PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua hơn 15 năm đổi mới, việc thực hiện và đưa nghị quyết đại
hội Đảng lần thứ VI vào cuộc sống (năm 1987) và đặc biệt là Nghị quyết
10 của Bộ chính trị (năm 1988). Kinh tế hộ nông dân nước ta đã đạt được
những thành quả to lớn, góp phần quan trọng tạo lên sự phát triển vượt bậc
của nền kinh tế đất nước. Khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nông
nghiệp - nông thôn, phát huy những lợi thế vốn có của đất nước, tạo công
ăn việc làm, từng bước làm tăng thu nhập cho lao động làm nông nghiệp là
những mục tiêu mà kinh tế hộ nông dân nước nhà về cơ bản đã làm được
trong thời gian qua. Tuy nhiên, cũng từ những kết quả đạt được đó, trên
con đường phát triển kinh tế hộ nông dân nước ta đã và đang đặt ra nhiều
vấn đề đòi hỏi chúng ta làm tốt hơn nữa trong thời gian tới như ruộng đất
cho người nông dân, vốn, tín dụng cho hộ nông dân, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng vật nuôi thị trường cung ứng vật tư đầu vào, đầu ra, nâng cao
trình độ tay nghề, kiến thức cho người lao động trong nông nghiệp nông
thôn.
Ý Yên là một huyện đồng bằng chiêm chũng với đa số hầu hết là các
hộ thuần nông. Cũng như các vùng khác trên phạm vi cả nước, hình thức tổ
chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn của huyện là kinh tế hộ
nông dân. Nông nghiệp là ngành luôn đóng vai trò quan trọng trong đời
sống kinh tế của toàn thể nhân dân và hộ nông dân cũng luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số hộ gia đình sinh sống trên địa bàn huyện. Trong quá
trình phát triển kinh tế hộ nông dân nơi đây cũng đặt ra nhiều vấn đề cần
giải quyết nhằm khai thác tốt hơn nữa các nguồn lực nông nghiệp - nông
thôn, không ngừng nâng cao chất lượng lao động và đời sống của người
nông dân. Và đó cũng là một vùng biểu hiện chung cho kinh tế nông hộ của
vùng đồng bằng Sông Hồng. Vì vậy, em lựa chọn đề tài "Một số giải pháp
phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Ý Yên - Nam Định" làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp cho mình. Với hy vọng, củng cố lại những kiến thức đã
được học ở nhà trường từng bước nâng cao trình độ tiếp cận những vấn đề
thực tiễn của bản thân vận dụng kiến thức thực tế, xem xét, đánh giá một
cách ồ ạt, Mác đã tuyên đoán giai cấp nông nhân sẽ bị xoá bỏ cùng với sự
phát triển của đại công nghiệp. Nông nghiệp sẽ được tổ chức lại thành nền
đại sản xuất như trong công nghiệp.
Nhưng sau đó, bất chấp xu hướng diễn ra trong thời kỳ công nghiệp
hoá nhanh chóng ở nước Anh, nông trại gia đình về căn bản không dựa trên
lao động làm thuê, vẫn tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó. Từ đó trong
quyển III của bộ tư bản, Mác đã viết "Ngay ở những nước siêu công
nghiệp… với thời gian cho đến nay đã khẳng định rằng hình thức lãi nhất
không phải là nông trại công nghiệp hoá mà là nông trại gia đình không
dùng lao động làm thuê. Những nước còn giữ hình thức tư hữu chia đất
thành khoảnh nhỏ, giá cả ngũ cốc trong những nước mà chế độ sở hữu
ruộng đất nhỏ còn chiếm địa vị thống trị thường thấp hơn so với những
nước có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa".
- Tư tưởng của V.L.Lênin:
Với tư duy biện chứng và hoạt động thực tiễn, V.I. Lênin đã có
những đóng góp quan trọng vào những luận điểm nêu trên của Mác và
Angghen.
Năm 1908, khi bàn về việc lựa chọn con đường phát triển của nông
nghiệp nước Nga, Lênin đã nhận thấy rằng: Không thể phát triển theo con
đường tư bản chủ nghĩa kiểu Phổ vì đó là kiểu phát triển kém hiệu quả, mà
phải là theo kiểu một chủ trại tự do trên mảnh đất tự do, nghĩa là mảnh đất
đó được dọn sạch khỏi những tàn tích trung cổ, đó là kiểu Mỹ, Lênin cho
rằng Cauxky đã đặt vấn đề rất chính xác và đúng đắn khi nói rằng: Nông
nghiệp khong phát triển theo cùng một kiểu với công nghiệp.
Thực tế cho đến nay, ngày càng khẳng định sự phát triển thắng thế
của con người khác với kiểu "Nông trại kỹ nghệ" ở Anh hoặc "Đại điền
trang kiểu Phổ" mà Mác và Lênin đã phán đoán ở nhiều nước.
- Tư tưởng của A.V.Traianôp.
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức tạp của tổ chức
sản xuất nông nghiệp. Đó là những doanh nghiệp hàng hoá gia đình nông
tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động của thị trường.
- Quan điểm của Liên Hợp Quốc:
+ Về phương diện thống kê:
Liên hợp quốc cho rằng: Hộ là những người cùng sống chung dưới
một mái nhà, cùng ăn chung và có cùng một ngân quỹ.
+ Về phương diện sản xuất:
Liên hợp quốc cho rằng: Kinh tế hộ là một hình thức tổ chức cơ sở
của nền sản xuất hàng hoá. Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia
đình, có một hoặc một số người lao động tự đầu tư khả năng về vốn để
trang bị tư liệu sản xuất, sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu
sản phẩm cho sự sinh tồn của họ trên thị trường.
Mỗi tư tưởng, mỗi quan điểm cho ta một cách nhận thức tổng quát
về kinh tế hộ nông dân hoặc kinh tế hộ nông dân trên một mặt nào đó. Tuy
vậy, chúng ta có thể hiểu:
Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế - xã hội được hình thành trên
cơ sở các mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, phong tục, tâm linh, tâm lý,
đạo đức. Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông dân và nông thôn.
Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại từ rất lâu ở các nước nông nghiệp, tự chủ
trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp, là pháp nhân kinh tế, bình đẳng
trước pháp luật và là chủ thể nền kinh tế thị trường.
Từ những tư tưởng, những quan điểm, khái niệm và những đặc điểm
của kinh tế hộ nông dân như đã nêu ở trên chúng ta có thể rút ra được bản
chất của kinh tế hộ nông dân thể hiện ở những khía cạnh sau:
+ Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế, trong đó các thành viên hoạt
động và làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích của bản thân, của
gia đình và của toàn xã hội.
+ Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế thích ghi nhất với đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp, nơi mà các cây trồng, vật nuôi đòi hỏi quan
tâm sát sao, sự chăm sóc đúng lúc của con người. Đất đai và các tư liệu sản
xuất khcs đòi hỏi một sự bảo quản và bồi dưỡng hợp lý từ người sử dụng,
ra, quả cung cấp cho gần 6 tỷ người.
Ở Mỹ, chỉ với khoảng 65% đất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân đã
tạo ra một lượng nông sản chiếm khoảng 70% giá trị sản phẩm nông
nghiệp, 50% sản lượng ngô toàn thế giới.
Ở Nhật Bản, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất ra một khối lượng sản
phẩm đủ cung cấp cho nhu cầu của cả nước với khối lượng: 100% nhu cầu
về gạo; 81 nhu cầu về thịt; 98% nhu cầu về trứng; 90% nhu cầu về rau,
quả…
Ở Việt Nam chúng ta với trên 10 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo
ra một khối lượng nông sản thực phẩm cực lớn với sự tiến bộ vượt bậc,
theo thống kê năm 2000 thì khối lượng sản phẩm của toàn ngành nông
nghiệp là: 35,36 triệu tấn lương thực quy thóc, xuất khẩu đạt 3,6 triệu tấn
gạo, đã trồng được 717 nghìn ha ngô, sản lượng xuất khẩu các phê đạt 694
nghìn tấn, cao su đạt 280 nghìn tấn, sản lượng thịt trứng liên tục tăng với
tốc độ cao, chúng ta không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm
cho nhân dân cả nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước
xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới.
- Hình thành đơn vị tích tụ vốn của xã hội.
Kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là đơn vị sản xuất cơ sở và tự chủ
đã đóng vai trò là đơn vị tích tụ vốn của xã hội , cùng với các đơn vị trong
các thành phần kinh tế khác tạo lên một tổng thể các nguồn vốn phục vụ
cho nhu cầu về vốn của toàn xã hội.
Nguồn vốn mà các hộ nông dân tích tụ được là cơ sở cho việc
chuyển từ kinh tế tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hoá với hiệu quả cao
mang lại. Kết quả ấy sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành
nghề trong nông nghiệp, góp phần tích cực và to lớn vào sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình, kinh tế hộ nông dân
vừa là đơn vị tích tụ vốn, vừa đóng vai trò là đơn vị giải ngân nguồn vốn đó
vào việc tái sản xuất hoặc mở rộng ngành nghề, tạo nguồn đầu tư vào các
Cùng với quá trình phát triển của mình kinh tế hộ nông dân ngày
càng có điều kiện để tích luỹ tái sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu,
khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng như máy móc được áp dụng và sử
dụng vào sản xuất ngày càng được nâng lên rõ rệt thêm vào đó là sự phù
hợp trong cơ chế và các chính sách của nhà nước sẽ giúp cho sản xuất ngày
càng số phát triển lao động phục vụ cho nhu cầu của kinh tế hộ về nông
nghiệp ngày càng giảm, sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa lao động trong nông
nghiệp. Số lao động dư thừa này với trình độ ngày càng được nâng lên sẽ
chuyển dịch sang làm việc tại các ngành, nghề khác, nhất là các ngành
nghề truyền thống sẽ ngày càng phát triển.
Tất cả những điều này sẽ dẫn tới diện tích đất nông nghiệp trên đầu
người sẽ tăng, năng suất lao động tăng và hiệu quả sản xuất của một lao
động sẽ không ngừng được nâng lên.
- Đổi mới kỹ thuật sản xuất.
Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân với tư cách là một
thành phần kinh tế tồn tại và luôn đổi mới cùng với quá trình đổi mới, phát
triển của nền kinh tế nói chung. Kinh tế hộ nông dân chịu sự ảnh hưởng tác
động của các thành phần kinh tế khác, của nhiều yếu tố khác. Qua quá
trình hoạt động, nó luôn phát triển hướng tới hoàn thiện mình, và đổi mới
về kỹ thuật sản xuất chỉ là một mặt đổi mới của nó. Sự đổi mới về kỹ thuật
sản xuất có được là do các nguyên nhân tác động sau đây:
+ Người nông dân với kinh nghiệm sản xuất ngày càng làm tốt hơn
công việc của mình, phát hiện những khó khăn cần khắc phục và những
thuận lợi cần khai thác phát huy.
+ Cùng với quá trình phát triển của mình, việc đầu tư cho đổi mới
trang thiết bị sản xuất là điều tất yếu mà việc học hỏi khoa học kỹ thuật
mới là việc làm thực sự cần thiết.
+ Trong đời sống kinh tế hộ nông dân thì việc lành mạnh, sự ganh
đua với những kết quả đạt được sẽ là động lực, là nhân tố tích cực đầu tư và
học hỏi.
Vai trò của kinh tế hộ nông dân như đã nêu ở trên, chúng ta có thể
khẳng định kinh tế hộ nông dân sẽ tồn tại và luôn là một thành phần kinh tế
quan trọng của mọi quốc gia, sự phát triển của nó không những làm cho đời
sống của người dân ngày càng được nâng cao, các nguồn lực trong sản xuất
nông nghiệp ngày càng được khai thác đầy đủ mà còn có tác dụng to lớn
thúc đẩy sự phát triển của các thành phần, các ngành kinh tế khác.
Đối tượng sản xuất của kinh tế hộ nông dân có đặc điểm riêng biệt
đó là cây trồng và vật nuôi, là những cơ thể sống, chúng sinh trưởng và
phát triển theo những quy luật sinh học nhất định. Là cơ thể sống, vì vậy
chúng rất nhạy cảm với môi trường tự nhiên, mỗi sự thay đổi về thời tiết,
khí hậu, về sự chăm sóc của con người đều có tác động trực tiếp đến quá
trình phát sinh và phát triển của chúng, và tất nhiên là ảnh hưởng đến kết
quả cuối cùng của sản xuất. Do chúng có đặc điểm như vậy nên muốn đạt
được hiệu quả cao nhất thiết phải có sự quan tâm đúng mực, thường xuyên
và thực sự sát sao của con người. Mỗi sự biến đổi, thay đổi nhỏ của những
cơ thể sống này con người đều phải biết, chúng cần phải được chăm sóc
đúng lúc, đúng chỗ, đúng khoa học. Để làm tốt những điều này không một
chủ thể nào khác mà chỉ có hộ nông dân đảm đương nổi. Đặc điểm có đó
chỉ phù hợp với trách nhiệm, chất lượng của lao động gia đình, phù hợp với
kiểu tổ chức sản xuất của kinh tế hộ nông dân.
- Thực tế phát triển kinh tế hộ nông dân đã cho thấy nhiều ưu điểm
mà không một chủ thể nào có được, hơn nữa phát triển kinh tế hộ nông dân
còn giúp phát triển lực lượng sản xuất, tạo công ăn việc làm và giải phóng
lực lượng, năng lực sản xuất ở nông thôn. Đây là việc làm thực sự có ý
nghĩa với bất kỳ một nền kinh tế nào, với bất kỳ một xã hội nào. Việc phát
triển lực lượng sản xuất, tạo công ăn việc làm là điều cần thiết cho sự phát
triển của xã hội, của con người. Năng lực sản xuất ở nông thôn, nhiều khi
còn bị bó buộc, nhưng nay nó đã được giải phóng, được phát huy tác dụng
qua sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
- Phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ giúp khai thác hết mọi tiềm năng,
mới, trong văn kiện Đại hội VI của Đảng (1986) và trong Hiến pháp của
nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, kinh tế hộ nông dân đã được công
nhận và được coi là một thành phần kinh tế còn tồn tại tất yếu, bình đẳng
và lâu dài.
Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế và nông nghiệp nước
ta đã khởi sắc, đạt được những thành tựu to lớn, điều đó có được là có một
sự đóng góp rất lớn của kinh tế hộ nông dân. Điều này một lần nữa khẳng
định sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách
quan, phù hợp với quy luật của sản xuất nông nghiệp.
2. Đặc điểm của kinh tế nông hộ nông dân
2.1. Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đang quá độ sang sản
xuất hàng hoá.
Trong kinh tế hộ nông dân, chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi
ích nên đã tạo ra động lực kinh tế thúc đẩy nền nông nghiệp chuyển sang
sản xuất hàng hoá.
Trước đây kinh tế hộ nông dân được quan niệm như là một tàn dư
của chế độ kinh tế cá thể, luôn có nguy cơ phá vỡ và làm xói mòn quan hệ
sản xuất tập thể. Do đó, kinh tế hộ nông dân chỉ được coi là kinh tế phụ.
Kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở nước ta hiện nay khác về chất so
với kinh tế hộ tiểu nông tự cung tự cấp trước đây. Hiện nay ở nước ta có 3
loại kinh tế hộ nông dân tự chủ:
- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của những người nông dân cá thể (đó là
người nông dân chưa vào hợp tác xã). Loại kinh tế hộ nông dân tự chủ này
khác với kinh tế hộ nông dân cá thể trước đây ở hai điểm:
+ Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Họ
được nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh của họ được sự quản lý của nhà
nước.
- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của các thành viên trong các nông lâm
trường quốc doanh. Ở đây hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ vừa
nhập thì hộ nông dân phải đổi mới cơ cấu sản xuất của mình hướng tăng
nhanh tỷ trọng hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường, chuyên cạnh kết
hợp với đa cạnh để đa dạng sản phẩm, đa dạng hoá ngành nghề. Hộ nông
dân có thể tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh
tế nông nghiệp, với nhiều loai hình sản xuất và mọi nguồn lực có được.
Trên cơ sở điều kiện sinh thái của các loại cây trồng vật nuôi, điều
kiện lao động, tập quán sản xuất và nhu cầu của thị trường mà cơ cấu sản
xuất của hộ nông dân ở các vùng có sự khác nhau.
2.3. Kinh tế hộ nông dân có khả năng điều chỉnh theo sự vận động
của cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước.
Mác đã từng khẳng định có sự dịch chuyển từ ngành này sang ngành
khác một cách nhanh chóng nếu tư bản càng có tính chất di động, tức là
càng dễ di chuyển từ một lĩnh vực này sang một lĩnh vực khác và sức lao
động càng có thể nhanh chóng được di chuyển từ một lĩnh vực này sang
một lĩnh vực khác.
Trong công nghiệp việc di chuyển tư bản và sức lao động từ lĩnh vực
này sang lĩnh vực khác khó khăn. Ngược lại đối với nông nghiệp nếu việc
sản xuất và tiêu thụ một loại nông sản nào đó gặp khó khăn thì kinh tế hộ
nông dân có thể chuyển nhanh sang loại nông sản khác. Tuy nhiên khả
năng điều chỉnh của kinh tế hộ nông dân còn phụ thuộc vào các yếu tố tự
nhiên (cây, con thời tiết, khí hậu…) của từng vùng, vào lực lượng lao động,
vào tư liệu sản xuất, vốn và trình độ kỹ thuật của từng hộ nông dân, mặt
khác chi phí sản xuất sản phẩm tỷ lệ nghịch với quy mô sản xuất, trình độ
công nghệ và tổ chức sản xuất còn ở hộ nông dân trình độ công nghệ sản
xuất nhỏ bé và lạc hậu, tổ chức sản xuất không hợp lý, quy mô sản xuất hạn
hẹp nên chi phí sản xuất cao làm cho hiệu quả sản xuất hạn chế cho nên
kinh tế hộ nông dân chỉ mang tính chất sản xuất hàng hoá nhỏ, để phù hợp
với kinh tế thị trường hiện nay thì quá trình vận động từ sản xuất hàng hoá
nhỏ sang sản xuất hàng hoá lớn (kinh tế trang trại) có quy mô sản xuất
lớn, trình độ công nghệ hiện đại và tổ chức sản xuất hợp lý.
Đất đai là cơ sở tự nhiên là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản
xuất. Nó tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhưng tuỳ thuộc
vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong nông
nghiệp ruộng đất không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà
là yếu tố tích cực của sản xuất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay
thế được.
Nước ta là một trong những nước có mức bình quân ruộng đất nông
nghiệp theo đầu người thuộc loại thấp của thế giới, đạt 1073m
2
, nhưng lại
phân bố không đều giữa các vùng. ở các tỉnh phía Bắc bình quân đạt
861m
2
, trong vùng Đồng bằng sông Hồng 591m
2
, ở các tỉnh phía nam bình
quân đạt 1329m
2
, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1729m
2
.
Đất đai nước ta rất phong phú, cả nước có 13 nhóm đất chính nên có
thể trồng được nhiều loại cây trồng và vật nuôi:
Trong đó đất đỏ chiếm 54% diện tích đất nông nghiệp, loại đất này
có chất lượng tốt, khá thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm và
cây ăn quả. Đứng thứ hai là nhóm đất phù sa khá màu mỡ phân bố chủ yếu
ở 2 đồng bằng lớn là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
Bên cạnh đó đất của nước ta là đất dốc, đất đồi núi rất khó khăn cho sản
xuất hàng hoá. Bình quân đất ít lại chia ra nhiều mảnh nhỏ, cùng với tập
quán canh tác thủ công lạc hậu lâu đời của chế độ cũ để lại, cũng như trong
các yếu tố đó chỉ có thể đáp ứng được khi có vốn.
Vốn sản xuất tác động vào toàn bộ quá trình sản xuất nông sản
thông qua phân bón, thức ăn, thuốc chữa bệnh cho gia súc và mua giống.
Có thể nói vốn có vai trò quan trọng đối với ngành nông nghiệp.
Ngành nông nghiệp có thể phát triển được hay không còn phụ thuộc vào
lượng vốn của ngành, trong khi đó vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm:
Vốn cố định ngoài những tư liệu có nguồn gốc kỹ thuật còn có tư liệu lao
động có nguồn gốc sinh học (cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh
sản), sản xuất nông nghiệp có chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ làm cho
tuần hoàn và luân chuyển của vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi
vốn, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài
của vốn lưu động và làm cho vốn ứ đọng, sản xuất nông nghiệp lệ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng gặp nhiều rủi ro làm tổn thất
hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn.
2.3. Nhân tố về thị trường ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ
nông dân
Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đối với sản xuất kinh
doanh nông nghiệp bởi vì theo kinh tế học hiện đại người sản xuất chỉ sản
xuất những gì mà thị trường cần: nếu sản phẩm nong nghiệp được thị
trường chấp nhận với số lượng lớn mà cung nông sản nhỏ hơn thì người
sản xuất bán được giá cao và thu được nhiều lợi nhuận, nó thúc đẩy sự phát
triển ngày càng tăng về chiều rộng cũng như chiều sâu nhưng nếu sản phẩm
nông sản không được thị trường chấp nhận hoặc tiêu thụ trên thị trường
chậm thì giá nông sản thấp hơn giá thành bị thua lỗ khiến cho người trực
tiếp sản xuất bắt buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển đổi ngành
nghề.
Mặt khác thị trường còn có ảnh hưởng đến giống loài cây trồng và
vật nuôi cần để nuôi trồng. Ngoài việc căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kỹ
thuật phù hợp người sản xuất còn căn cứ vào sở thích, thói quen đa số
người tiêu dùng trên thị trường để quyết định sản xuất nông sản cho thị
triển nông nghiệp cần đạt tới, phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước.
Nhưng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, kế hoạch kinh tế
quốc dân có tính chất pháp lệnh và chỉ đạo theo phương thức giao nhận và
chấp hành kế hoạch còn hiện nay, kế hoạch hoá kinh tế quốc dân có tính
chất hướng dẫn, chỉ đạo theo định hướng của kế hoạch hoá.
Hệ thống công cụ chính sách kinh tế giúp nhà nước điều khiển hoạt
động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân…).
Nhờ các chính sách kinh tế mà chủ thể kinh tế trong ngành nông nghiệp đã
hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội, tiết kiệm và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực sản xuất nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm
nông nghiệp.
Thế chấp hoá pháp luật và các chính sách kinh tế là điều kiện cần
thiết để đưa chúng vào thực tiễn phát triển nông sản hàng hoá, ví dụ như
luật đất đai thực hiện vào cuộc sống nó thể hiện quyền sử dụng đất đối với
hộ nông dân tạo điều kiện tập trung ruộng đất để sản xuất nông sản hàng
hoá. Pháp luật kinh tế trong nông nghiệp tạo ra hành lang pháp lý cho
doanh nghiệp bảo vệ quyền tự do cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể
kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế nông
nghiệp phát triển. Tóm lại chính sách của nhà nước có ảnh hưởng lớn đến
phát triển sản xuất nông sản hàng hoá. Nếu có phù hợp giữa các chính sách
vĩ mô của nhà nước và điều kiện cần thiết để sản xuất hàng hoá thì sẽ tạo
điều kiện tốt cho phát triển nông sản hàng hoá, ngược lại nếu không phù
hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.
3. Nhân tố khoa học công nghệ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế
hộ nông dân.
Công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có ảnh hưởng trực tiếp
quyết định đến năng xuất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Nếu công
nghệ giống cây trồng và vật nuôi tốt không những tạo ra nhiều về số lượng
nông sản mà còn tạo ra chất lượng nông sản tốt hơn. Ngược lại, nếu giống
cây trồng và vật nuôi không tốt, thái hoá, bệnh tật thì sẽ gây khó khăn cho
2
, dân số 14806000
người trong đó số lao động nông nghiệp chỉ chiếm 5,7% dân số, nhưng
hàng năm đã sản xuất ra một lương lương thực - thực phẩm không những
đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu 48,3 tỷ Gulden sản phẩm
nông nghiệp năm 1990.
Mỗi một lao động nông nghiệp ở Hà Lan có thể nuôi được 112
người. Toàn bộ sản xuất nông nghiệp ở Hà Lan được tổ chức chủ yếu theo
nông trại. Năm 1960 có 300 nghìn nông trại thì đến năm 1985 chỉ còn 138
nghìn. Các nông trại tổ chức gọn với diện tích trung bình khoảng 10ha đất
canh tác, sử dụng lao động gia đình là chính. Các nông trại được trang bị
đầy đủ mọi dụng cụ, máy móc cần thiết, số nông trại chăn nuôi chiếm
17%.
- Ở Pháp:
Đơn vị sản xuất phổ biến trong nông nghiệp là nông trại gia đình.
Năm 1956 đã có khoảng 2,5 triệu nông trại với 4 triệu lao động canh tác
trên diện tích 32 triệu ha. Quy mô canh tác bình quân của một nông trại đây
là 15 đến 20ha, nay tăng lên 20 đến 50ha. Có 70% nông trại chăn nuôi từ
20 bò sữa trở lên. Nông trại ở Pháp chủ yếu sử dụng lao động và công cụ
máy móc của gia đình.
- Ở Mỹ:
Hoa Kỳ là nước từ nhiều năm nay dẫn đầu thế giới về sản xuất nông
nghiệp. Năm 1987, xuất khẩu nông phẩm của Hoa Kỳ đạt 46 tỷ đôla, đó là
con số cực kỳ lớn nói lê vị trí dẫn đầu của họ. Ngoài điều kiện thiên thuân
lợi, kết quả ấy còn do yếu tố tổ chức sản xuất hợp lý mang lại. Người Mỹ
thường nói "nông trại gia đình là linh hồn, là tế bào của nền nông nghiệp
Hoa Kỳ" và quả thực đúng như vậy. Năm 1976, toàn Mỹ có 28 triệu nông
trại với khoảng 4,4 triệu lao động nhưng đến năm 1987 con số này chỉ còn
2.176 nghìn nông trại với 3,208 triệu lao động (chưa đầy 2% dân số). Do
quy mô và năng suất lao động tăng nên số nông trại và số lao động nông