1
Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
TRN QUC THI
NGHIấN CU PHT TRIN
DU LCH VN HểA BN TRE luận văn thạc sĩ du lịch
Hà Nội, 2014
2
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………… 4
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 7
5. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn 8
6. Bố cục của luận văn 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. KHÁI NIỆM 9
1.1.1. Du lịch 9
1.1.2. Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch 13
1.1.3. Tài nguyên du lịch 15
1.1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn 16
1.2. DU LỊCH VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 17
1.2.1. Vai trò của du lịch văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội 17
1.2.2. Các loại hình du lịch văn hóa ………………………………………. 19
1.2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa .………………… 20
Tiểu kết chƣơng 1 ……………………………………………………………… 26
Chƣơng 2 : KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG KINH DOANH DU LỊCH
VĂN HÓA Ở BẾN TRE
2.1. TÀI NGUYÊN DU LỊCH Ở BẾN TRE …………………………………… 27
2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên …………………………………………… 27
2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ……………………………………………. 30
2.1.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ………………………………………… 45
2.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lao động phục vụ du lịch ……………. 46
2.2. KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG KINH DOANH DU LỊCH VĂN HÓA
Ở BẾN TRE ……………………………………………………………………… 46
4
5
1. Bảng biểu …………………………………………………………………… 78
2. Phụ lục 2: Thiết kế một số tuyến du lịch văn hóa ………………………… 97
3. Phụ lục 3: Hình ảnh …………………………………………………… 103
4. Phụ lục 4: Bản đồ ………………………………………………………… 109
lịch, là chất lƣợng của hoạt động du lịch (qua các tuyến điểm, các loại hình dịch vụ,
mọi hoạt động liên quan đến yếu tố con ngƣời trong du lịch) và ngƣợc lại, du lịch là
7
động lực quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa của địa phƣơng, của đất
nƣớc và của cả dân tộc.
Hoạt động du lịch muốn tồn tại và phát triển nhất thiết phải nghiên cứu, khai
thác các yếu tố văn hóa nhằm tạo nên tính độc đáo, hấp dẫn cho sản phẩm du lịch.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nƣớc, du lịch Việt Nam
ngày càng đƣợc thế giới biết đến. Du khách có xu hƣớng đi thăm các di tích khảo cổ
và các di tích lịch sử, văn hóa ngày càng đông.
Từ việc đáp ứng nhu cầu du khách những biện pháp để thúc đẩy sự phát triển
của du lịch Việt Nam đang đƣợc đặt ra vừa cấp thiết, vừa lâu dài. Theo Quyết định
phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030” của Thủ tƣớng Chính phủ số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm
2011, đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn; thông qua hoạt động du lịch
giới thiệu những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống, bản sắc dân tộc, sự đa dạng
và phong phú về tài nguyên du lịch của đất nƣớc đến với du khách.
Trong tình hình chung của du lịch Việt Nam, Bến Tre có những giá trị văn
hóa - lịch sử đáp ứng đƣợc nhu cầu cho du khách đến tham quan, giao lƣu văn hóa
và nghiên cứu học tập. Doanh thu du lịch năm 2011 ƣớc 300 tỷ đồng, tăng 22,5% so
cùng kỳ. Tổng khách du lịch ƣớc tính 610.000 lƣợt khách, tăng 12,9% so năm 2010,
trong đó khách quốc tế 261.000 lƣợt, tăng 12,9% so năm 2010 [66: tr.6]. Đến năm
2012, doanh thu đạt 368 tỷ đồng, tăng 22,6% so cùng kỳ. Tổng khách du lịch đạt
693.000 lƣợt, tăng 13,6% so với năm 2011, trong đó khách quốc tế đạt 300.500
lƣợt, tăng 15,1% so với năm 2011 [35].
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, du lịch Bến Tre tuy có phát triển
nhƣng còn hạn chế và chƣa thật sự tƣơng xứng với tiềm năng vốn có của mình.
Những sản phẩm du lịch ở Bến Tre trong hơn một thập kỷ qua chƣa có sự thay đổi
đột phá cả về hình thức lẫn nội dung. Trong khi đó, địa phƣơng đặt ra cho ngành du
Gần đây, có một nghiên cứu khá chi tiết về Bến Tre mang tên: “Tiềm năng
và định hướng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre”, luận văn Thạc sỹ địa lý học của tác
giả Trần Thị Thạy - Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP.HCM (Tháng 7/2011). Qua đề tài
này, tác giả đã đứng ở góc độ của ngành địa lý học nghiên cứu tiềm năng tài nguyên
9
du lịch chung của Bến Tre. Tác giả chƣa đi sâu nghiên cứu hiện trạng của du lịch
văn hóa và chƣa đƣa ra các giải pháp cụ thể phát triển du lịch văn hóa Bến Tre dƣới
góc độ của ngành du lịch.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn này là tài nguyên
du lịch nhân văn, du lịch văn hóa của tỉnh Bến Tre.
Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu của luận văn đƣợc giới hạn ở
tỉnh Bến Tre.
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng khai thác
tài nguyên du lịch nhân văn ở Bến Tre tập trung vào 5 năm gần đây, từ năm 2009
đến năm 2013. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ việc
điều tra thực địa trong thời gian 5 tháng, từ tháng 6/2013 đến tháng 10/2013 tại Bến
Tre.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phƣơng pháp luận: Đề tài sử dụng phƣơng pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng một số phƣơng pháp trong quá
trình nghiên cứu chung, nhƣ:
- Tiếp cận thực tế: khảo sát thực địa trên địa bàn tỉnh Bến Tre; thu thập thông
tin, tài liệu và chụp ảnh minh họa.
- Điều tra xã hội học: lập và phát phiếu điều tra, phỏng vấn, thu thập thông
tin và xử lý thông tin để đƣa ra nhận xét.
- Phân tích tổng hợp: trên cơ sở những tài liệu đã có, tiến hành lựa chọn,
nghiên cứu, phân tích và tổng hợp có hệ thống theo đúng mục đích của luận văn.
11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1. Du lịch
Trong xã hội hiện đại khi cái ăn, cái mặc, việc ở, việc đi lại trở nên dễ dàng,
thoải mái hơn từ việc ăn no, mặc ấm dần chuyển sang ăn ngon, mặc đẹp rồi đến ăn
“cầu kỳ”, mặc “thời trang”. Con ngƣời từ chỗ quần cƣ, di cƣ đến định cƣ và hình
thành nên làng mạc, thôn xóm cho đến phát triển thành những đô thị, siêu đô thị với
những ngôi nhà phố, toà nhà cao tầng rồi đến biệt thự, dinh thự nguy nga tráng lệ.
Việc đi lại của con ngƣời cũng từ lúc tự thân vận động đến việc phát triển phƣơng
tiện đi lại thô sơ cho đến khi những phát minh khoa học góp phần giúp con ngƣời di
chuyển bằng các phƣơng tiện hiện đại nhƣ xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy có động
cơ và chúng ta đang chinh phục bầu trời bằng máy bay và từng bƣớc khám phá vũ
trụ bao la bằng phi thuyền.
Khi các nhu cầu cơ bản đã đƣợc thỏa mãn thì việc đƣợc giao lƣu, tìm hiểu,
khám phá, thƣởng thức những điều chƣa biết, hoặc chỉ biết một phần … trở thành
nhu cầu tất yếu của đời sống con ngƣời. Việc suy nghĩ, hành động để thực hiện
đƣợc những “giấc mơ” nhƣ trên đòi hỏi phải có điều kiện thời gian, sức khỏe, và
điều kiện vật chất nhất định. Quá trình đó đƣợc gọi chung bằng từ “Du lịch”.
Một số học giả cho rằng thuật ngữ Du lịch trong ngôn ngữ nhiều nƣớc bắt
nguồn từ gốc tiếng Pháp le tourisme, bản thân từ le tourisme lại đƣợc bắt nguồn từ
gốc le tour có nghĩa là một cuộc hành trình đi đến nơi nào đó và quay trở lại. Thuật
ngữ đó sang tiếng Anh thành tourism, tiếng Nga – mypuzm … nhƣ vậy khái niệm du
lịch ở các nƣớc nhƣ Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Nga … có ý nghĩa đầu tiên là khởi
hành, đi lại, chinh phục không gian. Một số tác giả khác cho rằng thuật ngữ du lịch
trong ngôn ngữ nhiều nƣớc đƣợc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos” với nghĩa đi
13
một vòng. Thuật ngữ này đƣợc Latin hóa thành “tornus” và sau đó thành “tourisme”
(tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh), “mypuzm” (tiếng Nga) … [14: tr.10].
Do du lịch là một hoạt động liên tục, phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động
kinh doanh khác nhau tạo nên. Trong chuyến du lịch, du khách không những sử
dụng các dịch vụ sản phẩm trực tiếp của các cơ sở kinh doanh du lịch cung cấp nhƣ
khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí… mà còn sử dụng các sản phẩm của
ngành nghề phụ thuộc khác nhƣ dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ làm đẹp, bƣu
chính viễn thông, ngân hàng, giao thông công cộng tại điểm đến …
Hoạt động du lịch đƣợc xem là một hoạt động phức hợp, đa dạng mang tính
kinh tế cao, phát triển qua nhiều giai đoạn với những định nghĩa khác nhau. Là một
ngành kinh tế còn mới mẻ với sự phát triển theo nhiều xu hƣớng khác nhau trong
từng giai đoạn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo và tự nhiên.
Phát triển ở từng giai đoạn, du lịch có định nghĩa khác nhau, phù hợp với
tính lịch sử, xã hội và kinh tế ở giai đoạn nhất định.
Lần đầu tiên, du lịch đƣợc định nghĩa tại Anh năm 1811: “Du lịch là sự phối
hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích
giải trí”. Đến năm 1930, một ngƣời Thụy Sỹ - ông Glusman định nghĩa: “Du lịch là
sự chinh phục không gian của những ngƣời đến một địa điểm mà ở đó họ không có
chỗ cƣ trú thƣờng xuyên”. Giáo sƣ, tiến sỹ Hunziker và giáo sƣ, tiến sỹ Krapf đƣợc
coi là những ngƣời đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đƣa ra định nghĩa:
du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tƣợng phát sinh trong các cuộc hành
cho rằng du lịch là một hoạt động của con ngƣời ra khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên
của mình trong một thời gian nhất định để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau cho
chính bản thân mình về vật chất, tinh thần, thể chất. Du lịch cũng là việc cung cấp
các sản phẩm vật chất, phi vật chất đáp ứng nhu cầu trong hoạt động (du lịch) đó. 15
1.1.2. Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch
Trong hoạt động du lịch, việc đáp ứng tốt các nhu cầu khác nhau của du
khách và đem lại các lợi ích kinh tế - xã hội tối đa phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự
nhiên, con ngƣời và môi trƣờng xã hội.
Để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, các loại hình sản phẩm phục vụ
phải ngày càng phong phú. Từ nhu cầu đơn giản là tham quan, tìm hiểu, thƣởng
ngoạn các cảnh quan tự nhiên ngoài nơi cƣ trú, thƣởng thức những sản vật thông
thƣờng đáp ứng nhu cầu sinh học của mình … nhu cầu đó dần đƣợc phát sinh, con
ngƣời có những nhu cầu cao hơn. Họ “quan tâm” đến những ngôi nhà cũ kỹ mà
mình đã ở trong chuyến đi, “quan tâm” đến những ngôi chùa, ngôi đền trong khu
vực mình đến và “quan tâm” đến những nét sinh hoạt lạ lẫm của dân địa phƣơng,
những lễ hội, những món quà lƣu niệm không thể tìm thấy hay rất khác biệt ở địa
phƣơng mình.
Trong nhiều lý do, có lý do trên, con ngƣời có nhu cầu khám phá những điều
mới lạ tạo nên xu hƣớng du lịch mới: tìm hiểu những nét lạ, cái đẹp, điều khác biệt
do chính con ngƣời tạo ra. Từ trong các công trình kiến trúc, những sản phẩm vật
chất, những nét riêng trong sinh hoạt đời sống hàng ngày đƣợc hình thành lâu đời
tạo thành phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, tín ngƣỡng, tâm linh … khác
biệt của địa phƣơng hay đƣợc gọi là tài nguyên du lịch nhân văn. Hiểu theo thực tế,
(tour du lịch) theo cách riêng cho những đối tƣợng khách khác nhau trên cùng một
điểm, tuyến, điểm đến du lịch trong từng giai đoạn khác khau.
Sản phẩm du lịch cũng là hình ảnh, cách cƣ xử, trình độ hiểu biết và lòng
nhiệt huyết của ngƣời làm du lịch dành cho du khách trên chuyến tham quan. Một
câu chào, một lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc, đúng đối tƣợng là một yếu tố quan trọng
quyết định chất lƣợng của sản phẩm du lịch. Chính phƣơng cách đƣa các sản phẩm
mang nặng giá trị văn hóa đến với du khách là một biểu hiện cụ thể của văn hóa du
lịch [25: tr.5].
Ngƣời làm du lịch là ngƣời trực tiếp biến các giá trị văn hóa địa phƣơng trở
thành sản phẩm du lịch mang tính đặc trƣng bản địa, chứa đựng hàm lƣợng trí tuệ
17
và văn hóa cao đáp ứng nhu cầu của du khách. Đây là nội dung cốt lõi của văn hóa
du lịch.
1.1.3. Tài nguyên du lịch
Một trong những yếu tố quan trọng cấu thành sản phẩm dịch vụ phục vụ du
khách đó là tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch chứa đựng nhiều yếu tố cấu thành. Theo Pirojnik, tài
nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần
của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con
ngƣời, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại
và tƣơng lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng đƣợc dùng để trực
tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi [56: tr.19]. Trong
khi đó, Nguyễn Minh Tuệ và nnk cũng cho rằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự
nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát
triển thể lực, trí tuệ của của con ngƣời, khả năng lao động và sức khỏe của họ.
Những tài nguyên này đƣợc sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản
xuất dịch vụ du lịch [45: tr.33]. Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, Khoản 4 (Điều 4,
Chƣơng 1) quy định: tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di
tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân
con ngƣời cảm thụ qua tri giác, cảm xúc.
Tài nguyên du lịch nhân văn là văn hóa vật thể tập hợp các di tích lịch sử văn
hóa các cấp địa phƣơng và quốc gia nhƣ: các di tích khảo cổ học, các di tích lịch sử,
các di tích kiến trúc nghệ thuật (chùa, đình, đền, nhà thờ), các di tích kiến trúc (kiến
trúc thành lũy, các kinh đô cổ, các đô thị và nhà cổ, phố cổ) và các di tích kiến trúc
nghệ thuật khác nhƣ miếu, lăng tẩm, hội quán, tháp và tòa thánh, các công trình
đƣơng đại, các di sản văn hóa thế giới …
Tài nguyên du lịch nhân văn là giá trị văn hóa phi vật thể: Việt Nam là một
quốc gia có tài nguyên du lịch nhân văn là văn hóa phi vật thể rất đa dạng, phong
phú và đặc sắc, gồm các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa
nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian, văn hóa gắn với các tộc
ngƣời, tôn giáo [56: tr.247-248].
19
1.2. DU LỊCH VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1.2.1. Vai trò của du lịch văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch là một hoạt động xã hội, vừa mang tính xã hội vừa là một chuyên
ngành có vị trí khá đặc biệt trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của đất nƣớc.
Dù chỉ là một ngành còn non trẻ so với khu vực và thế giới, du lịch nƣớc ta nói
chung và du lịch văn hóa nói riêng đã bƣớc đầu khẳng định là ngành “công nghiệp
không khói” và có khả năng “xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tại chỗ” mang lại hiệu
quả kinh tế.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nƣớc, du lịch
Việt Nam đƣợc thế giới biết đến. Năm 2010, Việt Nam đón 5 triệu lƣợt khách quốc
tế, phục vụ trên 28 triệu lƣợt khách nội địa [43: tr.94]. Con số này lên đến 6.014.032
lƣợt khách quốc tế, tăng 19,1% so với năm 2010 [62] và 6.847.678 lƣợt khách quốc
tế trong năm 2012, tăng 13,86% so với năm 2011 [63].
Ngành du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo thu nhập quốc dân (GDP).
Du lịch đã đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nƣớc, nguồn thu này đóng vai trò
quan trọng trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Tính hiệu quả cao trong
Phát triển du lịch quốc tế thụ động (Outbound tour – tác giả) khuyến khích
ngƣời dân đi du lịch nƣớc ngoài sẽ đƣợc lợi ích về mặt xã hội. Sau những chuyến đi
du lịch nghỉ dƣỡng, sức khỏe đƣợc cải thiện, gia tăng sự hiểu biết về xã hội, thế giới
bên ngoài, giúp ngƣời dân rút ra đƣợc những kinh nghiệm cho bản thân.
Phát triển du lịch trong nƣớc (Domestic tour – tác giả) làm gia tăng sự hiểu
biết giữa các địa phƣơng, vùng, miền và trên cả nƣớc, thắc chặc tình đoàn kết, gắn
bó giữa các dân tộc.
Du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đem lại lợi ích rất lớn cho nền
kinh tế và xã hội của đất nƣớc, tuy nhiên nếu khai thác không đúng mực sẽ tạo nên
sự quá tải trong du lịch.
Đối với du lịch Outbound, sự quá tải thể hiện ở việc mất cân đối cán cân
thanh toán quốc tế khi du khách đi du lịch nƣớc ngoài quá đông, lƣợng ngoại tệ
“chảy” ra nƣớc ngoài quá nhiều. Do đó các quốc gia đều có quy định hải quan,
21
khống chế ở một mức nhất định số lƣợng ngoại tệ của mỗi du khách đƣợc mang ra
nƣớc ngoài trong một lần xuất cảnh.
Đối với du lịch Inbound và Domestic, phát triển quá mức sẽ tạo sự phụ thuộc
của nền kinh tế vào du lịch. Ngành du lịch là ngành tạo ra dịch vụ là chủ yếu … nếu
tỉ trọng của ngành du lịch là lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc
gia thì nền kinh tế của nƣớc đó có nhiều khả năng bấp bên hơn [14: tr.53]. Tạo ra sự
mất cân đối trong việc phân bổ lao động cho các ngành nghề khác, trong khi lao
động trong du lịch lại có tính thời vụ cao, điều này làm ảnh hƣởng đến việc sử dụng
lao động trong du lịch. Việc quá tải trong du lịch còn đƣợc thể hiện ở những mặt
tiêu cực nhƣ môi trƣờng tự nhiên bị ô nhiễm, môi trƣờng xã hội bị ảnh hƣởng qua
các tệ nạn xã hội, lai căn pha trộn trong văn hóa, mất đi bản sắc văn hóa của một địa
phƣơng, một dân tộc, gây ảnh hƣởng xấu đến đời sống tinh thần của một bộ phận xã
hội.
1.2.2. Các loại hình du lịch văn hóa
Hoạt động du lịch có thể phân chia làm nhiều loại hình khác nhau tùy thuộc
tạo nên một cơ hội cho du lịch hình thành và phát triển. Có thể chia ra thành ba
nhóm nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển du lịch nói chung
và du lịch văn hóa nói riêng của một vùng, một quốc gia hay cả một khu vực quốc
tế.
Thứ nhất: đó là nhóm các điều kiện chung tác động đến du lịch, bao gồm An
ninh chính trị và an toàn xã hội, điều kiện kinh tế, chính sách phát triển du lịch.
Một điểm đến hay một quốc gia có nền chính trị ổn định, trật tự an toàn xã
hội đƣợc đảm bảo là một điều kiện tốt cho phát triển du lịch. Mặc dù có nhiều tài
nguyên du lịch, các dịch vụ phục vụ tốt cho du khách nhƣng bất ổn về chính trị, đe
dọa an toàn đối với du khách thì cũng không thể nào thu hút đƣợc khách du lịch đến
với mình.
Theo ý kiến các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của
Liên Hiệp Quốc (ECOSOC): “một đất nƣớc có thể phát tiển du lịch một cách vững
chắc nếu nƣớc đó tự sản xuất đƣợc phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du
23
lịch” [36: 91]. Nhƣ vậy, khi nền kinh tế chung phát triển tạo điều kiện cho kinh tế
du lịch phát triển. Nếu nền kinh tế đủ sức mạnh tạo ra các sản phẩm có chất lƣợng
tốt phục vụ cho hoạt động du lịch từ việc cung cấp trang thiết bị cho phòng khách
sạn, các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa làm quà lƣu niệm, các công trình
vật chất kỹ thuật cũng nhƣ cơ sở hạ tầng, phƣơng tiện vận chuyển … thì sẽ thúc đẩy
du lịch phát triển, mang lại lợi ích cho đất nƣớc. Trong trƣờng hợp nền kinh tế
không tự sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống ngƣời dân nói chung và
cho du khách nói riêng, mọi thứ đều phải nhập khẩu để phục vụ du lịch thì ngành du
lịch phát triển khó khăn, lợi ích kinh tế sẽ rơi vào tay nƣớc xuất khẩu hàng hóa.
Chính sách phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với một quốc gia. Một
đất nƣớc, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của ngƣời dân
không thấp nhƣng nhƣng chính quyền địa phƣơng không hỗ trợ cho hoạt động du
lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển đƣợc [36: tr.95].
Thứ hai: nhóm các điều kiện nảy sinh nhu cầu du lịch bao gồm thời gian rỗi,
khi phát triển du lịch sẽ dễ bảo đảm phục vụ khách du lịch một cách văn minh và
làm hài lòng khách đi du lịch đến đó [36: tr.102]. Hoạt động du lịch có thể đƣợc gia
tăng thêm giá trị khi du khách và dân bản địa có nhìn nhận hiểu biết, có văn hóa.
Những hành động, thái độ thiếu văn hóa là rào cản cho sự phát triển du lịch.
Theo Robert W. Meintosh thì giữa trình độ văn hóa của ngƣời chủ gia đình
và tỷ lệ đi du lịch của họ có mối quan hệ nhất định. (Xem bảng 1.1 dƣới đây)
TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA
CỦA NGƢỜI CHỦ GIA ĐÌNH
TỶ LỆ
ĐI DU LỊCH
Chƣa có trình độ trung học
50%
Có trình độ trung học
65%
Có trình độ cao đẳng
75%
Có trình độ đại học
85%
(Bảng 1.1: Theo Robert W. Meintosh 1995)
Thứ ba: nhóm các điều kiện đặc trƣng.
Trong phát triển du lịch, nếu nhƣ nhóm các điều kiện chung và các điều kiện
nảy sinh nhu cầu du lịch là điều kiện cần thì nhóm các điều kiện đặc trƣng là điều
25
kiện đủ cho sự phát triển du lịch của một vùng, một quốc gia. Nó bao gồm điều kiện
về tài nguyên du lịch, sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch và các sự kiện đặc biệt.
Tài nguyên du lịch đóng vai trò tối quan trọng trong sự phát triển du lịch.
Một nền kinh tế, văn hóa – xã hội của một quốc gia có phát triển cao đến đâu, có ổn
định đến đâu đi nữa mà không có tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển
du lịch tốt. Tiềm năng kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên du lịch là hữu