Một số Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Thanh Miện-tỉnh Hải Dương - Pdf 12

Lời nói đầu
Trong hơn một thập kỷ vừa qua, dới ánh sáng nghị quyết đại hội VI của đảng;
chỉ thị 100 của ban bí th và đặc biệt là nghị quyết 10 của Bộ chính trị, kinh tế hộ
nông dân nớc ta đã đạt đợc những thành quả to lớn, góp phần quan trọng tạo lên sự
tăng trởng vợt bậc của nền kinh tế đất nớc. Khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực
trong nông nghiệp - nông thôn, phát huy những lợi thế vốn có của đất nớc, tạo công
ăn việc làm, từng bớc tăng thu nhập cho lao động làm nông nghiệp là những mục tiêu
mà kinh tế hộ nông dân nớc nhà về cơ bản đã làm đợc trong thơì gian vừa qua. Tuy
nhiên, cũng từ những kết quả đã đạt đợc đó, trên con đờng phát triển của mình kinh
tế hộ nông dân nớc ta đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta cần làm tốt hơn nã
trong thời gian sắp tới nh ruộng đất cho ngời nông dân; vốn, tín dụng cho các hộ;
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; thị trờng đầu vào, đầu ra; nâng cao trình độ
của ngời lao động trong nông nghiệp...
Thanh Miện là một huyện thuần nông nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng
sông Hồng. Cũng nh những huyện thuần nông khác trong cả nớc hình thức tổ chức
sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp của huyện là kinh tế hộ nông dân. Nông nghiệp
là ngành luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của toàn thể nhân dân
và hộ nông dân cũng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ gia đình có trong toàn
huyện. Trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân nơi đây cũng đặt ra nhiều vấn
đề cần giải quyết nhằm khai thác tốt hơn nữa những nguồn lực trong nông nghiệp
-nông thôn, không ngừng nâng cao chất lợng lao động và cuộc sống của ngời nông
dân.
Theo em, Thanh Miện là một môi trờng thuận lợi và có tính đại diện cao khi
chúng ta tìm hiểu và nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân.
Vì vậy trong giai đoạn thực tập này em đã chọn đề tài Một số giải pháp phát
triển kinh tế hộ nông dân huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dơng.
Với đề tài Một số giả pháp phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Thanh
Miện - tỉnh Hải Dơng em hy vọng:
- Củng cố kiến thức đã học, từng bớc nâng cao trình độ tiếp cận những vấn đề
thực tiễn của bản thân.
-Vận dụng kiến thức đã có, tập xem xét, đánh giá và nghiên cứu một vấn đề cụ

phát triển của loài ngời. Từng hình thái phát triển nền kinh tế khác nhau trôi qua, lại
cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về kinh tế hộ nông dân ở thời kỳ lịch sử đó.
Tuy nhiên, kinh tế hộ nông dân chỉ thực sự đợc quan tâm và bàn đến khi vị trí
và vai trò của nó dần đợc khẳng định trong nền kinh tế nói chung và trong nông
nghiệp - nông thôn nói riêng. Với ý nghĩa to lớn của việc phát triển kinh tế hộ nông
dân đã đợc chứng minh trong lịch sử. Có rất nhiều nhà kinh tế, những học giả, học
thuyết và cả những nhà chính trị đã bàn đến kinh tế hộ với vai trò là thành phần kinh
tế chủ yếu trong nông nghiệp - nông thôn. Và tất nhiên, tuỳ từng thời kỳ phát triển
khác nhau, tuỳ từng cách tiếp cận khác nhau mà chúng ta nhận đợc những lý thuyết
không hoàn toàn giống nhau về kinh tế hộ nông dân.
-T tởng của C.Mác và Ph-Anggen.
Đối với vấn đề nông dân, cả Mác và Anggen đều tỏ thái độ hết sức thận trọng.
+Lúc đầu, khi nghiên cứu con đờng công nghiệp hoá đặc thù của nớc Anh, nhận
thấy quá trình ngời nông dân bị tách khỏi ruông đất một cách ồ ạt, Mác đã tuyên
đoán giai cấp nông nhân sẽ bị xoá bỏ cùng với sự phát triển của đại công nghiệp.
Nông nghiệp sẽ đợc tổ chức lại thành nền đại sản xuất nh trong công nghiệp.
+Nhng sau đó, bất chấp xu hớng diễn ra trong thời kỳ công nghiệp hoá nhanh
chóng ở nớc Anh, nông trại gia đình về căn bản không dựa trên lao động làm thuê,
vẫn tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó. Từ đó trong quyển III của bộ t bản, Mác đã
viết Ngay ở những nớc siêu công nghiệp... với thời gian cho đến nay đã khẳng định
rằng hình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hoá mà là nông trại gia
đình không dùng lao động làm thuê. Những nớc còn giữ hình thức t hữu chia đất
3
thành khoảnh nhỏ, giá cả ngũ cốc trong những nớc mà chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ
còn chiếm địa vị thống trị thờng thấp hơn so với những nớc có nền sản xuất t bản chủ
nghĩa.
-T tởng của V.L.Lê nin:
Với t duy biện chứng và hoạt động thực tiễn,V.L.Lê nin đã có những đóng góp
quan trọng vào những luận điểm nêu trên của Mác và Angghen.
Năm 1908, khi bàn về việc lựa chọn con đờng phát triển của nông nghiệp nớc

khác. Nh vậy ngời nông dân khi làm chủ và ngời lao động sẽ đi tới chỗ liên kết các
quá trình và các ngành tách rời nhau cùng nhau mua sắm t liệu sản xuất, thành lập
các nhóm sử dụng máy móc và tiêu thụ sản phẩm, cải tạo đất đai. Và bằng cách đó
mà thay đổi cách kinh doanh của mình.
-T tởng của Frank Elliss:
Kinh tế hộ nông dân là sản xuất của các hộ gia đình nông nghiệp, có quyền sinh
sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình. Sản xuất của
họ thờng nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo
và hoạt động của thị trờng.
-Quan điểm của Liên Hợp Quốc:
+Về phơng diện thống kê:
Liên hợp quốc cho rằng: hộ là những ngời cùng sống chung dới một mái nhà,
cùng ăn chung và có cùng một ngân quỹ.
+Về phơng diện sản xuất:
Liên hợp quốc cho rằng: kinh tế hộ là một hình thức tổ chức cơ sở của nền sản
xuất hàng hoá. Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, có một hoặc một
số ngời lao động tự đầu t theo khả năng về vốn để trang bị t liệu sản xuất, sản xuất ra
sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu sản phẩm cho sự sinh tồn của họ trên thị trờng.
Mỗi t tởng, mỗi quan điểm cho ta một cách nhận thức tổng quát về kinh tế hộ
nông dân hoặc kinh tế hộ nông dân trên một mặt nào đó. Tuy vậy, chúng ta có thể
hiểu:
Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế - xã hội đợc hình thành trên cơ sở các mối
quan hệ: hôn nhân, huyết thống, phong tục, tâm linh, tâm lý, đạo đức. Là hình thức
tổ chức kinh tế cơ sở của nông dân và nông thôn. Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại từ
rất lâu ở các nớc nông nghiệp, tự chủ trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp, là
pháp nhân kinh tế, bình đẳng trớc pháp luật và là chủ thể nền kinh tế thị trờng.
+Hộ là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên trong hộ gắn bó với
nhau chặt chẽ trớc tiên bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống.
+Trong các t liệu sản xuất của hộ nông dân, ruộng đất là t liệu sản xuất quan
trọng nhất, là t liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế.

mà còn giải quyết tốt vấn đề môi trờng sinh thái và vấn đề xây dựng nông thôn mới.
b- Đặc trng của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân đang tồn tại và phát triển với vai trò là một đơn vị sản xuất
cơ sở của nông nghiệp - nông thôn. Là một thành phần kinh tế độc lập, tự chủ cùng
các thành phần kinh tế khác hình thành lên nền kinh tế thị trờng của nớc ta hiện hay.
6
Kinh tế hộ nông dân sẽ luôn là một tế bào bền vững và phát triển lành mạnh trong
nền kinh tế, nó mang những đặc trng cơ bản sau đây:
-Đặc trng về sở hữu:
Tuy không đợc sở hữu về đất đai nhng hộ nông dân lại đợc nhà nớc giao quyền
sử dụng ổn định và lâu dài. Đó là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của mọi quá
trình sản xuất trong nông nghiệp. Mọi t liệu sản xuất khác đều thuộc quyền sở hữu
của các thành viên trong hộ, và tất nhiên mọi sản phẩm làm ra đều thuộc quyền sở
hữu của gia đình. Tất cả những điều này tạo lên sự khác biệt giữa sở hữu hộ nông dân
và sở hữu t nhân trong sở hữu tập thể.
-Đặc trng về mục đích sản xuất.
Mục đích sản xuất của kinh tế hộ nông dân đợc xác định chủ yếu trên cơ sở
đảm bảo nhu cầu về lơng thực và thực phẩm cho hộ, một số ít d thừa đợc đem ra để
trao đổi. Tuy nhiên cùng với quá trình phát triển, mục tiêu đảm bảo nhu cầu của hộ
sẽ giảm dần và thay vào đó là sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện
đời sống cho các thành viên, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu về vật chất và tinh
thần của các thành viên trong gia đình.
-Đặc trng về lao động:
+Thờng thì các hộ nông dân không thuê lao động mà chỉ sử dụng những thành
viên trong gia đình. Trong các ngành kinh tế khác, việc sử dụng lao động là trẻ em và
ngời lớn tuổi là không đợc phép nhng trong kinh tế hộ nông dân thì lao động trẻ em
và ngời lớn tuổi đóng một vai trò rất đáng kể ,hai lao động trẻ em hoăc ngời lớn tuổi
đợc tính bằng một lao động chính.
+Mọi lao động trong hộ nông dân làm việc với tính tự giác cao, tự chủ vì lợi ích
của bản thân, của gia đình và của toàn xã hội.

bất kỳ thời đại nào, bất kỳ thời điểm lịch sử nào kinh tế hộ nông dân vẫn luôn đóng
vai trò quan trọng.
-Cung cấp lợng lơng thực, thực phẩm chủ yếu phục vụ cho đời sống và nhu cầu
của con ngời:
+Hàng năm trên toàn thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông dân đã
đóng góp, giữ vai trò là lực lợng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn cầu. Sản xuất ra
khoảng trên 2000 triệu tấn lơng thực, trên 200 triệu tấn hạt có dầu và khoảng 1000
triệu tấn thịt, sữa, trứng, hàng tỷ tấn rau, quả cung cấp cho gần 6 tỷ ngời.
+ở Mĩ, chỉ với khoảng 65% đất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân đã tạo ra một
lợng nông sản chiếm khoảng 70% giá trị sản phẩm nông nghiệp, 50% sản lợng ngô
toàn thế giới.
+ở Nhật Bản, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất ra một khối lợng sản phẩm đủ
cung cấp cho nhu cầu của cả nớc với khối lợng: 100% nhu cầu về gạo; 81% nhu cầu
về thịt; 98% nhu cầu về trứng; 90% đến 95% nhu cầu về rau, quả...
8
+ở Việt Nam chúng ta với trên 10 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra một
khối lợng nông sản thực phẩn cực lớn với sự tiến bộ vợt bậc, theo thống kê năm 2000
thì khối lợng sản phẩm của toàn ngành nông nghiệp là: 35,36 triệu tấn lơng thực quy
thóc, xuất khẩu đạt 3,6 triệu tấn gạo, đã trồng đợc 717 nghìn ha ngô, sản lợng xuất
khẩu cà phê đạt 694 nghìn tấn, cao su đạt 280 nghìn tấn, sản lợng thịt, trứng liên tục
tăng với tốc độ cao, chúng ta không những đảm bảo nhu cầu lơng thực, thực phẩm
cho nhân dân cả nớc mà còn vơn lên trở thành một trong những nớc xuất khẩu nông
sản lớn trên thế giới.
-Hình thành đơn vị tích tụ vốn của xã hội.
Kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là đơn vị sản xuất cơ sở và tự chủ đã đóng vai
trò là đơn vị tích tụ vốn của xã hội, cùng vời các đơn vị trong các thành phần kinh tế
khác tạo lên một tổng thể các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu về vốn của toàn xã
hội.
Nguồn vốn mà các hộ nông dân tích tụ đợc là cơ sở cho việc chuyển từ kinh tế
tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hoá với hiệu quả cao mang lại. Kết quả ấy sẽ tạo điều

-Thực hiện phân công lao động theo đơn vị kinh tế hộ nông dân.
Cùng với quá trình phát triển của mình kinh tế hộ nông dân ngày càng có điều
kiện để tích luỹ tái sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu, khoa học kỹ thuật và
công nghệ cũng nh máy móc đợc áp dụng và sử dụng vào sản xuất ngày càng nhiều.
Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của ngời nông dân ngày càng đợc nâng lên rõ rệt
thêm vào đó là sự phù hợp trong cơ chế và các chính sách của nhà nớc sẽ giúp cho
sản xuất ngày càng phát triển số lao động phục vụ cho nhu cầu của kinh tế hộ về
nông nghiệp ngày càng giảm, sẽ dẫn đến tình trạng d thừa lao động trong nông
nghiệp. Số lao động d thừa này với trình độ ngày càng đợc nâng lên sẽ chuyển dịch
sang làm việc tại các ngành, nghề khác, nhất là các ngành nghề truyền thống sẽ ngày
càng phát triển.
Tất cả những điều này sẽ dẫn tới diện tích đất nông nghiệp trên đầu ngời sẽ
tăng, năng xuất lao động tăng và hiệu quả sản xuất của một lao động sẽ không ngừng
đợc nâng lên.
-Đổi mới kỹ thuật sản xuất.
Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân với t cách là một thành phần
kinh tế tồn tại và luôn đổi mới cùng với quá trình đổi mới, phát triển của nền kinh tế
nói chung. Kinh tế hộ nông dân chịu sự ảnh hởng tác động của các thành phần kinh
tế khác, của nhiều yếu tố khác. Qua quá trình hoạt động, nó luôn phát triển hớng tới
hoàn thiện mình, mà đổi mới về kỹ thuật sản xuất chỉ là một mặt đổi mới của nó. Sự
đổi mới về kỹ thuật sản xuất có đợc là do các nguyên nhân tác động sau đây:
+Ngời nông dân với kinh nghiệm sản xuất của mình ngày càng làm tốt hơn
công việc của mình, phát hiện những khó khăn cần khắc phục và những thuận lợi cần
khai thác phát huy.
10
+Cùng với quá trình phát triển của mình, việc đầu t cho đổi mới trang thiết bị
sản xuất là điều tất yếu mà việc học hỏi khoa học kỹ thuật mới là việc làm thực sự
cần thiết.
+Trong đời sống kinh tế hộ nông dân thì việc cạnh tranh lành mạnh, sự ghanh
đua với những kết quả đạt đợc sẽ là động lự là nhân tố tích cực đầu t và học hỏi.

trờng tự nhiên mỗi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, về sự chăm sóc của con ngời đều
có tác động trực tiếp đến quá trình phát sinh và phát triển của chúng, và tất nhiên là
ảnh hởng đến kết quả cuối cùng của sản xuất. Do chúng có đặc điểm nh vậy nên
muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải có sự quan tâm đúng mực, thờng xuyên và
thực sự sát sao của con ngời. Mỗi sự biến đổi, thay đổi nhỏ của những cơ thể sống
này con ngời đều phải biết, chúng cần phải đợc chăm sóc đúng lúc đúng chỗ, đúng
khoa học. Để làm tốt những điều này không một chủ thể nào khác mà chỉ có hộ nông
dân đảm đơng nổi. Đặc điểm có đó chỉ phù hợp với trách nhiệm, chất lợng của lao
động gia đình, phù hợp với kiểu tổ chức sản xuất của kinh tế hộ nông dân.
-Thực tế phát triển kinh tế hộ nông dân đã cho thấy nhiều u điểm mà không một
chủ thể nào có đợc, hơn thế nữa phát triển kinh tế hộ nông dân còn giúp phát triển
lực lợng sản xuất, tạo công ăn việc làm và giải phóng lực lợng ,năng lực sản xuất ở
nông thôn. đây là việc làm thực sự có ý nghĩa với bất kỳ một nền kinh tế nào, với bất
kỳ một xã hội nào. Việc phát triển lực lợng sản xuất, tạo công ăn việc làm là điều cần
thiết cho sự phát triển của xã hội, của con ngời. Năng lực sản xuất ở nông thôn, nhiều
khi còn bị bó buộc, nhng nay nó đã đợc giải phóng, đợc phát huy tác dụng qua sự
phát triển của kinh tế hộ nông dân.
-Phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ giúp khai thác hết mọi tiềm năng, tiềm lực
trong nông nghiệp-nông thôn. Khai thác và sử dụng có hiệu quả những t liệu sản
xuất nh đất đai, công cụ lao động...những yếu tố mà chỉ có kinh tế hộ mới sử dụng có
hiệu quả nhất.Sản xuất của hộ nông dân mang tính đa dạng, tính thích ứng cao. Sự
phân bố của kinh tế hộ mang tính rộng khắp. Sản phẩm của nông nghiệp mang tính
liên tục, không phân chia thành các bán thành phẩm, không tính toán đợc kết quả
ngay ở mỗi giai đoạn. Kinh tế hộ nông dân tồn tại và phát triển khắc phục đợc những
khó khăn tởng chừng không khắc phục nổi, khai thác đợc những tiềm năng mà không
một chủ thể nào khác khai thác đợc.
Thực tế phát triển của mỗi nền kinh tế trong thời gian vừa qua đã chứng minh sự
tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu, khách quan, phù hợp với
quy luật của sản xuất nông nghịêp. Bằng những luận giải nh đã nói ở trên, chúg ta
phải công nhận rằng kinh tế hộ nông dân có những u điểm mà không chủ thể kinh tế

kinh tế trang trại-mục tiêu mà kinh tế hộ nông dân cần vơn tới trên con đờng phát
triển của mình.
a-Nhóm những nhân tố khách quan:
-Quy mô và diện tích ruộng đất: chúng ta đều biết rằng ruộng đất là t liệu sản
xuất chủ yếu và không thể thay thế đối với nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ nông
dân nói riêng. Mọi hoạt động sản xuất của hộ nông dân chủ yếu diễn ra trên mảnh
đất mà họ đang có quyền sử dụng. Tuy nhiên, để có thể tiến hành sản xuất lớn , sản
xuất hàng hoá đợc thì hộ nông dân cần có sự tích tụ và tập trung đến một mức độ đủ
lớn và hợp lý đất đai. Tuỳ từng hộ, tuỳ từng loại hình sản xuất kinh doanh mà cần
quy mô ruộng đất khác nhau nhng chúng cần liền khoảnh và đủ lớn.
-Có sự tác động tích cực và phù hợp trong các chính sách của nhà nớc. Đây là
nhân tố thực sự quan trọng đối với việc phát triển kinh tế hộ nông dân. Mỗi chủ tr-
13
ơng, chính sách của nhà nớc đa ra đều nhằm tác động tới một mặt nào đó của đời
sống xã hội. Và chính sách đối với việc phát triển kinh tế hộ nông dân cũng vậy,
cũng nhằm đạt đợc mục tiêu nào đó mà nhà nớc đề ra. Các chủ trơng, chính sách của
nhà nớc có thể thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển mạnh mẽ nhng cũng có thể
kìm hãm sự phát triển của nó. Các chính sách quan trọng nh: chính sách về đất đai,
chính sách về thị trờng, chính sách về vốn, chính sách về đầu t...
-Có sự phát triển nhất định của cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng cũng là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của kinh tế hộ
nông dân.quá trình từ sản xuất, tiêu thụ, trao đổi, chuyển đổi các sản phẩm của kinh
tế hộ có đợc diễn ra bình thờng, suôn sẻ, thuận lợi hay không phần lớn phụ thuộc vào
hệ thống cơ sở hạ tầng này. Cơ sở hạ tầng cũng có ảnh hởng rất lớn đến giá thành các
sản phẩm của hộ nông dân.
-Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá.
Hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa thực sự là điều cần thiết trong
quá trình phát triển từ hộ tự cấp tự túc lên hộ sản xuất hàng hoá. Hình thành các
vùng chuyên môn hoá sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho các hộ nông dân, giúp thúc đẩy
phát triển sản xuất,tiêu thụ sản phẩm, tập trung đồng nhất thị trờng đầu vào, đầu ra...

những tồn tại mà chúng ta vẫn còn, nh vậy chúng ta sẽ đẩy nhanh đợc quá trình
chuyển từ kinh tế hộ tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lên sản xuất hàng hoá lớn, kinh tế
trang trại.
II- Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân ở
một số nớc trên thế giới và nớc ta.
1- Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nớc trên thế giới.
Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại từ rất sớm trong lịch sử và trải qua nhiều bớc
thăng trầm cùng với các hình thái kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển
mạnh mẽ ở ba thế kỷ trở lại đây khi mà các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đã tạo ra hàng loạt những công nghệ, kỹ thuật và công cụ sản xuất mới, tạo ra bớc
đột phá trong nền nông nghiệp của thế giới. Hộ nông dân cho đến nay đã tồn tại phổ
biến trên thế giới, ở tất cả các nớc có sản xuất nông nghiệp. Nhng chủ yếu nó đang
tồn tại ở dạng hộ nông dân sản xuất hàng hoá và kinh tế trang trại.
Sau đây, để giúp cho việc nghiên cứu và việc định hớng phát triển cho kinh tế
hộ nông dân ở nớc ta phù hợp với quy luật phát triển nông nghiệp nói chung, chúng
ta sẽ xem xét tình hình phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại ở một số nớc trên thế
giới. Từ đó chúng ta có thể rút ra đợc những kinh nghiệm và xu hớng phát triển của
kinh tế hộ nông dân.
-Vơng quốc Hà Lan.
Là một đất nớc nhỏ bé với diện tích 41500 km2, dân số 14806000 ngời trong đó
số lao động nông nghiệp chỉ chiếm 5,7% dân số, nhng hàng năm đã sản xuất ra một
lợng lơng thực-thực phẩm không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nớc mà con xuất
khẩu 48,3 tỷ Gulden sản phẩm nông nghiệp năm 1990.
15
Mỗi một lao động nông nghiệp ở Hà Lan có thể nuôi đợc 112 ngời. Toàn bộ sản
xuất nông nghiệp ở Hà Lan đợc tổ chức chủ yếu theo nông trại. Năm 1960 có 300
nghìn nông trại thì đến năm 1985 chỉ còn 138 nghìn. Các nông trại tổ chức gọn với
diện tích trung bình khoảng 10ha đất canh tác, sử dụng lao động gia đình là chính.
Các nông trại đợc trang bị đầy đủ mọi dụng cụ, máy móc cần thiết, số nông trại chăn
nuôi chiếm 17%.

lên vị trí dẫn đầu của họ. Ngoài điều kiện thiên thuận lợi, kết quả ấy còn do yếu tố tổ
chức sản xuất hợp lý mang lại. Ngời Mĩ thừơng nói nông trại gia đình là linh hồn, là
tế bào của nền nông nghiệp Hoa kỳ và quả thực đúng nh vậy. Năm 1976, toàn nớc
Mĩ có 28 triệu nông trại với khoảng 4,4 triệu lao động nhng đến năm 1987 con số
này chỉ còn 2.176 nghìn nông trại với 3,208 triệu lao động (cha đầy 2% dân số). Do
quy mô và năng suất lao động tăng nên số nông trại và số lao động nông nghiệp ngày
càng giảm. Trong số 1.733.683 nông trại loại nhỏ có 1.721.816 nông trại gia đình
(99,3%) do kỹ thuật ngày càng hiện đại nên quy mô trung bình của một nông trại
cũng không ngừng tăng lên: 1940 là 40 ha; 1950 là 80 ha; 1960 là 120 ha; những
năm 80 từ 150 đến 200 ha và hiện nay khoảng 217 ha. Các nông trại gia đình sở hữu
228.576.692 ha đất canh tác, nhng canh tác tới 362.430.000 ha. Những nông trại lớn,
những tập đoàn sản xuất có trên 10 lao động chỉ có 1.797 đơn vị, sở hữu 4.527.466
ha, canh tác 5.811.539 ha. ở Hoa kỳ các nông trại chủ yếu chỉ sử dụng lao động gia
đình, Tuy nhiên họ đợc hỗ trợ bởi một hệ thống công cụ và thiết bị vô cùng hiện đại.
Hàng năm, một số nông trại bị phá sản, có khoảng 50.000 chủ đất bị vỡ nợ.
-ở một số nớc Châu á:
Biểu 1: Số lợng và quy mô nông trại ở một số nớc Châu á
Nớc
Số lợng nông trại
(triệu)
Quy mô nông trại
(ha)
1970 1955 1970 1985
1-Nhật Bản
2-Hàn Quốc
3-Đài Loan
4-Thái Lan
5-Inđônêxia
6-Philipin
7-Mianma

-
-
-
2,62
2,37
1,59
1,22
1,20
-
1,00
5,60
3,66
1,88
2,00
2,60
3,80
-
-
Nguồn: Hợp tác hoá nông nghiệp Việt Nam-NXB Sự Thật, 1992, trang 111.
17
Nhìn chung quy mô nông trại ở các nớc Châu á vào loại thấp có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do Châu á chủ yếu
canh tác lúa nớc nên quy mô khoảng từ 1,5 đến 2 ha là hợp lý và hiệu quả.
Qua tìm hiểu ở các nớc phát triển và đang phát triển về kinh tế hộ nông dân, ta
có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
-Nông trại gia đình tuy quy mô không lớn và phân tán ở nông thôn nhng nó đã
tạo ra năng suất, sản lợng nông sản cao và tập trung. Sự tồn tại và phát triển lâu dài
của nông trại là do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp quy định.
-Các nông trại trong nền sản xuất hàng hoá là lực lợng sản xuất hàng hoá chủ
yếu trong nông nghiệp, sản xuất là hớng ra thị trờng nó khác hẳn với kinh tế tiểu

điều kiện và tiền đề tiến hành những cải cách sâu rộng khác để bớc vào thời kỳ công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
Góp phần vào những thành tựu to lớn đó, kinh tế hộ nông dân Việt nam đang
dần khảng định vai trò và vị trí của mình đối với đất nớc. Tuy nhiên, không phải dễ
dàng mà chúng ta có những thành tựu này, đó là cả một quá trình mà kinh tế hộ nông
dân đã phải trải qua, có những lúc khó khăn, gian khổ, tởng chừng không thể thay
đổi, nhng chúng ta vẫn vợt qua để có ngày hôm nay. Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến
và phân tích từng quá trình mà kinh tế hộ nông dân nớc ta đã phải trải qua.
a-Hộ nông dânViệt nam dới chế độ phong kiến, thực dân.
Theo số liệu thống kê trớc cách mạng tháng tám - 1945, nông dân ta chiếm 97%
tổng số nông hộ, nhng chỉ có 36% diện tích ruộng đất. Khoảng 40% số hộ nông dân
có chút ít ruộng t, còn lại 1/2(ở Bắc kỳ và Trung kỳ) và 2/3 số hộ (ở Nam kỳ) không
có lấy một mảnh đất cắm dùi.
Theo số liệu của Yves Henry(1930) thì:
-ở Bắc kỳ số hộ có dới 0,36 ha chiếm 61,8% ngời có ruộng,số có từ 0,36 đến 1,8
ha chiếm 28,8%.
-ở Trung kỳ số hộ có dới 0,5ha chiếm 68,5%ngời có ruộng, có 0,5 đén 2,5 ha là
25,3% tổng số chủ ruộng.
-ở Nam kỳ số hộ có dới 1ha chiếm 33,6%, còn số hộ có 1 đến 3 ha là 38%.
Nh vậy phần lớn nông dân có ruộng ở Việt nam thời kỳ này chỉ có dới 1 ha, mà
số này lại không đông, tầng lớp nông dân trong xã hội bị phân hoá thành nhiều thành
phần:
+Cố nông: vì không có ruộng nên chuyên sống bằng nghề làm thuê.Họ thờng
chỉ có việc làm vào hai tháng trong năm đó là hai vụ tháng năm và tháng mời. Thành
phần này phải ăn đói tới 7 đến 8 tháng trong năm.
+Bần nông và trung nông lớp dới: Thành phần này có chút ít ruộng đất và công
cụ sản xuất. Thờng phải lãnh canh ruộng đất của địa chủ để cày cấy thêm. Việc làm
thuê chỉ là phụ đối với tầng lớp này. Những ngời lĩnh canh ruộng đất của địa chủ đợc
gọi là những tá điền. Họ phải chịu bao phí tổn từ lúc cày bừa, chăm sóc...Vậy mà sau
19

thì các chỉ tiêu của những năm 1955-1957 đạt nh sau:
+Sản lợng quy thóc tăng 57%, riêng thóc tăng 53%.
+Năng suất lúa tăng 30,8%, lơng thực bình quân đầu ngời tăng 43,6%.
+Đàn trâu tăng 44%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn tăng 20%.
20
-Từ năm 1958 đến 1980, chủ trơng hợp tác hoá thực chất là tập thể hoá nông
nghiệp đã làm lu mờ dần vai trò của kinh tế hộ nông dân. Toàn bộ công việc từ sản
xuất tới phân phối sản phẩm đều do HTX nông nghiệp điều hành.
-Từ năm 1981 đến 1987.
Cùng với sự ra đời của chỉ thị 100 của Ban bí th trung ơng Đảng, nông nghiệp
nớc ta đã có sự khởi sắc bớc đầu. Hộ nông dân đã đợc đảm nhận một số khâu công
việc trong quá trình sản xuất. Gắn quyền lợi và trách nhiệm của ngời nông dân với
kết quả cuối cùng nên đã đạt đợc một số thành tựu to lớn: Thời kỳ 1981-1985 so với
thời kỳ 1976-1980, sản lợng lơng thực quy thóc tăng 27% năng xuất lúa tăng 23,8%,
diện tích cây công nhiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1%, giá trị
tổng sản lợng nông nghiệp tăng 5%/năm sản lợng lơng thực bình quân tăng
4,83%/năm, lợng lơng thực bình quân đầu ngời liên tục tăng qua các năm. 1981:
273kg; 1982: 299 kg; 1983: 296 kg; 1984: 303 kg; 1985: 305 kg... đời sống của ngời
nông dân đã đợc cải thiện một bớc đáng kể. Mặc dù vậy nhng tính tích cực của cơ
chế thoáng 100 chỉ phát huy đợc trong một thời gian ngắn, có nhiều tiêu cục xảy ra
và cần có sự sửa đổi.
-Thời kỳ 1988 tới nay:
Đứng trớc tình hình đó, tháng 4 năm 1988, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 10
về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, xác lập vị trí tự chủ cho hộ nông dân ở nớc
ta. Sản xuất nông nghiệp nớc ta đã có những chuyển biến quan trọng,ở các địa phơng
ruộng đất đã đợc giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài. Quyền sử dụng ruộng đất lâu
dài cùng với quyền sử hữu t liệu sản xuất khác là nguồn gốc tạo ra động lực mới thúc
đẩy hộ nông dân chăm lo sản xuất, đồng thời khắc phục tình trạng vô chủ trong quản
lý sử dụng đất đai và các t liệu sản xuất khác trong nhiều năm ở nông thôn. Hiện nay
ở nớc ta có trên 10 triệu hộ nông dân với 70% lao động cả nớc và 84% lao động ở

hàng hoá của hộ nông dân Việt nam. Kinh tế trang trại đang đợc quan tâm phát triển
trên khắp cả nớc, số trang trại ngày càng nhiều, hiệu quả mang lại ngày càng cao.
Chúng ta có quyền hy vọng vào một tơng lai tơi sáng của nền nông nghiệp nớc nhà.
Qua thực tế phát triển kinh tê hộ nông dân ở nớc ta hiện nay, chúng ta có thể rút
ra một số nhận xét sau đây:
-Hộ nông dân sản xuất nhiều nông sản hàng hoá xuất hiện ở hầu hết các địa ph-
ơng. Kinh tế trang trại đang dần khẳng định vai trò và vị thế của mình.
-Các hộ sản xuất hàng hoá bao gồm nhiều dân tộc ở khắp mọi miền của tổ quốc.
-Các hộ sản xuất nhiều hàng hoá có cơ cấu sản xuất đa dạng với nhiều ngành
nghề khác nhau. Có hộ sản xuất chuyên canh nhng cũng có những hộ sản xuất tổng
hợp.
22
-Quy mô sản xuất của các hộ nông dân nớc ta nói chung là nhỏ, kể cả về ruộng
đất, vốn liếng cũng nh khối lợng sản phẩm và thu nhập.
-Lao động của hộ nông dân nớc ta bình quân là 2 lao động chính với trình độ
văn hoá có nơi còn rất thấp.
-Khả năng phát triển sản xuất hàng hoá của các hộ nông dân nớc ta rất cao.
Nh vậy, kinh tế hộ nông dân nớc ta đang phát triển từ kinh tế tiểu nông tự cấp tự
túc lên kinh tế trang trại sản xuất hàng hoá, phù hợp với quy luật khách quan của nền
kinh tế thị trờng và xu hớng phát triển của nền nông nghiệp thế giới.
III- Xu hớng phát triển của kinh tế hộ nông dân và những
bài học kinh nghiệm rút ra.
1- Xu hớng phát triển của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, nó tồn
tại ở tất cả các nớc, tất cả các vùng và trên toàn thế giới. Tuỳ từng điều kiện sản xuất
nông nghiệp khác nhau, tuỳ theo trình độ và mức độ phát triển kinh tế hộ khác nhau,
tuỳ từng chính sách phát triển ở mỗi nớc có sự khác nhau mà xu hớng phát triển của
kinh tế hộ nông dân ở những nơi đó trong thời gian sắp tới không hoàn toàn giống
nhau.
Tuy nhiên chúng ta có thể rút ra đợc những đặc điểm cơ bản, những đặc điểm

ở nông thôn nớc ta hiện nay hình thành ba loại hộ đó là hộ có khả năng sản
xuất hàng hoá; hộ sản xuất tự cấp tự túc và hộ nghèo. Cả ba loại hộ này đều sẽ phát
triển theo những xu hớng mà chúng ta đã nêu nên ở trên; tuy nhiên trong những năm
trớc mắt, xu hớng vận động phát triển chung của kinh tế hộ nông dân nớc ta là phải
liên kết hợp tác giữa các hộ với nhau, giữa các hộ với thành phần kinh tế khác nhằm
tăng nhanh loại hộ sản xuất hàng hoá và thu hẹp loại hộ nghèo. Nhng tuỳ loại hộ, tuỳ
từng điều kiện cụ thể của từng vùng mà xu hớng vận động phát triển của nó mang
tính chất riêng biệt.
+Đối với những hộ sản xuất hàng hoá: đây là những hộ nông dân có năng lực tổ
chức sản xuất kinh doanh, nắm bắt đợc tiến bộ khoa học và công nghệ, nhạy bén với
thị trờng... đã vơn lên làm ăn khá giả. Đây cũng sẽ là loại hộ đại diện cho sức sản
xuất mới đang phát triển ở nông thôn và là nhân tố cơ bản kích thích quá trình
chuyển nền nông nghiệp lạc hậu sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Loại hình
hộ nông dân này sẽ phát triển theo hớng sản xuất nông trại, trang trại. Sẽ đợc hình
thành và phát triển nhiều ở những nơi còn nhiều đất nh vùng Trung du, miền núi, Tây
nguyên và đồng bằng sông Cửu long.
+Đối với nhóm hộ sản xuất tự cấp tự túc thì xu hớng vận động biến đổi của
chúng sẽ là từng bớc chuyển dần sang sản xuất hàng hoá.
+Đối với nhóm hộ nghèo: là nhóm chỉ chủ yếu độc canh cây lơng thực. Họ
không có khả năng đầu t thâm canh và phát triển mới. Vì vậy Đảng, nhà nớc và chính
24
quyền địa phơng cần quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện cho hộ nông dân nghèo có thể
vơn lên làm ăn sinh sống bình thờng và phấn đấu trở thành khá giả.
Nắm bắt đợc xu hớng vận động và phát triển này, chúng ta sẽ có những chính
sách đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi loại hộ.
2- Những bài học kinh nghiệm rút ra.
Qua tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân của một số nớc trên thế
giới và tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân của Việt nam trong nhiều năm. Em
rút ra đợc một số kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân nh sau:
-Kinh tế hộ nông dân (kinh tế trang trại) là hình thức tổ chức cơ sở trong nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status