Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
~~~~~~~~~~~~
nGUYễN THị THùY DƯƠNG
Nghiên cứu phát triển
du lịch VĂN HóA Và DU LịCH LịCH Sử
TạI HUYệN ĐảO VÂN ĐồN, TỉNH QUảNG NINH.
Luận văn thạc sĩ du lịch Luận văn thạc sĩ du lịch
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quốc Sử
Hà Nội, năm 2012
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA -
LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ
TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN 12
1.1. Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa - lịch sử 12
1.1.1. Du lịch văn hóa 12
1.1.2. Du lịch tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa 12
1.1.3. Tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử 13
1.1.4. Tổ chức quản lý du lịch văn hóa - lịch sử 13
2.7.1. Những thuận lợi và khó khăn 65
2.7.2 Những thành tựu và hạn chế 66
Tiểu kết chƣơng 2 71
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU
LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN. 72
3.1. Những căn cứ đề xuất giải pháp 72
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch của huyện đảo Vân Đồn 72
3.1.2. Yêu cầu thực tiễn 73
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa - lịch sử huyện đảo Vân
Đồn 74
3.2.1. Giải pháp về tổ chức quản lý du lịch 74
3.2.2. Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật và đầu tư phát triển 76
3.2.3. Giải pháp về sản phẩm 78
3.2.4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 80
3.2.5. Giải pháp bảo tồn di sản 82
3.2.6. Giải pháp xây dựng hình ảnh, xúc tiến và quảng bá du lịch 89
Tiểu kết chƣơng 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 3
DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn 20
Bảng 2.1. Khách du lịch và doanh thu du lịch Vân Đồn giai đoạn (2007 –
2012) 40
Bảng 2.2: Thực trạng cơ sở lưu trú tại huyện Vân Đồn năm 2007 - 2012 46
and Cultural Organization
UBND Uỷ ban nhân dân
Sở VH,TT và DL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
TW Trung ương
thành từ thời Lý và phát triển liên tục trong suốt 700 năm thì bị rơi vào quên lãng
với những dấu tích còn lại nằm rải rác trên suốt một dải từ Cống Đông, Cống Hẹp,
Cống Yên, Quan Lạn, Minh Châu…Vân Đồn cũng là vùng đất có trầm tích văn hóa,
lịch sử dày đặc với nhiều di tích, lễ hội tiêu biểu như: các di chỉ khảo cổ học thời
tiền sử phân bố trên các đảo và hang động vùng vịnh Bái Tử Long, lễ hội truyền
thống Vân Đồn, cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn với những giá trị lịch
sử văn hóa đặc sắc…cùng với đó là những giá trị văn hóa dân gian mang đậm yếu
tố biển của những thế hệ cư dân đời nối đời gắn bó với những hòn đảo. Tất cả
những giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo đó đã hòa quyện với nhau, tạo cho vùng biển
đảo tài nguyên du lịch hấp dẫn.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm
2020, Vân Đồn được xác định là một trong bốn không gian phát triển du lịch
trọng điểm. Với tài nguyên du lịch văn hóa phong phú, Vân Đồn hội đủ điều kiện
để phát triển thành một trung tâm du lịch văn hóa - lịch sử với những sản phẩm
6
du lịch hấp dẫn đặc thù. Tuy nhiên, sự phát triển loại hình du lịch này ở Vân Đồn
hiện chưa tương xứng với tiềm năng; chưa có sự đầu tư, khai thác một cách hợp
lý, khoa học. Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa mang tính đặc
trưng của địa phương, chưa tạo được sức hấp dẫn, thu hút du khách trong và
ngoài nước đến với Vân Đồn.
Căn cứ vào thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du
lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.” nhằm
tìm ra những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du
lịch văn hóa - lịch sử, góp phần vào việc phát triển bền vững hoạt động du lịch ở
Vân Đồn nói riêng và Quảng Ninh nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch đặc thù và có thế mạnh phát triển ở Việt
Nam. Nghiên cứu phát triển loại hình này là một trong những hướng nghiên cứu
được các nhà du lịch học, văn hóa học và các địa phương…quan tâm đặc biệt. Cho
bài báo khoa học, công trình nghiên cứu viết về Vân Đồn ở nhiều khía cạnh
khác nhau.
Nghiên cứu về lịch sử, văn hoá Vân Đồn là khía cạnh được nhiều học giả
quan tâm nhiều nhất. Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu về các giá trị
lịch sử, văn hóa tiêu biểu, độc đáo của Vân Đồn mà chưa có sự gắn kết với du lịch.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Cuốn “Huyện đảo Vân Đồn” của tác giả Đỗ Văn Ninh, xuất bản năm 1997 đã
giới thiệu cho bạn đọc về những trang sử hào hùng của Vân Đồn qua những di chỉ
khảo cổ học, trận chiến thắng năm 1288 và những công trình kiến trúc văn hoá nghệ
thuật đình, chùa, miếu…mang giá trị như những cột mốc văn hoá nơi biên cương
của tổ quốc.
Bộ “Địa chí Quảng Ninh” (tập I, III) của UBND tỉnh Quảng Ninh, xuất bản
năm 2003, đã cung cấp những khái quát cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế -
văn hóa - xã hội của huyện đảo Vân Đồn.
8
Cuốn “Văn hóa dân gian làng biển Quan Lạn” của Viện nghiên cứu Văn hóa,
xuất bản năm 1999, đã có những nghiên cứu sâu sắc về các giá trị văn hóa vật thể và
phi vật thể tiêu biểu của làng biển Quan Lạn.
Nghiên cứu về tiềm năng, thế mạnh và thực trạng phát triển du lịch của huyện
đảo Vân Đồn, hiện có nhiều luận văn nghiên cứu song chủ yếu tập trung vào các
loại hình du lịch như: du lịch sinh thái cộng đồng, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái.
Cụ thể như: Luận văn thạc sỹ Việt Nam học “Nghiên cứu du lịch sinh thái cộng
đồng và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tại huyện đảo Vân Đồn - tỉnh
Quảng Ninh” của tác giả Ngô Hải Ninh, năm 2011; Luận văn thạc sỹ du lịch “Phát
triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn Quảng Ninh” của tác giả Lê
Thị Ngoan, năm 2008; “Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh” của
tác giả Ngô Quang Duy, năm 2008; Khóa luận “Đánh giá tiềm năng phát triển du
lịch sinh thái vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Vân, năm 2011.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm 2007 - 2012.
Các định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử của huyện và các giải
pháp được đưa ra trong thời gian tới.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là cách thức cụ thể hay công cụ được sử dụng để
nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhằm mục đích đi đến kết quả một cách chính xác.
Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập
và kế thừa tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố, tạp chí, sách, mạng
internet, báo cáo của UBND huyện Vân Đồn từ năm 2007 - 2012, số liệu cập nhật
về hoạt động du lịch do phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn cung cấp,…
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Đây là phương pháp có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu các đối tượng có mối quan hệ đa chiều và
10
nhiều biến động trong không gian như ngành du lịch. Tác giả đã sử dụng phương
pháp này nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được nhằm tìm ra bản chất và thực
trạng của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Phương pháp này sử dụng nhằm điều tra
tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đối tượng nghiên cứu nhằm bổ
sung, chỉnh sửa và cập nhật những thông tin mới nhất. Đồng thời, việc trực tiếp
khảo sát đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc nhất về thực trạng hoạt động du lịch văn
hóa - lịch sử tại địa phương. Đó là cơ sở thực tế giúp tác giả đề xuất một số giải
pháp nhằm phát triển loại hình du lịch trên. Khảo sát thực địa trên địa bàn nghiên
cứu của đề tài được tiến hành làm hai đợt theo lộ trình bao quát phạm vi nghiên cứu
của đề tài. Đợt 1 tiến hành vào tháng 8 năm 2011, đợt hai được tiến hành vào tháng
6 năm 2012.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn
chuyên gia, tham khảo ý kiến của một số người có chuyên môn về hoạt động du lịch
12
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH
SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI
HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN
1.1. Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa - lịch sử
1.1.1. Du lịch văn hóa
Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng
phổ biến của du lịch toàn thế giới. Hơn nữa, du lịch văn hóa còn được xem là
sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển. Với nền tảng và quy mô phát
triển không lớn, các nước đang phát triển không có thế mạnh xây dựng những
điểm du lịch, trung tâm vui chơi giải trí tầm cỡ và hiện đại, mà thường dựa vào
nguồn lực du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc, đem lại giá trị
lớn cho cộng đồng.
Theo Luật Du lịch: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn
các đối tượng khách để làm tăng giá trị của một địa phương, một quốc gia. Bất kỳ
một tài nguyên nào có giá trị hấp dẫn, độc đáo đều có khả năng được đưa vào khai
thác du lịch, đặc biệt là tính dị biệt của chúng càng cao càng có giá trị thu hút.
Khác với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử mang những
đặc trưng khác biệt. Nó ít bị chi phối bởi tính thời vụ vì vậy hoạt động du lịch văn
hóa – lịch sử có thể diễn ra quanh năm, không lệ thuộc vào thời tiết. Đây là lợi thế
lớn nhất của tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử. Tài nguyên du lịch văn hóa – lịch
sử bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí,
tham quan, tìm hiểu văn hóa của du khách. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch văn hóa
– lịch sử dễ bị xuống cấp. Nó thường xuyên bị tác động bởi các yếu tố môi trường
bên ngoài và yếu tố tác động mạnh mẽ nhất chính là con người.
1.1.4. Tổ chức quản lý du lịch văn hóa - lịch sử
Hoạt động kinh doanh du lịch nói chung hay du lịch văn hóa - lịch sử nói riêng
bao gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản: hoạt động kinh doanh du lịch nội địa và hoạt
động kinh doanh du lịch quốc tế. Như vậy, sự phát triển của du lịch không chỉ còn
14
nằm trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra phạm vi quốc tế. Do đó, hoạt động kinh
doanh du lịch cần có sự tổ chức và quản lý tương ứng.
Theo T.S Trần Thị Minh Hòa: “Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng
quản lý vĩ mô về du lịch. Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các doạnh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch
phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước.” [14,tr328]
Trong Luật Du lịch Việt Nam quy định rõ các quy định về nội dung quản lý
nhà nước về du lịch như sau:
Đối với cơ quan quản lý về du lịch:
“- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính
sách phát triển du lịch.
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu
và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch. Các yếu tố
này không chỉ là của riêng ngành du lịch mà bao hàm cả các yếu tố của các ngành
khác được huy động vào nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu
du khách. Khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xem xét cả về nghĩa rộng
và nghĩa hẹp.
Theo Ts.Trần Thị Minh Hòa, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiểu theo nghĩa
rộng là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào
việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng
hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ.”[14,tr188]
Như vậy, theo định nghĩa trên cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch không chỉ có cơ sở vật
chất kỹ thuật thuộc bản thân ngành du lịch mà còn có cơ sở vật chất kỹ thuật của
các ngành khác tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như: giao thông,
thông tin liên lạc, hệ thống điện nước,…Những yếu tố này được gọi chung là các
yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội. Đây là những yếu tố mang tính chất tiền đề và là
đòn bẩy đối với sự phát triển của ngành du lịch.
16
Cũng theo TS.Trần Thị Minh Hòa cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu
theo nghĩa hẹp là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch
tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa
nhằm cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Chúng bao gồm hệ thống các
khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và đặc biệt
nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ.” [14,tr189] Theo định nghĩa trên thì
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chính là những yếu tố quan trọng và mang tính trực
tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng
cho du khách.
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm
năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy, sự phát
triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ
Điểm đến du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch của một
đất nước, một địa phương. Điểm đến có tính hấp dẫn càng cao thì sức thu hút khách
du lịch càng lớn. Dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách có chất lượng cao, đa dạng về
chủng loại thì doanh thu càng lớn. Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp, phục vụ du
khách trong thời gian nghỉ dưỡng và tham quan tại điểm du lịch này. Nơi mở rộng
các hoạt động dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của du khách, thực hiện “xuất khẩu vô
hình” các tài nguyên du lịch và “xuất khẩu tại chỗ” các dịch vụ, hàng hóa của địa
phương với mục tiêu thu lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương.
Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “Điểm đến du lịch là một nơi, một vùng hay một
đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cư dân ngoài địa phương và có những thay đổi
nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên”.[26,tr112]
Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không
gian lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình
18
đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi. Có thể phân biệt hai loại
điểm đến.
+ Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của
du khách và (hoặc) là địa điểm mà người đó dự định tiêu dùng phần lớn thời gian.
+ Điểm đến trung gian hoặc nơi ghé thăm là địa điểm mà du khách dành thời
gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn.
Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa - lịch sử được hiểu là một nơi, một vùng,
một địa phương có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách về các giá trị văn hóa, lịch sử.
1.1.8. Khách du lịch
Theo Luật Du lịch: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch,
trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.[42]
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và quốc tế.
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
trình độ phát triển của xã hội. Chính vì lẽ đó, công tác bảo tồn di sản văn hóa được đặt ra
như một vấn đề cấp thiết ở mọi thời đại, đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc
truyền bá những kiến thức về tự nhiên và xã hội trong lĩnh vực phong phú, đa dạng này.
Bảo tồn di sản văn hóa, tức là quản lý và phát huy các giá trị của di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể.
Đối với sự phát triển du lịch, đặc biệt loại hình du lịch văn hóa, công tác bảo
tồn di sản văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng vì di sản văn hóa chính là tài
nguyên du lịch, là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa.
Bảo tồn di sản văn hóa là bao gồm các hoạt động về “sưu tầm”, “thăm dò,
“khai quật khảo cổ”, “bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”, “tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh”, “phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”.
Theo Luật di sản văn hóa:
20
“Sưu tầm là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn
hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu
chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự
nhiên và xã hội.
Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,
nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ.
Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng
mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa,
gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm
phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó.”[41]
1.2. Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn
trấn, trong đó có hai quần đảo. Quần đảo Cái Bầu với thị trấn Cái Rồng là trung
tâm kinh tế, chính trị, xã hội của huyện và 6 xã: Đông Xá, Hạ Long, Vạn Yên,
Đoàn Kết, Bình Dân, Đài Xuyên. Quần đảo Vân Hải có 5 xã: Quan Lạn, Minh
Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi, Bản Sen. Các đảo đều có địa hình núi.
Khí hậu Vân Đồn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22
0
C - 24
0
C. Vân Đồn nằm trong
khu vực nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8 gió Đông Nam từ biển thổi vào
mát mẻ, mùa đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc lạnh và khô.
Lượng mưa trung bình hàng năm 2000mm, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) đạt
2.225mm. Độ ẩm trung bình hàng năm 84%. Các hiện tượng thời tiết nguy hiểm
như giông, gió mạnh, bão xảy ra không nhiều so với các tỉnh ven biển khác.
Với địa hình khá phức tạp bao gồm một quần thể hơn 600 hòn đảo đã tạo cho
Vân Đồn một nét rất riêng mang đặc trưng biển đảo.
1.2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Tên Vân Đồn có nguồn gốc từ núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay
thuộc địa phận xã Quan Lạn). Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu nên ở đây
sớm có đồn Vân. Theo sử sách, năm 980 trấn Triều Dương đã có Vân Đồn. Năm
1149, thời Lý Anh Tông (1138-1175) cho khai mở trang Vân Đồn để đón thuyền
buôn các nước. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê đã
viết: "Năm Kỷ tỵ, hiệu Đại Định năm thứ 10 (1149, đời vua Lý Anh Tông), mùa xuân,
tháng hai, thuyền buôn các nước Qua Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú
22
buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá
quý, dâng tiến sản vật địa phương” [20,tr317]. Như vậy, Vân Đồn đã trở thành cảng
ngoại thương đầu tiên của nước ta. Thời Trần, năm 1345 được gọi là trấn Vân Đồn,
nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đã chứng minh vùng biển nơi đây đã từng là nơi cư
trú của người tiền sử qua 3 nền văn hóa phát triển liên tục và kế tiếp nhau đó là:
Văn hóa Soi Nhụ (14.000 - 7.000 năm cách ngày nay), văn hóa Cái Bèo (±7000
năm cách ngày nay) và văn hóa Hạ Long (5.000 - 3.500 năm cách ngày nay).
Các di chỉ tiêu biểu
+ Hang Soi Nhụ: Nằm trên đảo Soi Nhụ thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn
nằm cách thị trấn Cái Rồng khoảng 4 km về phía Bắc. Đây là một trong những di
chỉ khảo cổ học quan trọng của văn hóa Hạ Long. Năm 1938, lần đầu tiên hang
động này được phát hiện bởi hai nhà khảo cổ học người Pháp. Theo các nhà nghiên
cứu, với những di chỉ khảo cổ tìm được bao gồm các tàn tích thức ăn, công cụ lao
động, đồ gốm…có thể khẳng định đây là một trong những “ngôi nhà cổ” của các cư
dân văn hóa Hạ Long. Theo kết quả phân tích phương pháp cácbon phóng xạ
(phương pháp C14) các nhà khảo cổ đã đưa ra niên đại cách ngày nay khoảng trên
14.000 năm, điều này chứng tỏ hàng ngàn năm trước mảnh đất này đã có cư dân
sinh sống.
Hang Soi Nhụ - căn nhà cổ nhất của các cư dân văn hóa Hạ Long đã và sẽ là
một trong những điểm tham quan nghiên cứu quan trọng của du lịch Vân Đồn cũng
như của du lịch Quảng Ninh.
+ Hang Hà Giắt: Hà Giắt là tên một thôn thuộc xã Đoàn Kết huyện Vân Đồn.
Hà Giắt là một trong những địa điểm khảo cổ hoặc quan trọng của văn hóa Hạ
Long. Bộ sưu tập hiện vật ở hang Hà Giắt hiện nay còn khoảng 70 hiện vật. Toàn
bộ là đồ đẽo ghè và công cụ có dấu vết sử dụng không qua chế tác. Hầu hết đồ đá
trong bộ sưu tập này đều làm bằng cuội grannít. Đá có hạt thô lẫn trong những
tinh thể trắng, vỏ cuội xù xì đã bị nước phong hóa. Đây là đặc điểm chung của
vùng biển Hạ Long.
Về niên đại, di chỉ Hà Giắt có niên đại cách ngày nay khoảng 14.000 năm vào
khoảng trung kì đá mới, qua đây có thể thấy rằng người Hà Giắt và người Soi Nhụ