cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hải đảo nghiên cứu điểm tại huyện đảo cô tô, tỉnh quảng ninh - Pdf 24

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
VƢƠNG TẤN CÔNG
Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội,
bảo vệ môi trƣờng cho vùng hải đảo:
Nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô,
tỉnh Quảng Ninh Hà Nội – 2007 1
MỤC LỤC
Mở đầu
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐẢO
VEN BỜ VIỆT NAM VÀ ĐẢO CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH 10
1.1. Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam 10
1.2. Huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 15
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
3

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của kinh tế biển (KTB). Các quốc gia có biển trên Thế giới đã
và đang xúc tiến xây dựng chiến lược, cũng như các kế hoạch hành động khai thác biển,
khai thác vùng ven biển và hải đảo một cách mạnh mẽ. Trung Quốc là một điển hình,
trong nhiều năm qua đã tích cực đẩy mạnh mở cửa ra phía biển và sự ưu tiên trong đầu
tư, đã có những kế hoạch cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH)
vùng duyên hải và các đảo ven bờ. Thực tế cho thấy họ đã đạt được khá nhiều những
thành tựu trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích
phát triển KT-XH chung của đất nước, đặc biệt đã hình thành khá nhiều các điểm, khu
kinh tế mở, đặc khu kinh tế phát triển và những khu vực này đã và đang phát huy được

lớn - nhỏ khác nhau (chưa kể các đảo của 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) và được
coi là "mặt tiền" của cả nước để thông ra Thái Bình Dương, hòa nhập với 10 đường hàng
hải đi tới nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và các thị trường rộng lớn trên khắp Thế giới.
Các huyện đảo - một phần lãnh thổ quan trọng của chiến lược phát triển này. Để
phát triển kinh tế biển vững mạnh cần phải phát huy tối đa tài nguyên trong vùng nội
thủy, vùng lãnh hải và vùng hợp tác quốc tế, đặc biệt là phải phát triển kinh tế trên các
đảo, để trở thành cầu nối giữa đất liền với ngoài khơi trong khai thác kinh tế cũng như
củng cố ANQP gìn giữ chủ quyền Đất nước. Tuy nhiên, vấn đề phát triển bền vững trên
đảo đang là một trong những khó khăn và thách thức lớn đối với nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Việc đánh giá đúng đắn điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển
kinh tế các vùng biển đảo có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Nó không những giải
quyết được mâu thuẫn giữa vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường (BVMT), giữa
phát triển kinh tế và chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển, mà còn tạo điều kiện cho kinh
tế phát triển từ đất liền vươn ra ngoài vùng biển khơi.
Nằm ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ, quần đảo Cô Tô có vị trí chiến lược quan trọng -
đảo tiền tiêu của Đất nước. Đây là một trong những vùng biển luôn xảy ra tranh chấp trên
biển với Trung Quốc, do đó quần đảo Cô Tô cần phải được tạo điều kiện phát triển vững
về kinh tế và mạnh về quốc phòng như một đơn vị hành chính độc lập. Nhận thức được
tầm quan trọng đó, ngày 29 tháng 3 năm 1994 Nhà nước đã quyết định thành lập huyện
đảo Cô Tô, trực thuộc tỉnh Quảng Ninh. 5
Các hệ sinh thái trên đảo có thể hiểu như một địa hệ, có mức độ nhạy cảm rất cao
với tất cả các biến động xảy ra do các quá trình nội ngoại sinh bên trong mỗi địa hệ và
đặc biệt là rất nhạy cảm với các tác động của con người. Quá trình sản xuất đòi hỏi phải
khai thác tài nguyên để làm nguyên liệu đầu vào và thải ra môi trường phế thải. Đặc thù
của đảo chính là vai trò của yếu tố biển đối với sự phát triển của tài nguyên tự nhiên và
các nhân tố xã hội tạo thành một hệ thống phức tạp hơn rất nhiều so với đất liền. Do đó,

phát triển của đất nước và từng vùng lãnh thổ.
4. Cơ sở tài liệu
- Các tài liệu mang tính là cơ sở lý luận đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội đảo, huyện đảo của các tác giả trong và ngoài nước.
- Tài liệu về nghiên cứu, điều tra, đánh giá, xây dựng mô hình kinh tế áp dụng cho
các đảo và hệ thống đảo ven bờ Việt Nam. Các tài liệu điều tra, nghiên cứu, khảo sát thực
địa: nghiên cứu đặc điểm và sự phân hoá các yếu tố thành tạo cảnh quan, thực trạng phát
triển kinh tế của địa phương.
- Tư liệu bản đồ và viễn thám: bản đồ địa hình, địa mạo, hiện trạng chất lượng môi
trường nước dưới đất,v.v tỷ lệ 1:10.000; ảnh viễn thám viễn thám.
- Các đề tài, dự án, báo cáo khoa học về điều tra điều kiện tự nhiên, KT-XH, tài
nguyên và môi trường, kế hoạch, quy hoạch phát triển KT-XH đến năm 2010 và tầm nhìn
năm 2020 của huyện Cô Tô và tỉnh Quảng Ninh.
5. ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. ý nghĩa khoa học: đề tài là một công trình nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở cách
tiếp cận địa lý, áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp đối với một huyện đảo. Kết quả
nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp luận đánh giá tổng hợp áp dụng đối với
lãnh thổ là đảo và huyện đảo.
5.2. ý nghĩa thực tiễn: những định hướng, kiến nghị đề tài đề xuất là cơ sở khoa học
để xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ cho phát triển bền vững huyện Cô Tô
cũng như các huyện đảo khác trong hệ thống đảo ven bờ Việt Nam.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm phát sinh 7
Mỗi một đơn vị địa lý tổng hợp trên lãnh thổ đều trải qua tác động của các nhân tố
địa đới và phi địa đới. Tác động tổng hợp của hai yếu tố này nên mỗi địa hệ không giống
nhau. áp dụng quan điểm này trong đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên phục vụ

hoá lãnh thổ, kiến trúc hiện đại của môi trường địa lý. Vì vậy, nghiên cứu các đơn vị lãnh
thổ nhất thiết phải được xem xét trên quan điểm tổng hợp. Đề tài đã vận dụng quan điểm
này trên các khía cạnh sau:
- Nghiên cứu toàn diện các điều kiện tự nhiên và tài nguyên theo các quy luật chi
phối và các mối quan hệ của chúng trong tự nhiên.
- Ngoài ra, nghiên cứu tổng hợp chỉ thật sự đầy đủ khi tiến hành điều tra cả các
điều kiện KT- XH và các điều kiện về môi trường.
6.1.5. Quan điểm đồng nhất tương đối
Tính đồng nhất tương đối là đặc điểm cơ bản của các địa tổng thể nói chung và các
đơn vị cảnh quan đảo Cô Tô nói riêng. Đây là chỉ tiêu để phân biệt các đơn vị cảnh quan.
Theo như nhận xét của V.P. Lidop (1954) bản thân các cảnh quan không thể có sự đồng
nhất tuyệt đối.
6.1.6. Quan điểm phát triển bền vững
Yêu cầu của phát triển bền vững đòi hỏi người ta phải sử dụng tài nguyên một
cách hợp lý để đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không để lại gánh nặng cho thế
hệ mai sau. Sự phát triển của một lãnh thổ được coi là bền vững khi đảm bảo tính bền
vững trên cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
6.2 . Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp thu thập, xử lý số liệu
Các tài liệu, số liệu, báo cáo, bài báo, thông tin, webside liên quan. Đó là tài liệu về
điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, các tai biến v.v…;
các số liệu kinh tế - xã hội: dân số, diện tích, lao động, hiện trạng sử dụng đất, v.v …và
thông tin về biến động kinh tế – xã hội, dân số, v.v…
Các số liệu, tài liệu được thống kê, phân tích, chọn lọc phù hợp với yêu cầu nội
dung luận văn. Trên cơ sở đó, lập đề cương chi tiết cho công tác thực địa để bổ sung, cập
nhật tài liệu, bảo đảm tính đúng đắn và chính xác hoá của việc điều tra, nghiên cứu tổng
hợp điều kiện địa lý lãnh thổ, phù hợp với mục đích nghiên cứu.
6.2.2. Phương pháp thực địa 10
đổi của mỗi yếu tố sẽ gây ra những biến đổi sâu sắc các hợp phần khác biên trong mỗi
phụ hệ và do đó thay đổi cả hệ thống. Quá trình phát triển kinh tế của con người đòi hỏi
phải tác động vào tự nhiên, biến đổi chúng và do đó làm thay đổi tính quy luật vận động
bên trong cũng như đặc điểm hình thái bên ngoài. Do đó việc nghiên cứu, đánh giá tiềm
năng của lãnh thổ nhất thiết phải dựa trên các phép phân tích mang tính hệ thống và
logic, phù hợp với quy luật phát triển của mỗi địa hệ để thấy được sự vận động và dự báo
xu thế biến đổi của chúng.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về những công trình nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ Việt
Nam và đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường đảo Cô Tô
Chương 3: Đề xuất các định hướng và các giải pháp phát triển bền vững đảo cô Tô

Phạm Quang Anh và nnk về đánh giá điều kiện địa lý và phát triển lý luận nghiên cứu
đánh giá cảnh quan Việt Nam và nhiều vùng lãnh thổ khác cho các mục đích thực tiễn.
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình thực tiễn áp dụng phương pháp đánh giá tổng
hợp cho phát triển các đối tượng sản xuất, kinh tế ở quy mô cấp tỉnh, huyện, các đơn vị
lãnh thổ nhỏ, các công trình công nghiệp, kỹ thuật của nhiều tác giả khác v.v 12
*. Tài liệu liên quan đến hệ thống đảo ven bờ Việt Nam
Các nghiên cứu về biển và hải đảo nước ta đã được Nhà nước cho phép thực hiện từ
những năm 1960 trong khuôn khổ các chương trình hợp tác Quốc tế. Tuy nhiên hầu hết
các công trình nghiên cứu ở giai đoạn trước mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp tài
nguyên biển. Tiếp theo đó là các công trình đánh giá cho các mục đích ứng dụng cụ thể.
Trong đó có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau: 1/. Đề tài “Đánh giá điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội biển” (KT.03.12) thuộc Chương trình nghiên cứu Biển
(KT- 03) do GS. TSKH. Lê Đức An (1997) chủ trì đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ
hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích: an ninh quốc phòng, di dân kinh tế
mới, du lịch, dịch vụ biển, v.v 2/. Đề tài KT.03.18 (1991-1995) đã nghiên cứu và xây
dựng luận chứng khoa học kĩ thuật xây dựng và phát triển hệ thống du lịch biển Việt
Nam. Năm 2001 đề tài độc lập cấp Nhà nước “Điều tra nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ
vịnh Bắc Bộ phục vụ cho việc qui hoạch phát triển kinh tế-xã hội bảo vệ chủ quyền và lợi
ích quốc gia trên biển” và giai đoạn 2001-2004, đề tài cấp Nhà nước KC.09.12: “Luận
chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo
lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” do GS.TS. Lê Đức Tố chủ trì, bước đầu đã xây
dựng được mô hình kinh tế sinh thái trên ba cụm đảo lựa chọn là cụm đảo Ngọc
Vừng(tỉnh Quảng Ninh), cụm đảo Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam), cụm đảo Hòn Khoai
(tỉnh Cà Mau) và nhiều công trình nghiên cứu riêng cho các đảo, huyện đảo của các tác
giả khác và của các địa phương, và nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan.
Hệ thống đảo ven bờ (HTĐVB) là tập hợp các đảo, cụm đảo, quần đảo phân bố trên

< 0,001
0,001-0,005
0,005-0,01
284
685
418
10,24
24,70
15,07
0,1129
1,6161
2,7909
0,01
0,10
0,16 13
0,01-0,05
0,05-0,1
0,1-0,5
0,5-1
1-5
5-10
10-50
50-100
> 100
779
209
266

21,83
7,77
52,53
Tổng cộng
2773
100
1720,8754
100
Nguồn: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ
Việt Nam trong chiến lược phát triển KT-XH biển”. Báo cáo tổng hợp, đề tài KT.03.12
Đảo phân bố suốt từ tây vịnh Bắc Bộ đến đông vịnh Thái Lan nhưng chủ yếu tập
trung ở vùng biển ven bờ Bắc Bộ và ven bờ Nam Bộ (Bảng 1.2 ).
Các tỉnh có nhiều đảo nhất là Quảng Ninh (74,94%), Hải Phòng (8,76%), Kiên
Giang (5,73%), Khánh Hoà (3,82%).

Bảng 1.2: Số lượng và diện tích hệ thống đảo ven bờ Việt Nam theo các vùng
Toàn hệ thống đảo
Các đảo có diện tích ≥ 1 km
2
TT

Vùng
Số
đảo
%
Diện tích
(km
2
)
%

Ven bờ
Nam Trung Bộ
200
7,21
172,0015
9,99
16
19,0
153,5418
9,61
IV
Ven bờ
Nam Bộ
195
7,01
693,4690
40,30
15
17,9
672,3997
42,12

Tổng
2773
100
1720,8754
100
84
100
1596,5569


14
(km
2
)
tích
(km
2
)
Ven bờ
Bắc Bộ
Ven bờ Bắc
Trung Bộ
Ven bờ
Nam
Trung Bộ
Ven bờ
Nam
Bộ
Số
đảo
Tỷ lệ %
so với
tổng 84
đảo
> 100
3
3,6
> 100
2

0
5
7
33
39,2
5-1
51
60,7
> 1
50
(59,5%)
3
(3,6%)
16
(19,0%)
15
(17,9%)
84
100
Cộng:
84
100

Nguồn: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ

), Côn Đảo (57,4 km
2
), Hòn Bà I (45,2 km
2
),
Hòn Tre I (38,4 km
2
), Vĩnh Thực (32,6 km
2
), Đồng Rui (32,3 km
2
), Ba Mùn (Cao
Lô) (23,4 km
2
).
14 đảo (10-20km
2
): Phú Quý (18,0), Thanh Lân (16,8), Cái Lim (Trà Ngọ) (16,1),
Vạn Cảnh (16,1), Đình Vũ (15,8), Quán Lạn (Cảnh Cước) (15,7), Cô Tô (15,6), Cù
Lao Chàm (15,0), Cái Chiên (14,0), Đống Chén (13,6), Ngọc Vừng (12,0), Hòn Rái
(11,5), Thẻ Vàng (11,1), Lý Sơn (10,0).
9 đảo (5-10km
2
):Thổ Chu (9,9), Hà Loan (8,2), Sâu Nam (7,4), Bẩy Cạnh (7,2), Phượng
Hoàng (6,3), Hòn Bà II (6,1), Còng (Quả Soài) (5,5), Cống Nưa (5,5), Nam Du (5,5)
51 đảo
nhỏ
(1-5km
2
)

- Nhóm HĐVB lớn: Phú Quốc (539,1 km
2
), Vân Đồn(551,3 km
2
), Cát Hải (323,1
km
2
).
- Nhóm HĐVB khá lớn: Côn Đảo (75,2 km
2
), Cô Tô (46,2 km
2
).
- Nhóm HĐVB trung bình: Kiên Hải (27,9 km
2
), Phú Quý (16,0 km
2
), Lý Sơn (10,0
km
2
).
- Nhóm HĐVB nhỏ: Bạch Long Vỹ (4,5 km
2
), Cồn Cỏ (4,0 km
2
).
Cũng cần lưu ý là có sự khác nhau đáng kể về số liệu diện tích các huyện đảo, theo tài
liệu thống kê và theo thực đo trên bản đồ. Theo số liệu thống kê thì diện tích huyện Vân Đồn
là 551,3km
2

theo số liệu đo đạc trên bản đồ, chênh nhau
đến trên 300km
2
, là một con số quá lớn đối với các đảo.
Tổng dân số trung bình năm 2004 trên 10 huyện đảo là khoảng trên 227.000 người,
trong đó mật độ cao nhất là ở Lý Sơn với 1980,2 người/km
2
, thậm chí lớn hơn nhiều thị xã, 16
thị trấn ở đồng bằng Bắc Bộ (thị xã Sơn Tây, mật độ 1.006 người/km
2
năm 2001). Tiếp đến
là huyện đảo Phú Quý, với mật độ cũng rất cao: 1439 người/km
2
. Mật độ nhỏ nhất thuộc
huyện Côn Đảo 63 người/km
2
. Trong vòng 4 năm từ 2000 đến 2004 dân số trên 8 huyện
đảo (không kể huyện Bạch Long Vỹ và Cồn Cỏ) đã tăng lên 17.226 người (từ 207.360 đến
224.586) tức tăng 8,3%, thể hiện quá trình đang tăng dân số nhanh, chủ yếu thuộc về các
huyện lớn đang có nền kinh tế phát triển mạnh nên có sức thu hút người đến kinh doanh,
sản xuất (Phú Quốc tăng 10.534 người, Vân Đồn tăng 2.682 người). Có 2 huyện dân số
giảm đi chút ít là Kiên Hải (331 người) và Cát Hải (58 người).
Ngoài vị thế đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh đất nước và giao thương quốc
tế, các HĐVB còn có tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế biển và ven biển, trong đó lớn
nhất là mối liên kết chặt chẽ của chúng với các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Bốn huyện đảo Cô Tô, Vân Đồn, Bạch Long Vỹ, Cát Hải gắn với vùng kinh tế trọng
điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; huyện đảo Lý Sơn gắn với khu kinh tế Dung Quất

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẢO CÔ TÔ
2.1. Vị trí và vai trò, chức năng của huyện đảo Cô Tô trong hệ thống các huyện đảo
ven bờ Việt Nam
2.1.1. Vị trí địa lý
Cô Tô là một huyện nằm ở phía
Đông bắc tỉnh Quảng Ninh, được thành lập
vào 29/3/1994. Lãnh thổ huyện là toàn bộ
phần đảo nổi của hơn 40 hòn đảo quần đảo
Cô Tô và vùng biển xung quanh, được giới
hạn bởi:
Từ 20055’ đến 21015’7” vĩ độ Bắc
Từ 107035’ đến 108020’ kinh độ
Đông.

Khu vực hạt nhân quần đảo
Cô Tô (nhìn từ vệ tinh)

Hình 1: Trung tâm quần đảo Cô Tô
nhìn từ vệ tinh 18
Về ranh giới: phía Đông tiếp giáp hải phận quốc tế với chiều dài đường hải
phận gần 200 km, từ ngoài khơi đảo Trần đến đảo Bạch Long Vĩ; phía bắc giáp vùng
biển Cái Chiên (huyện Hải Hà), đảo Vĩnh Thực (thị xã Móng Cái); phía nam giáp
vùng biển đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng; phía tây giáp huyện Vân Đồn tỉnh Quảng


19
khoảng 25 km. Đây là khu vực cửa khẩu quan trọng trong giao lưu kinh tế với Trung
Quốc. Đồng thời, đảo Trần cũng là đảo án ngữ trên đưởng hàng hải quốc tế Hải Phòng đi
Bắc Hải (30 km), Hải Phòng đi Hồng Kông và Du Lân, Hải Khẩu trên đảo Hải Nam
(Trung Quốc). Ngoài khơi phía Đông đảo Trần gần khu vực kinh tuyến 108
0
15’ còn là
khu vực biển đang tranh chấp với Trung Quốc, các hoạt động kinh tế và an ninh quốc
phòng ở khu vực này đang diễn ra rất phức tạp. Thêm vào đó, đảo Trần còn nằm gần ngư
trường lớn Đông Bắc và các bể dầu khí của bồn trũng sông Hồng. Như vậy, đảo Trần
nẳm trong vùng đảo là cửa ngõ của vùng biển Đông Bắc gần biên giới biển, đảo Trần có
vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Chúng tôi xin trình bày rõ hơn về vai trò này của đảo Trần.
- Đảo Trần có tính chất bao quát lớn. Với những đặc điểm địa lý trong đó có địa
hình và độ cao so với mực nước biển bao quanh cùng với các đặc điểm hải văn cho phép
phát hiện nhanh và chính xác các diễn biến ở khu vực xung quanh. Từ đảo Trần có thể
theo dõi, giám sát, bao quát rất nhiều hướng cùng một lúc. Đặc biệt, do khá gần đất liền
nên từ đảo Trần có thể quan sát cả khu vực đất liền với bán kinh hàng trăm km xung
quanh đảo.
- Nằm ở vị trí tiền tiêu, đảo Trần có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chức
năng thăm dò, trinh sát có tính chiến lược tại vùng hoạt động của đối phương. Đảo còn
thuận lợi hơn trong khả năng thực hiện đối đầu và ngăn cản các mũi tấn công từ biển vào
đất liền cũng như vào vùng biển gần bờ. Diện tích đảo không lớn để có thể bố trí nhiều
vũ khí phòng thủ cho phép cố thủ tốt với địa hình đa dạng.
- Từ đảo Trần có thể thực hiện phối hợp, liên kết với hàng loạt đảo khác như Cô
Tô, Thanh Lam (huyện Cô Tô), Vĩnh Thực (huyện Vân Đồn), để tăng cường tiềm lực
trong quốc phòng. Đồng thời, có thể kết hợp với các lực lược hải quân trên biển và bộ đội
trên các đảo để làm thành một tuyến phòng thủ, tấn công hiệu quả.
- Đặc điểm địa hình trên phần đảo nổi và địa mạo đường bờ làm cho khả năng đổ

Mặt khác đây lại cửa khẩu quan trong giao lưu kinh tế với Trung Quốc. Chính những điều
kiện đó đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trở thành một điểm trung chuyển
hàng hoá giữa đất liền với các đảo ngoài khơi và với các nước ngoài. Theo đánh giá, có thể
xây dựng Cô Tô trở thành trung tâm hậu cần nghề cá phục vụ các tàu thuyền khai thác
trong vịnh Bắc Bộ. Đây là điều kiện tốt cho phát triển không chỉ các ngành kinh tế liên
quan đến biển mà cả các ngành kinh tế mang tính truyền thống như nông nghiệp, lâm
nghiệp. 21
Khu vực có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền. Quần
đảo nằm trong vùng có khí hậu rất thuận lợi cho sức khoẻ con người, các đặc điểm và chế
độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển. Hơn thế thiên nhiên đã
ban tặng nhiều tài nguyên du lịch quý giá, độc đáo tạo điều kiện cho việc hình thành và tổ
chức nhiều loại hình du lịch đặc sắc, biến Cô Tô trở thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng
có giá trị trên trên tuyến du lịch Đông Bắc nước ta nói chung và tuyến du lịch biển Cát
Bà - Hạ Long - Cô Tô - Móng Cái nói riêng.
Án ngữ đường hàng hải quốc tế, thuận lợi để khống chế vùng biển phía Bắc của
vịnh Bắc Bộ, vị trí của đảo Trần không chỉ có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc
phòng mà còn có nhiều tiềm năng trong mở rộng các dịch vụ hàng hải, có thể trở thành
một điểm trung chuyển đánh bắt hải sản.
Khó khăn lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của huyện đảo trong phát triển kinh tế
nói chung là phương tiện giao thông biển, nối với đất liền còn yếu kém và rất thiếu.
Các đảo của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam phân bố chủ yếu ở nửa trong thềm lục
địa, về địa lý hệ thống đảo nghiên cứu có thể chia thành 03 vùng sau: Bắc Bộ; Trung Bộ;
và Nam Bộ (bao gồm cả vịnh Thái Lan).
Các đảo trong hệ thống đảo ven bờ đã trở thành những “tiền đồn”, những “điểm
chốt” cố định vững chắc, khống chế hầu hết vùng biển quan trọng ven bờ, kiểm soát các
tuyến giao thông quan trọng đông thời là những nơi triển khai, bố trí lực lượng quốc phòng
vô cùng thuận lợi cho bảo vệ an ninh chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ công cuộc xây dựng và

quốc gia khác. Đặc biệt, đây còn là một hành lang dẫn đến việc khai thác các nguồn tài
nguyên phong phú như các nguồn lợi hải sản, năng lượng biển, du lịch biển,
Vùng biển của nước ta nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch
thông thương giữa các nước trên thế giới, từ vùng ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương,
đến Châu Âu, Trung Cận Đông với Đông Bắc Á, và nhiều nước khác trong khu vực
ASEAN, Cô Tô là quần đảo thuộc tuyến ngoài, đóng vai trò là chiếc cầu nối cực kỳ
quan trọng giao lưu văn hoá, kinh tế và xã hội với các nước trên thế giới.
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, tham gia hiệp định trong khối APEC, ký hiệp định
thương mại với Mỹ, kí‎ các hiệp định thương mại song phương với nhiều nước và đang
chuẩn bị gia nhập WTO, quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu đã và đang diễn ra sâu
rộng, nhất định sẽ tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt vùng ven 23
biển và hải đảo. Do vậy, vùng ven biển và hải đảo tất yếu được coi là một địa bàn chiến
lược quan trọng trong hoạch định phát triển kinh tế và hợp tác kinh tế quốc tế.
Quần đảo Cô Tô nằm trong khu vực rìa của Biển Đông, là điều kiện thuận lợi
trong giao lưu kinh tế với các nước khác trên Thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế của
Thế giới. Sự ra đời của các nước công nghiệp mới, có nền kinh tế tiên tiến đã và đang tác
động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là thông qua vùng biển và ven biển,
vùng hải đảo. Trong đó, chúng ta có mối quan hệ đặc biệt về kinh tế biển với các nước
ASEAN.
- Theo thống kê, hiện nay, 80 - 90% hàng hoá xuất nhập khẩu của các nước
ASEAN được chuyên chở bằng đường biển. Nền kinh tế khu vực chủ yếu dựa vào buôn
bán với bên ngoài.
- Hợp tác vận tải biển là một trong những lĩnh vực hợp tác quan trọng vủa giao
thông, vận tải biển. Hiện nay, các nước trong khu vực này đang thực hiện chương trình
hành động giao thông vận tải với 15 dự án và hoạt động về biển. Biển và hàng hải thương
mại đã giúp phần làm cho ASEAN phát triển, hoà bình và ổn định, ASEAN nằm trên

mạnh, sườn dốc, không đối xứng. Đỉnh cao nhất trên đảo cũng không vượt quá 200m.
Cao nhất là đảo Thanh Lam (đỉnh cao nhất đạt 199m), tiếp theo là đảo Trần (độ cao tối đa
là 187m), đảo Cô Tô Lớn. Độ dốc sườn phần nhiều trên 20°, nhiều nơi trên 50 – 60°.
Sự phân bố xen kẽ các đồng bằng giữa khu vực đồi núi là điều kiện tốt để định cư
và sản xuất nông nghiệp.
Do đặc điểm hình thành quần đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa
hầu như không có, Trong khi đó, các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển. Vì
được đảo Thanh Lam che chắn ở ngoài nên địa hình đồng bằng hình thành do tác động
của biển chủ yếu tồn tại trên đảo Cô Tô lớn và Cô Tô Con.
Diện tích của các đảo thuộc loại trung bình, hình thành nên những bồn thu nước,
tạo điều kiện cho các dòng chảy phát triển, đặc biệt là các dòng chảy thường xuyên, góp
phần hình thành nên các vạt tích tụ thung lũng, khá bằng phẳng, chủ yếu gồm các vật
chất từ trên sườn trôi xuống nên thích hợp để canh tác nông nghiệp. Đây cũng là các
điểm định cư chính của người dân trên đảo.
Địa hình bãi biển và thềm lục địa là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.
Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, rải rác xung
quanh các đảo trên các độ cao từ 2 – 3 đến 4- 6m, đôi chỗ 8m, được thành tạo bởi cát
trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch. Trên đảo Cô Tô Lớn, diện tích
các dạng địa hình tích tụ biển chiếm 1/3 đảo, phân bố thành những mảng lớn, làm cho ta

Trích đoạn Đảo Cô Tô: mạng lưới dòng chảy trên đảo nghèo nàn Do kích thước đảo nhỏ, địa hình đảo là đồi thấp với đỉnh cao nhất trên 160m, chia cắt đơn giản, độ chia cắt thấp, Đặc điểm và tài nguyên đất Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá Định hướng phát triển đối với các ngành và lĩnh vực kinh tế *Đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status