MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
I- QUAN ĐIỂM - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN THANH MIỆN.
1- Quan điểm phát triển:
Phát triển kinh tế hộ nông dân là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự đầu tư
đúng mức cả về vật chất lẫn lao động. Nhằm khai thác tốt nhất những lợi thế
và nguồn lực trong nông nghiệp- nông thôn. Đem lại hiệu quả cao nhất trên
một diện tích nhất định.
-Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá, hình
thành các trang trại gia đình trong nông nghiệp-nông thôn, đó là một xu
hướng, một đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển. Một nền nông nghiệp phát
triển không chấp nhận cung cách làm ăn theo hướng hộ nông dân tự cung tự
cấp . Các trang trại gia đình là hình thức sản xuất phù hợp nhất trong nông
nghiệp , nó có những ưu điểm và lợi thế mà không một hình thức sản xuất nào
khác có được.
-Phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với quá trình công nghiệp
hoá- hiện đại hoá nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn huyện. áp dụng những
thành tựu công nghiệp vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp một cách lâu dài
và trước hết là phát triển công nghiệp chế biến , bảo quản nông sản; từng
bước cơ khí hoá, điện khí hoá nông nghiệp. Tăng cường ứng dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất, hiện đại nhất vào sản xuất nông
nghiệp.Công nghiệp hoá luôn phải gắn liền với hiện đại hoá mới mong phát
triển nông nghiệp một cách ổn định và lâu dài. Mới đem lại hiệu quả thiết thực
và cao nhất cho các hộ nông dân.
- Phát triển kinh tế hộ nông dân phải đạt được hiệu quả tổng hợp trên cơ
sở sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực, mọi lợi thế có trên địa bàn
huyện, phát triển kinh tế hộ nông dân phải đạt được hiệu quả cả về kinh tế,
chính trị và xã hội. Vừa phải đạt được hiệu quả kinh tế cao, tăng thu cho những
người lao động, đảm bảo cuộc sống ấm lo, đầy đủ cho những người nông dân
vừa phải tham gia giải quyết việc làm, điều chỉnh mức độ dân cư phù hợp
-Tăng cường tích luỹ và tái đầu tư sản xuất mở rộng với nhiều ngành
nghề, sử dụng số lao động hợp lý. Từng bước đầu tư, sử dụng những công cụ
sản xuất hiện đại trên cơ sở khắc phục dần tình trạng manh mún về ruộng đất.
-Tăng cường ứng dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất thông qua các
kênh khác nhau của huyện. Mở rộng các quá trình liên doanh, liên kết và hợp
tác trong nông nghiệp nông thôn.
2.2-Mục tiêu cụ thể.
-Mục tiêu tới năm 2005
+Mức độ tăng trưởng nền kinh tế bình quân 8,6% năm. đến năm 2005
tổng giá trị sản phẩm nội huyện đạt 683,5 tỷ đồng. Trong đó nông nghiệp đạt
389,5 tỷ đồng, cơ cấu nông nghiệp-công nghiệp và diện tích tương ứng 57%-
18%- 25%. Bình quân sản phẩm theo đầu người đạt 5.200.000 đồng.
+Phấn đấu đến năm 2005 toàn huyện giữ ổn định từ 6500 đến 7000 ha
đất canh tác trồng lúa, còn lại tập trung chuyển đổi sang lập vườn trồng cây có
giá trị kinh tế cao và nuôi thả cá ở những vùng hợp lý từ 100-150 ha. năm. Mở
rộng diện tích chuyển đổi cây trồng ngắn ngày đạt từ 400-500 ha/ năm. Tích
cực mở rộng diện tích gieo trồng cây vụ đông, phấn đấu từ 2500-3000
ha/năm. Năng xuất lúa đạt từ 12-14 tấn/ ha trở lên. Tổng sản lượng lương
thực đạt 90.000 tấn/năm trở lên, bình quân lương thực đạt 650 -700kg/
người/ năm.
Phấn đấu giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt từ 33 đến 35 triệu
đồng/năm. Đến năm 2005 giá trị thu được từ chăn nuôi chiếm trên 30% tổng
gía trị toàn ngành nông nghiệp.Có 56.000 con lợn, 6500 trâu bò, 700.000 gia
cầm các loại, sản lượng cá đạt 1500 tấn.
+Tốc độ phát triển bình quân ngành nông nghiệp đạt 4,5-5%/năm. Phấn
đấu mỗi năm có thêm từ 1000-1500 lao động đến độ tuổi có việc làm và đưa từ
300-500 nhân khẩu đi xây dựng các vùng kinh tế mơí. Tăng nhanh số hộ giầu
và hộ khá, xoá hộ nghèo. 75% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, cơ bản hoàn
thành các công trình công cộng, hiện đại hoá, kiên cố hoá cơ sở hạ tầng phục
vụ cho nông nghiệp-nông thôn.
vì vị trí quan trọng của nó đối với sản xuất nông nghiệp mà còn vì hiện nay
cách quản lý và sử dụng đất đai ở các địa phương còn nhiều bất cập. Thanh
Miện là một huyện thuộc vùng trung tâm của đồng bằng Sông Hồng, diện tích
đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp càng đòi hỏi sự chặt chẽ trong
quản lý và sử dụng nguồn đất này. Mặc dù việc quy hoạch các loại đất và lập
bản đồ địa chính ở hai cấp đã được hoàn thành , nhưng nếu chúng ta quan tâm
hơn nữa đến cách sử dụng đất thì chúng ta có thể hy vọng đạt được hiệu quả
cao hơn từ nguồn đất nông nghiệp hạn hẹp này. Theo em, trong thời gian tới
cần thực hiện tốt những vấn đề sau đây.
1.1-Tăng cường công tác chuyển đổi, chuyển nhượng ruộng đất
giữa các hộ nông dân:
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ bản đã được hoàn tất.
Việc thực hiện năm quyền của người sử dụng đất đai đã được đảm bảo, đặc
biệt là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng được các cấp, các ngành khuyến
khích tạo điều kiện thực hiện. Nhưng trong chính các hộ nông dân, việc thực
hiện năm quyền lại ít được coi trọng nhất là chuyển đổi và chuyển nhượng rất
ít khi xâỷ ra. Trong năm 2000 vừa qua là năm có số hộ nông dân chuyển
nhượng đất đai nhiều nhất cũng mới chỉ có 83 hộ chuyển nhượng với diện tích
là 16.496 m
2
. Điều đó đã nói nên việc chuyển nhượng ruộng đất ở Thanh Miện
thực sự còn nhiều mới mẻ. Qua tìm hiểu, em được biết có tình trạng này là do:
-Tâm lý người nông dân sản xuất nhỏ đã tồn tại từ rất lâu coi việc chuyển
đổi, thay đổi và chuyển nhượng ruộng đất là không nên, ruộng đất mình có thế
nào , có ở những đâu mình cứ canh tác như vậy.
-Hầu hết các hộ nông dân đều chưa mấy quan tâm tới việc chuyển đổi,
chuyển nhượng đất nông nghiệp, họ chưa nhìn thấy những lợi ích từ việc làm
này hoặc chưa có ý định làm điều gì đó thay đổi mà phải chuyển nhượng đất
đai, họ chấp nhận diện tích đất manh mún hiện tại như một điều cố hữu.
-Hầu hết các hộ nông dân có nhu cầu chuyển nhượng chưa chuyển hẳn
công tác chuyển nhượng, chuyển đổi, chỉ cho các hộ nông dân thấy những hiệu
quả thực tế từ việc chuyển nhượng, chuyển đổi những chi phí đã được giảm
bớt trong quá trình canh tác trước và sau khi chuyển đổi, chuyển nhượng.
Trách nhiệm này thuộc về hệ thống khuyến nông, các cấp hội và đoàn thanh
niên.
-Song song với quá trình thực hiện các thủ tục pháp lý về chuyển nhượng
đất nông nghiệp thì sự kết hợp với việc quản lý nhân khẩu, hộ khẩu và các
quyền lợi có liên quan cũng cần được coi ntrọng, tránh những tiêu cực xảy ra.
Tuy nhiên một số lo ngại cũng được đặt ra đó là khi tình hình chuyển đổi,
chuyển nhượng đất đai trong nông nghiệp đã trở nên sôi động sẽ xuất hiện
những đầu cơ ruộng đất mà hậu quả mang lại rất nghiêm trọng như những
người có nhu cầu sử dụng lại không có đất trong khi đất nằm trong tay những
kẻ đầu cơ này không được canh tác, quan tâm đúng mức sẽ gây lãng phí nguồn
lực và làm trầm trọng thêm một số vấn đề xã hội ở nông thôn. Cho nên về lâu
dài UBND huyện cũng nên tìm cách quản lý chặt chẽ tình hình chuyển nhượng
và chuyển đổi đất đai này.
Chuyển nhượng và chuyển đổi đất đai là một vận động bình thường của
nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường. Mức độ sôi động của sự chuyển
dịch này nhiều khi lại là dấu hiệu tăng trưởng kinh tế hoặc là kết quả của một
quá trình phát triển. Nhất là đối với nông nghiệp, muốn hình thành các trang
trại gia đình nhất thiết phải có sự tích luỹ về đất đai. Vì vậy, trong thời gian tới
cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề chuyển nhượng và chuyển đổi đất đai ở
Thanh Miện, thúc đẩy nó phát triển theo đúng xu hướng đề ra.
1.2- Quản lý và sử dụng tốt diện tích đất chuyên dùng và đất nông
nghiệp do các UBND xã qản lý:
Diện tích đất chuyên dùng và đất nông nghiệp cho các UBND xã quản lý
quá lớn. Trên toàn huyện hiện nay, diện tích này là 3.480.88 ha. Trong đó có
2530,85 ha đất chuyên dùng và 950,03 ha đất nông nghiệp. Trong khi đó việc
sự dụng hai loại đất này chưa đem lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng của
nó.Vì vậy cần sử dụng có hiệu quả hơn hai loại đất này theo các cách sau đây:
+ Lệ phí đấu thầu, thuê đất nông nghiệp đối với 56,96 ha và 294,33 ha
trên rất thấp cùng với tâm lý đất thuê không phải là đất của mình đã dẫn tới
tình trạng bỏ bê, không mấy mặn mà của các hộ thuê đất trên những diện tích
này. Mặc dù thời gian đấu thầu khá dài nhưng đa số các hộ nông dân không
chịu đầu tư, chỉ biết khai thác dẫn đến hiệu quả đem lại trên những diện tích
thầu thấp hơn hẳn diện tích cùng loại do các hộ nông dân nhận khoán.
+ Huyện mà trực tiếp là các UBND xã chưa có quy hoạch cây trồng đúng
đắn trên những diện tích này, các loại cây trồng ở đây chưa phù hợp với yêu
cầu của thị trường đòi hỏi vì vậy hiệu quả mang laị rất thấp.
+ Các văn bản cam kết giữa UBND xã và các hộ nông dân cho những diện
tích đất đai thầu còn rất lỏng lẻo, chưa có sự ràng buộc về sử dụng đối với các
hộ dẫn tới tình trạng sử dụng đất bừa bãi, chưa áp dụng khoa học-kỹ thuật
canh tác vào đất thuê đúng mức. Tình trạng lấy đất đóng gạch trên những diện
tích này diễn ra khá phổ biến, tạo thành những thùng, ao rất lãng phí.Vì vậy
trong thời gian tới, cần thực hiện một số biện pháp quản lý đối với những diện
tích đất nông nghiệp này như sau:
+Đối với những diện tích chưa cho thuê hoặc đã hết hạn thuê, hiện nay
UBND xã đã thu hồi: Cần điều chỉnh lại mức lệ phí thuê dựa trên mức quy định
chung của toàn huyện. Tổ chức đấu thầu công khai, đánh giá đúng giá trị thực
trạng của những diện tích đất sắp đưa vào đấu thầu, từ đó có những quy định
rõ ràng bằng văn bản, có cam kết với các hộ sử dụng về việc chấp hành những
quy định này, nếu hộ làm sai có thể phạt hoặc thu hồi đất.
+Đối với những diện tích đang trong thời hạn hợp đồng giữa hộ và UBND
xã: Dựa vào luật pháp xử lý những trường hợp cố ý làm sai như lấy đất đóng
gạch, tạo thành thùng ao có thể thu hồi nếu mức độ vi phạm quá nghiêm trọng.
Có các biện pháp quản lý chặt chẽ và hướng dẫn cụ thể đối với những diện tích
đang sử dụng. Hạn chế đến thấp nhất những sại phạm mà các hộ nông dân có
thể mắc phải.
+UBND huyện nên có một mô hình cụ thể về việc sử dụng diện tích đất
nông nghiệp do UBND các xã quản lý. Có sự quy hoạch cụ thể về các loại cây
công trình thuỷ lợi huyện Thanh Miện, kiểm tra rà soát và quy hoạch cụ thể tất
cả những diện tích đất chưa sử dụng, có sự phân tích đánh giá đúng, rõ ràng
những khả năng có thể dùng nguồn đất chưa sử dụng này vào những mục đích
gì thì phù hợp và cần thiết. Thực tế từ năm 1998 đến 2000 chúng ta đã chuyển
được 12,90 ha sang đất nông nghiệp 2 vụ; 15,68 ha sang đất nông nghiệp 1 vụ;
0,39 ha sang trồng cây hàng năm khác; 11,3 ha sang vườn tạp; 32,01 ha sang
mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và 378,34 ha sang làm thuỷ lợi. Và hoàn toàn có
thể làm như vậy đối với những diện tích còn lại. Sự đánh giá , quy hoạch của
các phòng ban này sẽ làm cơ sở để UBND huyện mà trực tiếp là các UBND xã
có kế hoạch và biện pháp sử dụng vào các mục đích khác nhau cho có hiệu quả
hơn.
Sau khi có sự phân tích và đánh giá tổng hợp của các phòng ban nêu trên,
chúng ta sẽ thực hiện việc sử dụng theo các hướng sau đây.
-Đối với những diện tích có thể cải tạo và trồng lúa ngay được hoặc có thể
trồng các loại cây ngắn ngày khác thì các xã có diện tích này nên chủ động cho
đấu thầu công khai, dựa trên định mức lệ phí giống như đất nông nghiệp do
UBND các xã quản lý như trên. Do phải cải tạo xong mới có thể sử dụng được
nên có thể ưu tiên không thu lệ phí và các loại thuế từ 1 đến 3 vụ.
-Đối với những diện tích đòi hỏi đầu tư cải tạo lớn, mà hiện nay trên địa
bàn huyện Thanh Miện thì đa số các diện tích này chỉ có thể dùng nuôi trồng
thuỷ sản . UBND các xã có thể xử lý theo các cách sau:
+UBND xã trực tiếp tiến hành cải tạo bằng nguồn vốn chưa sử dụng hoặc
bằng vốn vay. Sau đó đấu thầu công khai, dân chủ cho những hộ nông dân tiến
hành sản xuất kinh doanh. Số tiền thu được từ cho đấu thầu này, một số năm
đầu có thể dùng bù đắp những quỹ đã trích ra hoặc để trả nợ tiền vay.
+UBND xã chủ động cho đấu thầu công khai ngay cho các hộ nông dân có
nhu cầu và điều kiện cải tạo để sản xuất kinh doanh. Tuỳ theo sự phân tích tính
toán của những người có trách nhiệm mà có những ưu đãi về lệ phí, về thuế
trong một số năm cho thoả đáng và công bằng.
+UBND huyện có thể xem xét, giao những diện tích lớn cho trạm giống cá
các hộ.
-Trên cơ sở diện tích ruộng đất đã nhận lại, tiến hành phân bổ cho các hộ
nông dân mới ở nơi khác đến nhưng chưa được chia ruộng như những hộ
nhận khoán trước đó.
-Nếu diện tích ruộng đất đã thu hồi vẫn còn, các tổ, đội sản xuất tập hợp
những hộ có nhu cầu sử dụng, thông qua Đại hội xã viên hoặc các cuộc họp của
tổ, đội sản xuất mà tổ chức bình bầu công khai số hộ được nhận.
- Tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết giao ruộng đất cho các hộ, để
người dân có thể yên tâm sản xuất trên những diện tích được giao.
Trong quá trình thực hiện những công việc nêu trên, cần chú ý đến thời
hạn thu hồi ruộng và cần phải nhanh chóng giao ruộng cho các hộ khác ngay
từ mỗi đầu vụ, tránh tình trạng bỏ ruộng không có người canh tác. Chú ý ưu
tiên những gia đình chính sách, hộ nông dân nghèo, những gia đình nhiều lao
động và thực hiện các quyền lợi cũng như nghĩa vụ như những diện tích ruộng
nhận khoán trước
Còn một điều nữa mà tác hại của nó người nôn dân không thấy được
ngay khi họ làm. Đó là hiện nay do việc quản lý lỏng lẻo của các cấp chính
quyền nên đã có một số hộ nông dân tiến hành lấy những lớp đất bề mặt của
ruộng cấy về đóng gạch. Tình trạng này diễn ra ở hầu hết các thôn và tất cả
các xã khiến những người hiểu biết không khỏi đau lòng. Lớp đất tơi xốp bên
trên đã bị lấy đi, buộc họ phải canh tác trên tầng đất thiếu màu mỡ tiếp theo
khiến hiệu quả canh tác giảm sút, tạo thành những thửa, những ô ruộng cao
thấp khác nhau trông rất không đẹp mắt và gây khó khăn cho công tác thuỷ lợi
, cũng như các công việc khác. Vì vậy UBND các xã cần có biện pháp ngăn chặn
tình trạng này trong thời gian sắp tới như cưỡng chế, phạt, giải thích...
2- Giải pháp về tín dụng cho hộ nông dân.
Cùng với đất đai, vốn sản xuất của các hộ nông dân là tư liệu sản xuất chủ
yếu và đặc biệt quan trọng. Vốn không những góp phần quyết định việc đầu tư
như thế nào, đầu tư vào đâu của các hộ nông dân mà nó còn quyết định đầu tư
với quy mô ra sao? ý thức được tầm quan trọng đó, trong nhứng năm vừa qua
mình.
-Đối với ngân hàng nông nghiệp và PTNT huyện Thanh Miện.
Thực hiện cải cách trong công tác huy động nguồn vốn, trong những năm
vừa qua ngân hàng nông nghiệp và PTNT huyện Thanh Miện đã có thay đổi