Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
PHAN TH H PHNG
NGHIấN CU PHT TRIN DU LCH
VN HểA BIN O KHNH HềA luận văn thạc sĩ du lịch
Hà Nội, 2014 Đại học quốc gia hà nội
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3. Mục đích nghiên cứu 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
6. Bố cục luận văn 12
7. Đóng góp của luận văn 13
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN
ĐẢO 14
1.1. Các khái niệm liên quan 14
1.1.1. Khái niệm văn hóa 14
1.1.2. Khái niệm du lịch văn hóa 15
1.1.3. Khái niệm văn hóa biển đảo 16
1.1.4. Khái niệm liên quan đến du lịch biển đảo 19
1.1.4.1. Khái niệm du lịch 19
1.1.4.2. Du lịch biển đảo 19
1.1.4.3. Khái niệm du lịch văn hóa biển đảo 19
1.2. Du lịch văn hóa biển đảo 20
1.2.1. Đặc điểm của du lịch biển đảo 20
1.2.2. Vai trò của du lịch biển đảo 20
1.2.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến du lịch văn hóa biển đảo 22
1.2.4. Những nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa biển đảo 23
1.3. Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch văn hóa biển đảo 24
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế 24
1.3.2. Kinh nghiệm trong nƣớc 30
1.4. Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch văn hóa biển đảo 33
2
Tiểu kết chƣơng 1 33
3
3.2.4. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực 100
3.2.5. Nhóm giải pháp về xúc tiến quảng bá du lịch văn hóa biển đảo 101
3.2.6. Nhóm giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng văn hóa biển 106
3.2.7. Nhóm giải pháp phát triển du lịch văn hóa biển đảo gắn với đảm bảo
an ninh quốc phòng 109
3.3. Một số kiến nghị 112
3.3.1. Đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc ở tỉnh 112
3.3.2. Đối với các doanh nghiệp du lịch 113
3.3.3. Đối với cộng đồng địa phƣơng và khách du lịch 113
Tiểu kết chƣơng 3 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 124 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Khách du lịch đến Nha Trang – Khánh Hòa giai đoạn 2008 – 2012 51
Bảng 2.2. Các yếu tố du khách quan tâm khi đến Khánh Hòa 52
Bảng 2.3. Doanh thu du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2008 – 2012 53
Bảng 2.4: Vốn đầu tƣ cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 62
Bảng 2.5. Đánh giá chung về hiện trạng nhân lực du lịch văn hóa biển đảo
Khánh Hòa 64
Bảng 2.6. Hoạt động Festival biển Nha Trang qua các năm 70
Bảng 2.7. Đánh giá chất lƣợng dịch vụ du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa 73
Bảng 3.1. Kết hợp các điểm đến du lịch biển đảo trong cả nƣớc 97 6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nguy cơ cạn kiệt tài nguyên đất liền trên toàn cầu, các quốc gia tiếp
LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA cho luận văn Thạc sĩ ngành Du
lịch của mình
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
* Về văn hóa biển đảo nói chung
Hiện nay, các công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa và cƣ dân biển đảo phục
vụ phát triển du lịch không có nhiều. Theo nhận xét của Ngô Đức Thịnh, kết quả của
việc nghiên cứu biển và cƣ dân ven biển, đảo - thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn vẫn còn khá khiêm tốn. Riêng bộ môn văn hóa dân gian nghiên cứu về biển thì kết
quả lại càng khiêm tốn hơn. Các công trình nghiên cứu khái quát về biển tiêu biểu nhƣ:
Luận án tiến sĩ lịch sử Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi của
Nguyễn Đăng Vũ (2003). Công trình này phản ánh khá toàn diện bức tranh văn hóa
dân gian của cộng đồng cƣ dân nơi đây: từ tín ngƣỡng, lễ hội cho đến nghệ thuật diễn
xƣớng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, ngữ văn dân gian.
Tác phẩm Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu của Phan An, Đinh
Văn Hạnh (2004). Các tác giả đã nghiên cứu, miêu tả một số lễ hội dân gian của ngƣ
dân địa phƣơng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình hình thành và phát triển.
Công trình Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ (2007) là kết
quả của 2 cuộc hội thảo do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp với Viện
Nghiên cứu Văn hóa, Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ngãi, Hội Văn học nghệ thuật
Kiên Giang tổ chức, đã cung cấp khá nhiều tri thức về văn hóa biển ở 02 khu vực này.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy có nhiều công trình nghiên cứu khác, nhƣ Nuyễn Thị
Hải Lê (2009) với Biển trong văn hóa người Việt đã khái quát toàn bộ biển trong các
lớp văn hóa của ngƣời Việt về không gian và thời gian, trong đời sống văn hóa vật chất
và tinh thần của ngƣời Việt. Chuyên khảo Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam –
Đà Nẵng (hình thái, đặc trưng và giá trị) của Nguyễn Xuân Hƣơng (2009). Cuốn sách
8
đã tập trung nghiên cứu về tín ngƣỡng thờ cá voi, tín ngƣỡng thờ Mẫu, thờ âm linh,
Lê Quang Nghiêm với chuyên khảo Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh
Hòa đã thể hiện sự công phu, nghiêm túc trong nghiên cứu thực địa. Công trình không
chỉ có giá trị đối với tục thờ cá Ông mà còn về tín ngƣỡng ngƣ dân vùng biển Khánh
Hòa nói chung. Đây là một công trình biên khảo về văn hóa biển.
Tục thờ cá Ông ở Khánh Hòa thông qua những tài liệu điền dã cụ thể trên địa bàn
Khánh Hòa đã cung cấp một diện mạo chung về tập tục này ở địa phƣơng (Nguyễn
Thanh Lợi 2002).
Nói tóm lại các công trình trên đã làm rõ những nghi lễ, tục thờ, tín ngƣỡng của
cộng đồng cƣ dân ven biển, đảo ở Khánh Hòa.
* Về nghệ thuật biểu diễn dân gian biển đảo Khánh Hòa
Nhiều tác giả đã giới thiệu và miêu tả các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
của cƣ dân vùng ven biển, đảo ở Khánh Hòa. Chẳng hạn nhƣ: bài viết Hò Bá Trạo ở
Khánh Hòa của Khánh Hải miêu tả một buổi trình diễn hoàn chỉnh của đội hò bá trạo,
gồm trò diễn chèo thuyền và điệu hò biển để phục vụ cho nghi thức cúng tế cá Ông của
ngƣ dân ven biển. Hoặc bài Múa bóng, múa hò bá trạo, múa siêu của cộng đồng cư
dân ven biển ở Vạn Ninh của tác giả Nguyễn Sĩ Chức.
* Về nghề truyền thống biển đảo Khánh Hòa
Một số tác giả đã giới thiệu, miêu thuật, cung cấp nhiều tƣ liệu quý về các nghề
đánh bắt truyền thống, đặc biệt là nghề lƣới đăng ở Khánh Hòa. Dƣới đây là một số bài
viết tiêu biểu:
Năm 2007, kế thừa nhiều thành tựu nghiên cứu của Guy Moréchand, 1952,
Nguyễn Thụy Anh (1952), Lê Quang Nghiêm (1970), Võ Khoa Châu, Nguyễn Viết
Trung có bài Lưới đăng – nghề biển truyền thống ở Khánh Hòa.
Các bài viết khác nhƣ: Nhƣ Hoàng có 2 bài Nghề đăng ở Khánh Hòa (1996), Nghề
đăng ở Bích Đầm (1997); Nguyễn Âu Hồng với bài Nghề lưới đăng truyền thống ở
Khánh Hòa (Nguyễn Văn Khánh cb 1999); Lê Đình Chi với bài Nghề lưới đăng ở
10
Khánh Hòa (2000); bài Nghiên cứu điều tra nghề lưới đăng ở Nha Trang; Võ Khoa
Luận văn của chúng tôi kế thừa những thành quả nghiên cứu của ngƣời đi trƣớc, cố
gắng trình bày những vấn đề có tính chung nhất và cấp thiết nhất cho phát triển du lịch
văn hóa biển đảo Khánh Hòa, nhƣ một sự tri ân đối với quê hƣơng.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua các nghiên cứu cụ thể, luận văn hƣớng tới mục đích góp phần đƣa ra
những luận cứ khoa học cho việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa biển đảo Khánh
Hòa trong công cuộc phát triển kinh tế của địa phƣơng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm toàn bộ các di sản văn hóa biển đảo Khánh Hòa,
các hoạt động văn hóa biển đảo hiện đại, và các hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại
Khánh Hòa
- Phạm vi không gian nghiên cứu: tỉnh Khánh Hòa, tập trung tại vịnh Nha Trang và
huyện đảo Trƣờng Sa. Bên cạnh đó, đề tài sẽ có sự so sánh, liên hệ với vùng du lịch
Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: chuỗi số liệu thống kê và các vấn đề liên quan
đƣợc sử dụng trong nghiên cứu là từ năm 2008 đến 2012, cùng một số dữ liệu đến 06
tháng đầu năm 2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sẽ chủ yếu sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tư liệu thứ cấp: Qua các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận
án… tại các thƣ viện, kho lƣu trữ.
- Phương pháp điều tra thực địa: Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra
chỉnh lý và bổ sung những tƣ liệu; đối chiếu và lên danh mục cụ thể từng đối tƣợng
12
nghiên cứu; sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc định hƣớng phát triển du lịch
văn hóa biển đảo tỉnh Khánh Hòa.
- Phương pháp thống kê: Đây là phƣơng pháp không thể thiếu trong quá trình
biển đảo ở Việt Nam.
- Thứ hai, khảo sát thực trạng các hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh
Hòa.
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa biển đảo
Khánh Hòa, cũng nhƣ bảo tồn văn hóa biển đảo Khánh Hòa trong hoạt động du lịch. 14
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO
1.1. Các khái niệm liên quan
nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa.
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho
rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con
ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình.
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao
gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời
sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.
1.1.2. Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch và văn hóa có sự hội tụ rất lớn về mặt không gian và thời gian. Không gian
văn hóa và không gian du lịch có rất nhiều điểm tƣơng đồng. Du lịch lấy không gian
văn hóa làm không gian thu hút các hoạt động cho mình và ngƣợc lại nơi nào có bóng
dáng của du lịch thì nơi ấy văn hóa có điều kiện phát triển hơn. Hơn thế nữa, du lịch và
văn hóa sẽ hợp lại thành một nhƣ cách nói của Groen: “Văn hóa và du lịch sẽ đi đến sự
hợp nhất và tất cả cho nhau” (Cultural and tourism are destined once and for all to be
together) [Groen, 1994: 23]. Vì mối quan hệ đặc biệt này mà văn hóa cũng đƣợc xem
là đối tƣợng của du lịch và du lịch văn hóa đƣợc hình dung nhƣ một trong những cách
thức tiêu thụ, thƣởng thức văn hóa.
Hơn nữa, du lịch và văn hóa có một mối quan hệ nội hàm sâu sắc đƣợc biểu hiện rõ
qua sự hội tụ Cung - Cầu. Tức là, sự mở rộng và phát triển của “Cung” về du lịch cũng
16
chính là sự mở rộng và phát triển của “Cung” về tiêu thụ văn hóa và ngƣợc lại. Vì thế,
một “ngành công nghiệp văn hóa” đã ra đời để phục vụ cho nhu cầu hƣởng thụ văn
hóa, trong đó, du lịch văn hóa đƣợc xem là một “kênh phân phối” để “tiêu thụ” văn hóa
hiệu quả nhất. Ngày càng có nhiều du khách hiếu kỳ muốn tìm kiếm và trải nghiệm sự
khác biệt về văn hóa bằng cách đi du lịch.
Du lịch văn hóa là xu hƣớng của các nƣớc đang phát triển vì đem lại giá trị lớn cho
Văn hóa biển đảo là vấn đề gần đây bắt đầu đƣợc thế giới quan tâm nhiều. Văn hóa
biển đảo là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm văn hóa phân loại theo điều kiện sinh thái,
hay khái quát hơn là văn hóa xét theo không gian, bên cạnh những khái niệm nhƣ “văn
hóa núi” - “văn hóa đồng bằng”; “văn hóa xứ nóng” - “văn hóa xứ lạnh”; “văn hóa gió
mùa”, v.v. Từ góc nhìn văn hóa học, có thể định nghĩa: Văn hóa biển đảo là hệ thống
các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển cả
làm nguồn sống chính.
Với định nghĩa này, văn hóa biển đảo trƣớc hết phải là văn hóa, nó phải thỏa mãn
bốn đặc trƣng của văn hóa nói chung là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và
tính lịch sử. Ngoài bốn đặc trƣng chung, có hai đặc trƣng riêng làm nhiệm vụ khu biệt
văn hóa biển với các dạng thức văn hóa khác: Thứ nhất là đặc trƣng về không gian tồn
tại: “lấy biển cả làm nguồn sống”. Thứ hai là đặc trƣng định lƣợng về không gian tồn
tại ấy: biển cả không chỉ là nguồn sống mà phải là “nguồn sống chính”.
GS. Ngô Đức Thịnh: Trong công trình Các dạng thức văn hóa Việt Nam, tác giả đã
phân chia các dạng thức văn hóa của con ngƣời thành 4 nhóm, trong đó văn hóa biển
đảo thuộc nhóm “văn hóa sinh thái” (Ecological Culture), cũng giống nhƣ văn hóa
châu thổ, văn hóa thung lũng, văn hóa rẻo cao, văn hóa cao nguyên, văn hóa thảo
nguyên… Có thể quan niệm văn hóa sinh thái là thứ văn hóa sản sinh ra trong quá
trình con người thích ứng vời môi trường sống, từ đó hình thành nên những tri thức,
những hành vi ứng xử, những tập tục, nghi lễ, thói quen…tương thích với môi trường
18
sinh thái ấy. Tất cả những cái đó nhằm đảm bảo cho sinh tồn và sự đáp trả của con
người trước những thách thức của môi trường sống.
Nhƣ vậy, từ góc nhìn nhân học văn hóa, văn hóa biển đảo, tác giả cho rằng là hệ
thống các tri thức của con người về môi trường biển đảo, các giá trị và biểu trưng rút
ra từ những hoạt động sống của con người trong môi trường ấy, cùng với nó là những
cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con người tương thích
với môi trường biển đảo.
Theo Luật du lịch Việt Nam (27-06-2005): „„Du lịch là hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên cuả mình nhằm đáp ứng nhu
cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dƣỡng trong khoảng thời gian nhất định với mục
đích giải trí, công vụ hoặc những mục đích khác ngoài mục đích kiếm tiền‟‟.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du
lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm trú, trong mục đích
tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí,
thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian
liên tục nhƣng không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại
trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi
năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ.
1.1.4.2. Du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa diễn ra trong
các vùng có tiềm năng về biển đảo hƣớng tới thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời về vui
chơi giải trí, nghỉ dƣỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu…
1.1.4.3. Khái niệm du lịch văn hóa biển đảo
Cho đến nay, khái niệm du lịch văn hóa biển đảo thực sự chƣa đƣợc quan tâm tìm
hiểu đúng mức, chƣa đƣợc quan niệm thống nhất và đầy đủ. Vì vậy, qua thực tiễn
nghiên cứu, luận văn cố gắng trình bày quan niệm của mình về du lịch văn hóa biển
đảo, trên cơ sở kế thừa các quan niệm chung về du lịch hay du lịch văn hóa.
20
Du lịch văn hóa biển đảo là một bộ phận của du lịch văn hóa nói chung. Sự khác
biệt hay nét đặc thù ở đây là khai thác các tài nguyên văn hóa vùng biển đảo, các điều
kiện tự nhiên và xã hội vùng biển đảo tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa phục vụ nhu cầu
của du khách. Nói cách khác, du lịch văn hóa biển đảo là loại hình du lịch khai thác tài
nguyên và điều kiện văn hóa biển đảo làm sản phẩm du lịch, cũng nhƣ cung cấp các
dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu của du khách. Du lịch văn hóa biển
đảo không tách rời không gian tự nhiên, tài nguyên và sản phẩm du lịch tự nhiên biển
sao, nâng số phòng khách sạn các vùng biển đảo lên trên 260 000 phòng, trong đó 50%
đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch thời gian qua thƣờng
xuyên đƣợc tổ chức mang tầm quốc tế và khu vực tại một số tỉnh, thành ven biển và
trên các đảo nhƣ cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ thế giới 2008, Hoa hậu Trái đất, Hoa hậu
Thế giới ngƣời Việt, hội thảo, hội nghị Bộ trƣởng tài chính ASEAN, ASEAN +3 lần
thứ 14 và Hội nghị Thống đốc các Ngân hàng Nhà nƣớc ASEAN lần thứ 16 tại
Vinpearl Nha Trang diễn ra vào tháng 4-2010 Các hoạt động thể thao nhƣ giải Việt
dã bán Marathon Việt - Nhật; giải bóng chuyền bãi biển nam, nữ quốc tế, đua thuyền
buồm quốc tế Hồng Kông, Festival biển Nha Trang, Festival biển Hạ Long, Festival
biển Bình Thuận, Festival biển Vũng Tàu, Liên hoan âm nhạc các nƣớc Đông Nam
Á Ngoài ra các cƣ dân địa phƣơng vùng ven biển đảo còn tổ chức nhiều hoạt động
văn hóa, lễ hội truyền thống đặc trƣng của văn hóa biển đảo thu hút đông đảo khách
trong nƣớc và quốc tế đến dự và tham quan.
Biển đảo nói chung và du lịch biển đảo nói riêng đã và đang mang lại hiệu quả
kinh tế cho đất nƣớc, góp phần tăng nguồn thu ngân sách nhà nƣớc, thúc đẩy các thành
phần kinh tế phát triển, mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của
ngƣời dân ở vùng ven biển đảo nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc, nhằm mục tiêu cuối
cùng đó là mang lại hiệu quả kinh tế cao từ tiềm năng của biển đảo.
- Bảo vệ môi trường phát triển bền vững: Việc phát triển du lịch biển đảo góp
phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trƣờng phát triển bền vững, du lịch biển đảo là
22
hƣớng tới sự trong lành và sạch sẽ vì thế các loại hình du lịch phát triển trên biển đảo
đã hƣớng tới việc bảo vệ môi trƣờng trong sạch không bị ô nhiễm hƣớng tới môi
trƣờng phát triển bền vững cho thế hệ hôm nay và mai sau.
1.2.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến du lịch văn hóa biển đảo
- Tài nguyên du lịch văn hóa biển đảo: Hiện nay, xu hƣớng chung của các nƣớc
trên thế giới là khai thác các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch. Xét về nhu cầu du
lịch, tài nguyên du lịch là nguyên nhân nội sinh của nhu cầu du lịch, là nội hàm của
của các hiện tƣợng thời tiết cực đoan nhƣ bão, áp thấp nhiệt đới, tố lốc, v.v, chính vì
vậy phát triển du lịch văn hóa biển đảo cũng phải quan tâm đến yếu tố này trong việc
thu hút khách du lịch và các phƣơng án phát triển du lịch.
1.2.4. Những nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa biển đảo
Thứ nhất, phải thấm nhuần quan điểm phát triển bền vững với tầm nhìn dài hạn.
Kiên quyết bác bỏ quan điểm ngắn hạn trong khai thác tài nguyên biển đảo phục vụ
phát triển du lịch. Nhƣ vậy vừa khai thác hợp lý, vừa phải quan tâm tới bảo tồn và
phát huy giá trị. Với tính chất nhạy cảm của tài nguyên du lịch biển đảo, việc khai
thác càng đòi hỏi phải có nhận thức đúng, xử sự đúng mực, tôn trọng giá trị tự nhiên
và giá trị truyền thống, giá trị nhân văn. Quan điểm dài hạn đòi hỏi công tác quy
hoạch và nghiên cứu thị trƣờng phải đi trƣớc một bƣớc để đặt mục tiêu phát triển
phù hợp với đặc điểm tài nguyên, không gian và sức chứa của địa phƣơng.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch thông qua việc thƣờng xuyên làm
mới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để kéo dài chu kỳ sống, tạo sức hấp dẫn kéo dài
kỳ nghỉ, nâng cao giá trị gia tăng và kích thích tiêu dùng du lịch. Đặc biệt chú trọng
phát triển, thiết kế các sản phẩm biển đảo mang tính riêng biệt của tỉnh.
Thứ ba, vai trò quyết định trên hết là yếu tố con ngƣời tức nguồn nhân lực du lịch.
Việc tăng cƣờng đào tạo, chuyển giao kiến thức, kỹ năng về du lịch, nâng cao nhận
thức du lịch cho mọi đối tƣợng là cần thiết phải thực hiện cả trƣớc mắt và lâu dài. Tập