CƠ SỞ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN - Pdf 64

CƠ SỞ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
I- NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG:
1- Khái niệm, bản chất, đặc trưng, vai trò của kinh tế hộ nông dân.
a. Khái niệm bản chất.
Kinh tế hộ nông dân là khái niệm đã được đề cập đến từ rất sớm trong
lịch sử phát triển của loài người. Từng hình thái phát triển nền kinh tế khác
nhau trôi qua, lại cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về kinh tế hộ nông dân ở thời
kỳ lịch sử đó.
Tuy nhiên, kinh tế hộ nông dân chỉ thực sự được quan tâm và bàn đến khi
vị trí và vai trò của nó dần được khẳng định trong nền kinh tế nói chung và
trong nông nghiệp - nông thôn nói riêng. Với ý nghĩa to lớn của việc phát triển
kinh tế hộ nông dân đã được chứng minh trong lịch sử. Có rất nhiều nhà kinh
tế, những học giả, học thuyết và cả những nhà chính trị đã bàn đến kinh tế hộ
với vai trò là thành phần kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp - nông thôn. Và tất
nhiên, tuỳ từng thời kỳ phát triển khác nhau, tuỳ từng cách tiếp cận khác nhau
mà chúng ta nhận được những lý thuyết không hoàn toàn giống nhau về kinh
tế hộ nông dân.
-Tư tưởng của C.Mác và Ph-Anggen.
Đối với vấn đề nông dân, cả Mác và Anggen đều tỏ thái độ hết sức thận
trọng.
+Lúc đầu, khi nghiên cứu con đường công nghiệp hoá đặc thù của nước
Anh, nhận thấy quá trình người nông dân bị tách khỏi ruông đất một cách ồ ạt,
Mác đã tuyên đoán giai cấp nông nhân sẽ bị xoá bỏ cùng với sự phát triển của
đại công nghiệp. Nông nghiệp sẽ được tổ chức lại thành nền đại sản xuất như
trong công nghiệp.
+Nhưng sau đó, bất chấp xu hướng diễn ra trong thời kỳ công nghiệp hoá
nhanh chóng ở nước Anh, nông trại gia đình về căn bản không dựa trên lao
động làm thuê, vẫn tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó. Từ đó trong quyển III
của bộ tư bản, Mác đã viết “ Ngay ở những nước siêu công nghiệp... với thời
gian cho đến nay đã khẳng định rằng hình thức lãi nhất không phải là nông
trại công nghiệp hoá mà là nông trại gia đình không dùng lao động làm thuê.

Nhưng mặt khác, các quá trình thuần tuý sinh học (trong trồng trọt cũng như
trong chăn nuôi) lại đòi hỏi một sự chăm sóc của từng cá nhân và điều đó lại
hạn chế sự phát triển theo chiều rộng của doanh nghiệp nông dân.
+Mỗi ngành có một giới hạn tối ưu cần thiết. Khi giới hạn tối ưu vượt quá
khuôn khổ kinh tế của gia đình nông dân, lúc đó, nông dân tìm cách hợp tác với
nhau để đạt giới hạn tối ưu mới , bằng cách đó là chuyển dần lên sản xuất lớn.
Nói cách khác, do không có khả năng tập trung vô hạn theo chiều sâu như
trong công nghiệp nên sản xuất nông nghiệp chỉ có thể tập trung theo chiều
rộng từ quá trình này đến quá trình khác. Như vậy người nông dân khi làm
chủ và người lao động sẽ đi tới chỗ liên kết các quá trình và các ngành “tách
rời nhau” cùng nhau mua sắm tư liệu sản xuất, thành lập các nhóm sử dụng
máy móc và tiêu thụ sản phẩm, cải tạo đất đai. Và bằng cách đó mà thay đổi
cách kinh doanh của mình.
-Tư tưởng của Frank Elliss:
Kinh tế hộ nông dân là sản xuất của các hộ gia đình nông nghiệp, có quyền
sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình.
Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở
mức độ không hoàn hảo và hoạt động của thị trường.
-Quan điểm của Liên Hợp Quốc:
+Về phương diện thống kê:
Liên hợp quốc cho rằng: hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có cùng một ngân quỹ.
+Về phương diện sản xuất:
Liên hợp quốc cho rằng: kinh tế hộ là một hình thức tổ chức cơ sở của nền
sản xuất hàng hoá. Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, có một
hoặc một số người lao động tự đầu tư theo khả năng về vốn để trang bị tư liệu
sản xuất, sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu sản phẩm cho sự
sinh tồn của họ trên thị trường.
Mỗi tư tưởng, mỗi quan điểm cho ta một cách nhận thức tổng quát về
kinh tế hộ nông dân hoặc kinh tế hộ nông dân trên một mặt nào đó. Tuy vậy,

đòi hỏi một sự bảo quản và bồi dưỡng hợp lý từ người sử dụng, một yêu cầu
mà không hình thức sản xuất nào khác đáp ứng được.
+ Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến mang tính chất đặc thù
ở mỗi vùng, mỗi khu vực và mỗi nước trên thế giới.
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất, vừa tiêu dùng
(mà người ta thường gọi tự cấp tự túc) sản phẩm mà hộ làm ra có thể được
tiêu dùng luôn với vai trò là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng.
+Cũng như những thành phần kinh tế khác, Kinh tế hộ nông dân phải vận
dụng tổng hợp các quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế khách quan trong quá
trình tồn tại và phát triển của mình.
+Kinh tế hộ nông dân không những giải quyết tốt các mục tiêu của hộ
nông dân mà còn giải quyết tốt vấn đề môi trường sinh thái và vấn đề xây
dựng nông thôn mới.
b- Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân đang tồn tại và phát triển với vai trò là một đơn vị
sản xuất cơ sở của nông nghiệp - nông thôn. Là một thành phần kinh tế độc
lập, tự chủ cùng các thành phần kinh tế khác hình thành lên nền kinh tế thị
trường của nước ta hiện hay. Kinh tế hộ nông dân sẽ luôn là một tế bào bền
vững và phát triển lành mạnh trong nền kinh tế, nó mang những đặc trưng cơ
bản sau đây:
-Đặc trưng về sở hữu:
Tuy không được sở hữu về đất đai nhưng hộ nông dân lại được nhà nước
giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài. Đó là tiền đề quan trọng cho sự phát
triển của mọi quá trình sản xuất trong nông nghiệp. Mọi tư liệu sản xuất khác
đều thuộc quyền sở hữu của các thành viên trong hộ, và tất nhiên mọi sản
phẩm làm ra đều thuộc quyền sở hữu của gia đình. Tất cả những điều này tạo
lên sự khác biệt giữa sở hữu hộ nông dân và sở hữu tư nhân trong sở hữu tập
thể.
-Đặc trưng về mục đích sản xuất.
Mục đích sản xuất của kinh tế hộ nông dân được xác định chủ yếu trên cơ

bán hoặc trao đổi theo sự thống nhất giữa mọi thành viên trong gia đình.
Với sáu đặc trưng như đã nêu ở trên, kinh tế hộ nông dân thực sự là
thành phần kinh tế phù hợp với yêu cầu của mọi nền kinh tế đang tồn tại, nó là
một trong năm thành phần kinh tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong
quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội.
c-Vai trò của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân là một trong những thành phần cấu tạo lên nền kinh
tế quốc dân của mỗi nước, nó không chỉ tự phát triển, tự ảnh hưởng mà còn
ảnh hưởng tới và chịu sự ảnh hưởng tác động của tất cả các thành phần kinh
tế khác. Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống
vật chất, văn hoá, tinh thần của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
Trong các học thuyết, các quan điểm của mình, các nhà kinh tế, các nhà
chính trị đã phần nào nêu lên những chính kiến của mình về vai trò của kinh tế
hộ. Trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ thời điểm lịch sử nào kinh tế hộ nông dân
vẫn luôn đóng vai trò quan trọng.
-Cung cấp lượng lương thực, thực phẩm chủ yếu phục vụ cho đời sống và
nhu cầu của con người:
+Hàng năm trên toàn thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông
dân đã đóng góp, giữ vai trò là lực lượng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn
cầu. Sản xuất ra khoảng trên 2000 triệu tấn lương thực, trên 200 triệu tấn hạt
có dầu và khoảng 1000 triệu tấn thịt, sữa, trứng, hàng tỷ tấn rau, quả cung cấp
cho gần 6 tỷ người.
+ở Mĩ, chỉ với khoảng 65% đất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân đã tạo ra
một lượng nông sản chiếm khoảng 70% giá trị sản phẩm nông nghiệp, 50%
sản lượng ngô toàn thế giới.
+ở Nhật Bản, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất ra một khối lượng sản
phẩm đủ cung cấp cho nhu cầu của cả nước với khối lượng: 100% nhu cầu về
gạo; 81% nhu cầu về thịt; 98% nhu cầu về trứng; 90% đến 95% nhu cầu về
rau, quả...
+ở Việt Nam chúng ta với trên 10 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra

rằng đa số lao động trong hộ đều làm việc cho sự phát triển và mục tiêu sản
xuất cũng như quá trình sản xuất của hộ nông dân.
+Sử dụng lao động gia đình ngoài độ tuổi lao động.
Hiện nay, một tình trạng khá phổ biến là ở các hộ nông dân, việc sử dụng
lao động ngoài độ tuổi lao động, đó là các trẻ em và người lớn tuổi, với cách
tính cứ hai lao động này bằng một lao động chính đã góp phần tăng thu nhập
cho hộ, giải phóng dần lực lượng lao động chính ra khỏi nông nghiệp đến một
mức hợp lý.
+Sử dụng lao động làm thuê:
Việc sử dụng lao động làm thuê rất ít khi xẩy ra ở những hộ tự túc tự cấp,
sản xuất nhỏ nhưng lại là việc làm khá phổ biến ở các hộ nông dân sản xuất
hàng hoá và sản xuất lớn. Những hộ nông dân này việc thuê mướn thêm lao
động thường xuyên hoặc vào thời vụ là điều cần thiết với tiền công hợp lý đã
tạo ra một số lượng công ăn việc làm khá lớn cho những lao động dư thừa ở
nông thôn hiện nay.
Kinh tế hộ nông dân, trong quá trình sản xuất và phát triển của mình cần
rất nhiều ngày công lao động. Thực tế đã chứng minh qua những năm vừa
qua, kinh tế hộ nông dân đã giải quyết cho hàng triệu lao động ở nông thôn
nước ta, góp phần quan trọng vào công cuộc giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động.
-Thực hiện phân công lao động theo đơn vị kinh tế hộ nông dân.
Cùng với quá trình phát triển của mình kinh tế hộ nông dân ngày càng có
điều kiện để tích luỹ tái sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu, khoa học kỹ
thuật và công nghệ cũng như máy móc được áp dụng và sử dụng vào sản xuất
ngày càng nhiều. Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của người nông dân ngày
càng được nâng lên rõ rệt thêm vào đó là sự phù hợp trong cơ chế và các chính
sách của nhà nước sẽ giúp cho sản xuất ngày càng phát triển số lao động phục
vụ cho nhu cầu của kinh tế hộ về nông nghiệp ngày càng giảm, sẽ dẫn đến tình
trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp. Số lao động dư thừa này với trình
độ ngày càng được nâng lên sẽ chuyển dịch sang làm việc tại các ngành, nghề

kinh nghiệm truyền thống kết hợp với kỹ thuật hiện đại làm cho sản phẩm sản
xuất ngày càng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn, giá thành hạ hơn, lợi nhuận thu
được cao hơn. Đó cũng là mục tiêu cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ
nông dân.
Sản xuất hàng hoá có thể sớm được áp dụng những tiến bộ khoa học,
công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất.
-Giữ gìn và làm trong sạch môi trường sinh thái.
Vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường ngày nay đang được toàn thể
nhân loại quan tâm cùng giải quyết. Giữ gìn và làm trong sạch môi trường là
vấn đề đang được đặt nên vị trí hàng đầu hiện nay. Kinh tế hộ nông dân, hàng
năm với hàng triệu ha cây xanh các loại được gieo trồng đã góp phần to lớn
vào công cuộc bảo vệ môi trường trên thế giới. Đó là điều mà không ai trong
chúng ta có thể phủ nhận.
Từ sự tìm hiểu về bản chất, đặc trưng và vai trò của kinh tế hộ nông dân
như đã nêu ở trên, chúng ta có thể khẳng định kinh tế hộ nông dân sẽ tồn tại và
luôn là một thành phần kinh tế quan trọng của mọi quốc gia, sự phát triển của
nó không những làm cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao,
các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được khai thác đầy đủ
mà còn có tác dụng to lớn thúc đẩy sự phát triển của các thành phần, các
ngành kinh tế khác:
Đối tượng sản xuất của kinh tế hộ nông dân có đặc điểm riêng biệt đó là
cây trồng và vật nuôi, là những cơ thể sống, chúng sinh trưởng và phát triển
theo những quy luật sinh học nhất định. Là các cơ thể sống, vì vậy chúng rất
nhạy cảm với môi trường tự nhiên mỗi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, về sự
chăm sóc của con người đều có tác động trực tiếp đến quá trình phát sinh và
phát triển của chúng, và tất nhiên là ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của sản
xuất. Do chúng có đặc điểm như vậy nên muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải
có sự quan tâm đúng mực, thường xuyên và thực sự sát sao của con người. Mỗi
sự biến đổi, thay đổi nhỏ của những cơ thể sống này con người đều phải biết,
chúng cần phải được chăm sóc đúng lúc đúng chỗ, đúng khoa học. Để làm tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status