.TS: Phó giáo sư. Tiến sĩ
4. UBND: Ủy ban nhân dân
5. UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc
(United Nations Educational Scientific and Culural Oganization)
6. WTO: Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Oganization)
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Bảng 2.1: Danh mục chùa tại quận Đống Đa
2. Bảng 2.2: Danh mục đình tại quận Đống Đa
3. Bảng 2.3: Danh mục đền tại quận Đống Đa
4. Bảng 2.4: Danh mục miếu tại quận Đống Đa
5. Bảng 3.1: Tương quan về số lượng di tích xếp hạng ở Hà Nội - Huế -
Tp. Hồ Chí Minh
6. Bảng 3.2: Mật độ di tích được xếp hạng phân theo quận, huyện
7. Bảng 3.3: Số lượng và tỷ lệ các loại hình di tích Hà Nội
8. Bảng 3.4: Các di tích có giá trị đặc biệt về mặt du lịch ở Hà Nội
10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

tự tại của truyền thống, Đó là những vẻ đẹp rất đỗi kinh kỳ, rất đỗi Thăng
Long, rất đỗi Đông Đô và rất đỗi Hà Nội. Hà Nội còn được biết đến với cái
tên là mảnh đất ngàn năm văn vật. Nơi đây hội tụ rất nhiều di tích lịch sử, di
tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao như Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa
Một Cột, Đền Ngọc Sơn. Ngoài ra, thủ đô cũng có hàng ngàn các lễ hội
truyền thống diễn ra quanh năm. Với những điều kiện đó du lịch văn hóa tâm
linh cũng trở thành loại hình du lịch quan trọng của Hà Nội.
Hà Nội hiện đang cùng cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Hà Nội không ngừng phát triển kinh tê, văn hóa – xã hội để luôn
xứng tầm với vị thế thủ đô của cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,
Hà Nội cũng không thể tránh khỏi việc đối mặt với những khó khăn thách
thức: sự gia tăng dân số, suy đồi về lối sống, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, dịch
bệnh, ô nhiễm môi trường, Vì vậy, người dân Hà Nội đặc biệt người dân các
quận nội thành đang hàng ngày phải chịu nhiều áp lực của cuộc sống đô thị.
Do đó, để có thể cân bằng cuộc sống cũng như thỏa mãn nhu cầu tinh thần thì
họ đã dành thời gian cho các chuyến du lịch để nghỉ ngơi, giải trí, Bên cạnh,
những chuyến du lịch thuần túy, họ còn thực hiện các cuộc hành trình kết hợp
cả hai yếu tố du lịch và tâm linh. Trong các chuyến du lịch này, họ không chỉ
được thỏa mãn các nhu cầu vật chất (các dịch vụ ăn uống, ngủ nghỉ, ) mà
quan trọng hơn là được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần về mặt tâm linh
(chiêm bái, cầu khấn, thực hành các nghi lễ truyền thống). Những chuyến
hành trình đó còn được gọi là du lịch văn hóa tâm linh.
12
Hà Nội có nguồn tài nguyên du lịch tín ngưỡng, tâm linh phong phú
bậc nhất của cả nước, nhưng hiện nay chưa được nghiên cứu thật đầy đủ. Hà
Nội cũng là nơi có sản phẩm du lịch tín ngưỡng tâm linh đa dạng, nhiều vẻ,
và có sức hấp dẫn bậc nhất trong cả nước, nhưng chưa được khai thác có hiệu
quả và đầy đủ. Nhu cầu du lịch tín ngưỡng, tâm linh của người Hà Nội cũng
rất cao, nhưng hầu như chưa có công trình nào đề cập đến một cách toàn diện
và kỹ lưỡng… Với những lý do trên, đề tài "Nghiên cứu hoạt động du lịch

Nguyễn Trọng Đàn với Thăng Long Hà Nội, Nguyễn Thế Long với Chùa Hà
Nội, Nguyễn Thế Long với Đình, đền Hà Nội….Nội dung chủ yếu mà các
công trình này nghiên cứu là về đặc điểm văn hóa của người Hà Nội, thành
tựu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Hà Nội qua hàng ngàn năm lịch
sử.
Bên cạnh đó, các công trình về du lịch Hà Nội tiêu biểu như: Nguyễn
Vinh Phúc với Hà Nội - thành phố ngàn năm, Hà Nội – cõi đất, con người,
Hà Nội qua những tháng năm, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân,
Nguyễn Hữu Quỳnh với Bách khoa thư Hà Nội, Giang Quân với Hà Nội xưa
và nay, Thăng Long Hà Nội 1000 năm truyền thống và thanh lịch, Mai Thục
với Tinh hoa Hà Nội, Hoàng Đạo Thúy với Hà Nội thanh lịch, Người và cảnh
Hà Nội, Phố phường Hà Nội xưa, Trần Quốc Vượng với Hà Nội nghìn xưa…
đã nghiên cứu rất đầy đủ về tài nguyên cũng như sản phẩm du lịch Hà Nội
Về đề tài du lịch văn hóa, tâm linh, nói chung và trên địa bàn Hà Nội
nói riêng cũng có một số công trình như: Nguyễn Vinh Phúc với Du lịch Hà
Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long, Nguyễn Phạm Hùng với Tượng đài Hà
Nội và du lịch văn hoá, Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc, Khai thác món ăn dân tộc trong các khách sạn ở Hà Nội, Tiềm năng
14
du lịch phố cũ Hà Nội, Du lịch đêm Hà Nộ; Đa dạng văn hóa và sự phát triển
du lịch ở Việt nam… Các nghiên cứu này đã đề cập đến du lịch văn hóa và
việc khai thác các di sản văn hóa Hà Nội vào hoạt động du lịch văn hóa.
Như vậy, tất cả những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra nội
dung rất phong phú về văn hóa, văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch Hà
Nội nhưng chưa đề cập đến du lịch văn hóa tâm linh. Tuy nhiên, chúng tôi
nhận thấy, các tài liệu nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi rất nhiều trong khi
thực hiện đề tài. Chúng tôi đã kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu trước đây.
Đồng thời, chúng tôi cũng nhận thấy, vấn đề du lịch tín ngưỡng, tâm linh của
người Hà Nội hiện là một nội dung nghiên cứu còn rất nhiều vấn đề cần tiếp
tục tìm hiểu, đánh giá, nghiên cứu để có thể có được những kết luận thỏa đáng

lịch tín ngưỡng, tâm linh, và một số đề xuất, giải pháp cho hoạt động du lịch
này.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: sách, giáo trình; báo, tạp
chí chuyên ngành và báo, tạp chí có nội dung liên quan; công trình khoa học;
văn bản pháp quy về du lịch và liên quan đến du lịch, các văn bản pháp quy
về tín ngưỡng tôn giáo và việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa; các báo cáo
của quận Đống Đa; hồ sơ di tích, các trang web.
6.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các nguồn
tài liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho
mục đích điều tra và nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành các quan điểm, nhận
xét để đưa cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu.
16
6.3 Phương pháp khảo sát
Khảo sát là phương pháp nghiên cứu hiệu quả để thu thập được những
thông tin mong muốn. Phương pháp này cho cái nhìn khách quan về đối
tượng và mang tính trung thực. Phương pháp này được áp dụng tại các điểm
du lịch tín ngưỡng, tâm linh trên địa bàn quận Đống Đa, nhằm tìm hiểu về
điểm đến, các sản phẩm của du lịch văn hóa tâm linh và đặc điểm của khách
du lịch.
7. Bố cục của Luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Một số quan điểm lý luận liên quan đến đề tài, trình bày
quan điểm lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và đưa ra hiệu quả của du lịch
văn hóa tâm linh.
Chương 2: Thực trạng du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội
(qua khảo sát ở quận Đống Đa), trình bày các hình thức tổ chức hoạt động
du lịch văn hóa tâm linh của người dân quận Đống Đa; các sản phẩm du lịch

là A.Croeber và C.Kluckholn thì trong giới nghiên cứu phương Tây có 6
nhóm định nghĩa về văn hoá. Sự phong phú của quan niệm văn hóa giúp ta có
cái nhìn đa chiều về nó.
18
Ở nước ta, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm "văn hiến". Từ đời Lý
(1010) người Việt đã tự hào nước mình là một "văn hiến chi bang". Đến đời
Lê (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi đã viết "Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn
hiến chi bang" – Duy nước Đại Việt ta thực sự là nước văn hiến. Từ văn hiến
mà Nguyễn Trãi dùng ý muốn chỉ một nền văn hóa cao trong đó nếp sống tinh
thần, đạo đức được chú trọng. Cũng trong tác phẩm "Bình Ngô đại cáo",
Nguyễn Trãi viết:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Theo một số nhà nghiên cứu, từ "văn hiến" mà Nguyễn Trãi dùng ở
đây, về một khía cạnh nào đó, đồng nghĩa với từ "văn hoá". Tuy nhiên, phải
đến đầu thế kỷ XX thì khái niệm văn hoá mới xuất hiện với tư cách là khái
niệm khoa học.
Từ khi UNESCO phát động "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá"
(1988-1997), nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã chú trọng nghiên cứu lý
luận về văn hoá. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều dựa trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét các vấn đề văn hoá.
Tuy nhiên, do văn hoá là hiện tượng vô cùng phức tạp, các nhà nghiên cứu lại
nghiên cứu văn hoá từ những phương diện, góc nhìn khác nhau, nên các quan
niệm về văn hoá cũng khác nhau. Vì vậy, để tránh lạc lối trong nghiên cứu về
bản chất của văn hoá, trước hết, chúng ta có thể phân thành hai loại quan
niệm về văn hoá: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Từ góc độ tiếp cận Triết
học Mác – xít, các nhà nghiên cứu ở nước ta đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về
bản chất và vai trò của văn hoá. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, nói
văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất
của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Đặc trưng cơ

người với môi trường tự nhiên và xã hội."[42,tr10]
Tất nhiên, ở đây giá trị cần được hiểu không chỉ là một loại "thước đo"
hoàn toàn mang tính chủ quan. Giá trị được nhận thức là thuộc tính của sự vật
có ích cho con người khi quan hệ với con người. Giá trị được quyết định bởi
cấu trúc, tính chất và công năng của bản thân sự vật nhưng chỉ phát lộ trong
quan hệ với con người. Do đó, giá trị không hoàn toàn mang tính chủ quan mà
có cả mặt khách quan và mặt chủ quan. Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn nhấn
mạnh: "Tất nhiên, toàn bộ giá trị ở đây là những sản phẩm có ích, thoả mãn
nhu cầu nhân sinh, đáp ứng sự phát triển - tiến bộ của xã hội. Bởi những sản
phẩm do con người sáng tạo ra không những không đáp ứng nhu cầu tiến bộ,
mà còn phản tiến bộ, đó là sản phẩm phản văn hoá." [15, tr.52] Như vậy, việc
xem văn hoá là giá trị vật chất và tinh thần kết tinh năng lực bản chất của con
người khắc phục được quan niệm đối lập tuyệt đối giữa xã hội với tự nhiên và
quan niệm đồng nhất giữa văn hoá với xã hội. Đồng thời, nó bao hàm ý nghĩa
rằng, văn hoá không phải là cái tồn tại một cách cô lập với con người mà luôn
trong mối quan hệ hữu cơ với con người, do con người sáng tạo ra và đến lượt
nó lại có tác dụng hoàn thiện, hoàn mỹ con người – xã hội.
Như vậy, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, tức tất cả những gì phi tự nhiên
là văn hóa, thì nó vừa giá trị, vừa lại phản giá trị. Nhưng văn hóa hiểu theo
nghĩa hẹp thì chỉ là giá trị mà thôi. Thuật ngữ văn hóa tâm linh được dùng là
theo nghĩa hẹp.
1.1.2 Tâm linh
1.1.2.1 Khái niệm
Theo nhà tâm lý học Sigmund Freud, con người là thực thể đa chiều.
Trong đó có 3 kích thước cơ bản: bản chất sinh học, bản chất xã hội và bản
chất tâm linh. Ba bản chất này được tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều
21
cao của con người. Bản chất sinh học và bản chất xã hội thì đã được nghiên
cứu rất nhiều, nên tuy không còn phải vấn đề nữa nhưng việc nhận định nó thì
đã khá xác định. Còn bản chất tâm linh thì ít được các nhà khoa học quan tâm

những hoạt động "bên trong", nhất là những hoạt động của đời sống tâm linh,
là điều tệ hại nhất đối với sự tồn tại người. Vấn đề đặt ra là phải lập lại sự cân
bằng của hai hoạt động ấy, hai "đời sống" ấy.
Như vậy, cái tâm linh không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa học
mà còn là đối tượng của khoa học. Và không chỉ có nghiên cứu về nó, người
ta còn có thể đề ra những phương pháp phát triển tâm linh của con người bằng
những thể nghiệm, những thực nghiệm về nó. Từ đây chí ít ở lĩnh vực đời
sống tâm linh, tôn giáo và khoa học không còn loại trừ nhau như nước với lửa
nữa, mà có thể gần gụi nhau, thúc đẩy nhau làm phong phú lẫn nhau nhằm
đưa con người đến một sự phát triển hài hòa ở tất cả các mặt sinh học – xã hội
– tâm lý – tâm linh.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo hai nghĩa: "1.
Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan
niệm duy tâm. 2.Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh."
Thuật ngữ tâm linh có hai từ tiếng Anh tương đương là spiritualism và
psychic. Spiritualism mang hai nghĩa: thứ nhất là niềm tin tôn giáo – triết học
về sự tồn tại sau cái chết; thứ hai là tâm trí, tâm hồn, tinh thần (nghĩa này ít
dùng). Còn psychic lại được hiểu theo nghĩa hiện tượng dị thường, huyền bí.
Trong cuốn "Tâm linh Việt Nam", Nguyễn Duy Hinh quan niệm: Tâm
linh là thể nghiệm của con người (Tâm) về cái Thiêng (linh) trong Tự nhiên
và Xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logíc không phân biệt
thiện ác.[13,tr52]
23
Tác giả giải thích tâm linh là một khát vọng trí tuệ của con người.
Trong quá trình tồn tại, con người không bằng lòng khai thác tự nhiên hái quả
săn mồi sinh con đẻ cái như mọi động vật khác. Con người luôn có khát
vọng tìm hiểu và lý giải tự nhiên (trời, đất, nước, muôn loài ) và bản thân
con người để cải thiện cuộc sống của họ. Đó là khác biệt cơ bản giữa con
người và động vật. Qua trải nghiệm cụ thể, lâu dài mỗi dân tộc có một tâm
linh riêng biệt đặc sắc song cũng đều qui vào giải thích về trời đất và con

Ý thức của con người thì rất đa dạng như ý thức về toán học, ý thức về văn
học, ý thức về cộng đồng Trong đó, ý thức tâm linh là ý thức hướng về cái
thiêng liêng cao cả. Ý thức tâm linh được ngưng tụ theo hai cách:
Cách thứ nhất là ở ý niệm, con người phải hành động thì sự thiêng liêng
mới được bộc lộ. Ví dụ như người ta có ý niệm thiêng liêng âm dương giao
hòa, đực cái phối hợp nên đã tiến hành nhiều nghi lễ trò diễn phồn thực.
Người ta quan niệm có thổ địa linh thiêng nên mỗi khi xây nhà phải làm lễ
động thổ
Cách thứ hai là đọng lại ở các hình ảnh, biểu tượng. Biểu tượng là tiếng
nói chung để biểu thị ước lệ về một tín hiệu. Trong đó, mọi biểu tượng thiêng
liêng đều chứa đựng những giá trị cao cả, giá trị thẩm mỹ. Vì vậy, mọi biểu
tượng thiêng liêng là cơ sở bền vững cho nhiều mối quan hệ của con người.
Mọi người trong làng có mối quan hệ khăng khít với nhau vì họ cùng có
chung biểu tượng thiêng liêng mái đình, cây đa, giếng nước mà đi đâu ai cũng
nhớ. Hay cả dân tộc Việt Nam đoàn kết trong mối quan hệ cùng một tổ tiên
với biểu tượng núi Lĩnh và đền Hùng.
25

Trích đoạn Hình thức du lịch Khách du lịch của du lịch văn hóa tâm linh Hiệu quả của du lịch văn hóa tâm linh Nguồn gốc dân cư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status