Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Vùng miền núi Bắc Bộ nói chung, tỉnh Cao Bằng nói riêng là một vùng sinh
thái nhân văn có nhiều đặc thù. Trong 10 năm qua thực hiện Nghị quyết
32/NQTƯ chỉ thị thế giới/HĐBT, chỉ thị 252 TTG, nền kinh tế nông nghiệp
nông thôn của vùng tỉnh đã có bớc phát triển quan trọng. Tuy vậy hiện nay đây
vẫn là vùng phát triển chậm nhất trong cả nớc, đời sống của các hộ gia đình còn
ở mức thấp, tỷ lệ đói nghèo còn ở mức cao, kinh tế hộ gia đình chủ yếu là ở mức
tự cấp tự túc. Tính riêng tỉnh Cao Bằng còn 106 xã, 38767 hộ thuộc diện khó
khăn.
Với chủ trơng đổi mới kinh tế của cả nớc, hiện nay hộ nông dân của nớc ta
đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ đợc giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài đ-
ợc khuyến khích phát triển sản xuất...
Tỉnh Cao Bằng là một trong những tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn thuộc
vùng miền núi Bắc Bộ. Để phát triển kinh tế của tỉnh nói chung kinh tế nông
thôn nói riêng, qua thực hiện quyết định 133/1998/QĐ-TTG và quyết định
135/1998/QĐ-TTG của Thủ tớng chính phủ, UBND tỉnh Cao Bằng đã huy động
mọi nguồn của tỉnh nói chung và các xã đặc biệt khó khă nói riêng.
Chủ trơng của tỉnh là đi đôi với việc đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn,
tạo địa bàn sản xuất, cần tập trung hỗ trợ các gia đình phát triển sản xuất để đẩy
mạnh kinh tế hộ nông dân, từng bớc đa kinh tế hộ nông dân trở thành hình thức
tổ chức sản xuất chủ yếu ở nông thôn, tạo ra sản phẩm nông nghiệp hàng hoá.
Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, trong những năm qua đợc sự hỗ trợ giúp đỡ của
các ngành, các cấp, kinh tế hộ nông dân đã đợc phát triển mạnh mẽ và trở thành
hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu tạo ra sản phẩm nông nghiệp ở khu vực nông
thôn của tỉnh và là nhân tố quan trọng góp phần to lớn vào quá trình phát triển
kinh tế nông nghiệp, kinh tế xã hội nông thôn của tỉnh. Tuy nhiên quá trình phát
triển kinh tế hộ nông dân ở Cao Bằng mới là bớc đầu, thực tiễn đang đặt ra nhiều
vấn đề cần đợc nghiên cứu và giải quyết. Do đó đề tài "Những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở tỉnh Cao Bằng" đợc lựa chọn một mặt
nhằm góp phần thực hiện chủ trơng đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề, em đã sử dụng các phơng pháp sau:
4.1. Thu thập tài liệu số liệu
Sử dụng phơng pháp thống kê thu thập tài liệu để:
- Tổng hợp các tài liệu về lý thuyết kinh tế hộ nông dân.
- Tổng hợp tình hình phát triển kinh tế hộ của một số nớc trên thế giới và nớc
ta.
- Thu thập, tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu, số liệu ở viện kinh tế và
địa phơng có liên quan đến chuyên đề nghiên cứu.
4.2. Điều tra thực hiện
Để thu thập số liệu về điều kiện sống, sản xuất, kết quả sản xuất, tình hình
thu nhập của các hộ và tìm hiểu vấn đề của các hộ nông dân quan tâm hiện nay,
em đã sử dụng các phơng pháp sau đây trong quá trình điều tra.
- Sử dụng kỹ thuật điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của nông dân
(PRA) để thu thập thông tin
- Dùng phơng pháp điều tra mở để thu thập thông tin thứ cấp và thông tin
chung.
- Dùng phơng pháp điều tra theo bản các chỉ tiêu điều tra và câu hỏi định sẵn
(theo phiếu điều tra in sẵn) để thu thập thông tin về kinh tế hộ. Mỗi vùng sinh
thái điều tra 30 phiếu.
- Đánh giá thông tin thu thập bằng phơng pháp KIP và kiểm chứng bằng ph-
ơng pháp SWOT.
4.3. Phơng pháp xử lý số liệu.
- Sử dụng phơng pháp thống kê kinh tế để tổng hợp, phân tích về mức thu
nhập, quy mô nông hộ và kết quả hoạt động của các hộ nông dân. Trong quá
trình phân tích đã sử dụng chỉ tiêu bình quân về giá trị thu nhập, quy mô đất đai,
lao động, vốn, trình độ chủ hộ để phân tích hộ nông dân.
- Sử dụng phơng pháp tính toán kinh tế để tính toán, phân tích em đã sử dụng
phơng pháp hàm sản xuất để xác định mục tiêu cơ chế hoạt động của hộ nông
dân và sử dụng máy tính chơng trình SPSS phân tích tìm ra nhân tố chủ yếu tác
động đến kinh tế hộ nông dân.
ở Việt Nam, trong quá trình phát triển công nghiệp nông thôn, sản xuất của
các hộ gia đình nông dân đã có nhiều biến đổi thăng trầm. Trớc đây, dới chế độ
tập trung quan liêu bao cấp, trong nông thôn tồn tại hình thức kinh tế tập thể là
chủ yếu, kinh tế hộ gia đình chỉ là phụ, thậm chí còn bị hạn chế, cản trở phát
triển.
Những năm gần đây cùng với sự đổi mới trong cơ chế quản lý và chủ trơng
phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nớc hộ nông dân trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ. Hộ là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng cho các cá nhân
của hộ. Nó ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất của hộ và của xã hội nói chung.
Hộ là đơn vị sản xuất và tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay các nguồn lực
của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, nguồn thu nhập...).
Hộ là một đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên việc phân
bố nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó.
Trong quá trình nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị kinh tế khác và với hệ
thống quốc gia. Khai thác các năng lực của hộ sẽ góp phần thúc đẩy hệ thống
kinh tế quốc gia phát triển.
Xem xét các nguồn vốn sản xuất của hộ cũng nh các yếu tố sản xuất bên
trong hộ nh đất đai, lao động, công cụ sản xuất, vốn lu động... có thể thấy những
đặc điểm của kinh tế hộ trong nông thôn nớc ta và những khả năng cũng nh xu
hớng phát triển của nó.
Do vai trò và tính chất của kinh tế hộ nông dân nh trên nên có thể nói kinh tế
hộ nông dân là khoa học và nghệ thuật nghiên cứu và giải quyết những vấn đề
kinh tế sản xuất xã hội có liên quan của bản thân hộ nông dân và giữa kinh tế hộ
nông dân với các ngành khoa học kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Vì vậy nghiên cứu đặc trng của kinh tế hộ nông dân là nghiên cứu bản chất,
nghiên cứu cái cốt lõi của kinh tế nông hộ, có ảnh hởng quan trọng tới việc lựa
chọn các mô hình kinh tế, các chính sách kinh tế xã hội thích hợp có liên quan,
có ảnh hởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn mới ở nớc ta.
Bản chất của kinh tế hộ nông dân đợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
thay thế vào đó là việc xây dựng các xí nghiệp nông nghiệp theo hớng tập trung
quy mô lớn. Nhng về sau, với thực tế phát triển nông nghiệp theo hớng tập trung
ở nớc Anh và các nớc t bản chủ nghĩa, Mác đã cho rằng, ngay ở các nớc có nền
công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là
các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các nông trại gia đình không dùng
các lao động làm thuê. Kinh tế nông trại gia đình tỏ ra là hình thức tổ chức nông
nghiệp hợp lý, không mâu thuẫn với phơng thức kinh doanh t bản chủ nghĩa.
Từ những luận điểm về kinh tế hộ nông dân của các nhà kinh tế, chúng ta có
thể nhận thấy rằng: kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự
chủ trong công nghiệp, đợc hình thành và tồn tại khách quan lâu dài và dựa trên
cơ sở sử dụng sức lao động, đất đai và t liệu sản xuất khác của gia đình các hộ
nông dân là chính. Kinh tế hộ nông dân là hình thái kinh tế có hiệu quả phù hợp
với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại trong mọi chế độ kinh tế xã hội.
Kinh tế hộ nông dân khác biệt so với các hình thức kinh tế khác bởi vì nó là kinh
tế của những ngời cùng sống trong hộ gia đình. Nó bị chi phối chủ yếu bởi đất
đai, lao động, tiền vốn của gia đình hộ nông dân và thái độ tiêu dùng sản phẩm
của ngời dân.
Vận dụng lý luận kinh tế hộ nông dân vào thực tế, các nhà kinh tế học
nghiên cứu thực tiễn về hoạt động kinh tế hộ nông dân trên thế giới đã thấy kinh
tế hộ nông dân phát triển từ trạng thái tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá ở các
mức độ khác nhau. Một khi hội tụ đợc các điều kiện để phát triển kinh tế của gia
đình nh đất đai, vốn, lao động kỹ thuật thì các hộ nông dân phá vỡ cái vỏ ốc tự
cấp tự túc của mình để dần dần đi vào quỹ đạo của sản xuất hàng hoá. Thông
qua quá trình tiến hoá đó, các hộ nông dân thay đổi mục tiêu và cách kinh doanh
cũng nh phản ứng của thị trờng.
Lúc đầu, kinh tế hộ nông dân sản xuất hoàn toàn là tự cấp tự túc. Theo lý
thuyết của Traiauov có mục tiêu tối đa hoá lợi ích, lợi ích ở đây là sản phẩm cần
để tiêu dùng trong gia đình, ngời nông dân phải lao động để sản xuất lợng sản
phẩm cho đến lúc không đủ sức sản xuất nữa, nhân tố ảnh hởng nhất đến nhu
cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số của hộ gia đình. Lúc này ng-
ở Việt Nam hiện nay với gần 12 triệu hộ nông dân, chiếm 80% tổng số hộ
toàn quốc, đang là các đơn vị chủ yếu sản xuất ra sản phẩm lớn các nông sản
phẩm cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu. Hiện nay các hộ
nông dân ở nớc ta đợc giao trên 5 triệu ha đất nông nghiệp, cùng với sự đổi mới
cơ chế quản lý nói chung, việc thừa nhận hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự
chủ đã tạo tiền đề và điều kiện quan trọng cho các hộ nông dân đầu t phát triển
sản xuất, góp phần quyết định tạo nên bớc phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp
và kinh tế nông thôn ở nớc ta trong thời gian qua. Hiện nay 100% sản lợng lơng
thực, khoảng 90- 95% rau thực phẩm và 80- 85% sản lợng thịt, trứng sản xuất ra
của cả nớc là do kinh tế hộ nông dân thực hiện.
3. Đặc trng của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản trong quá trình phát
triển nông nghiệp của nớc ta. Trong giai đoạn hiện nay nó đợc xác định là một
thành phần kinh tế, là một kiểu tổ chức kinh tế vừa có tính chất truyền thống,
vừa mang tính thời đại, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
trong nông nghiệp nói riêng, trong kinh tế xã hội nói chung.
Kinh tế hộ nông dân là một tế bào bền vững và phát triển lành mạnh trong cơ
chế nền kinh tế quốc dân, bởi có những đặc trng sau đây:
3.1. Đặc trng về mục đích sản xuất: Mục đích sản xuất của kinh tế hộ gia
đình chủ yếu là trên cơ sở sản xuất đảm bảo nhu cầu lơng thực thực phẩm cho
hộ, từng bớc tổ chức sản xuất các loại nông sản hàng hoá tăng thu nhập nhằm
nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của hộ gia đình ngày càng tốt hơn.
3.2. Đặc trng về sở hữu: Là sở hữu gia đình, quyền sở hữu đất đai, t liệu sản
xuất và sản phẩm do kinh tế hộ gia đình tạo ra là do mọi thành viên trong gia
đình có quyền sử dụng. Sự sở hữu này không hoàn toàn giống nh sở hữu t nhân
trong sở hữu tập thể.
3.3. Đặc trng về lao động: Lao động của kinh tế hộ gia đình gồm các thành
viên trong hộ thực hiện, họ làm việc với tính tự giác cao, tự chủ vì lợi ích của
bản thân và gia đình họ và lợi ích của xã hội.
3.4. Đặc trng về phân phối: Các sản phẩm do kinh tế hộ gia đình sản xuất ra
tạo ra khối lợng hàng hoá lớn.
Kết quả điều tra cho thấy (phần thực trạng) ở tiểu vùng bồn địa là các huyện
gần thị xã, trình độ dân trí cao, các chủ hộ dới 40 tuổi chiếm tới 45% trong các
chủ hộ điều tra (tỷ lệ này lớn gấp 1,5- 2 lần so với các tiểu vùng khác). Trình độ
học vấn của các chủ hộ ở tiểu vùng bồn địa có trình độ cấp III cũng chiếm tới
45% số hộ điều tra (trong khi đó ở tiểu vùng núi đất tỷ lệ này chiếm 17%).
Chính do trình độ chủ hộ ở tiểu vùng bồn địa cao hơn so với các tiểu vùng
khác nên đã góp phần làm cho kinh tế hộ nông dân ở tiểu vùng này phát triển
hơn, mức thu nhập bình quân ở tiểu vùng này vừa qua thờng gấp 1,3- 1,5 lần các
tiểu vùng khác.
Từ thực tế này cho thấy để phát triển kinh tế hộ nông dân, trong những năm
tới cần quan tâm đào tạo nâng cao hiểu biết kỹ thuật, chăn nuôi và trình độ tổ
chức quản lý cho các chủ hộ trẻ. Đây là một yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế
hộ nông dân ở Cao Bằng phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá làm cho nông
thôn Cao Bằng ngày càng có nhiều hộ giàu.
4.2. Về các nguồn lực của hộ nông dân
Các nguồn lực của hộ gia đình (các yếu tố sản xuất của hộ gia đình) ảnh h-
ởng rất lớn đến phát triển kinh tế hộ. Tuy nhiên với điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, trình độ tổ chức sản xuất cha cao nh ở Cao Bằng hiện nay thì mới t-
ơng quan giữa quy mô các nguồn lực của hộ và kết quả sản xuất của hộ cha thể
hiện rõ nét.
Dựa vào kết quả điều tra về các nguồn lực của các hộ nông dân ở các tiểu
vùng sinh thái và kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ em rút ra một số nhận
xét sau:
- Về quy mô ruộng đất: Thông thờng khi trong điều kiện kinh tế phát triển,
trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật của các chủ hộ tơng đối khá thì quy mô
ruộng đất của các hộ có liên quan tỷ lệ thuận với thu nhập của hộ nông dân.
Nghĩa là các hộ có nhiều ruộng đất thờng sẽ có thu nhập cao. Nhng với điều
kiện thực tế hiện nay ở Cao Bằng khi mà kinh tế còn cha phát triển, trình độ dân
trí còn thấp thì yếu tố quyết định đến phát triển kinh tế hộ nông dân lại là trình
Phân tích mối liên quan giữa tỷ trọng lao động/nhân khẩu của các hộ với
mức thu nhập của các thành viên trong gia đình cho thấy, nhìn chung các hộ có
hệ số lao động (nhân khẩu lớn thì thu nhập cao).
Kết quả tính toán của em cho thấy (phần thực trạng) bình quân ở tiểu vùng
bồn địa, tỷ lệ lao động/nhân khẩu là 41,2% có mức thu nhập bình quân 1 nhân
khẩu đạt 945,680 đồng/năm, còn ở tiểu vùng núi đất tỷ lệ lao động trên nhân
khẩu là 33,4% thì có mức thu nhập bình quân 1 nhân khẩu đạt 708,400
đồng/năm.
Về t liệu sản xuất: nhìn chung những hộ có t liệu sản xuất khá thì có nền
kinh tế phát triển, ngợc lại những hộ nghèo rất thiếu công cụ sản xuất (kể cả
công cụ cầm tay).
4.3. Các yếu tố về sự trợ giúp của Nhà nớc.
Các chính sách về phát triển kinh tế xã hội của nhà nớc đối với các tỉnh miền
núi và các chính sách về đất đai, chính sách hỗ trợ ngời nghèo... vừa qua đang
có tác dụng tích cực đến việc phát triển kinh tế hộ nông dân ở Cao Bằng.
- Chính sách giao đất giao rừng đã giúp một số hộ có trình độ sản xuất khá
đã nâng quy mô sản xuất của hộ nông dân (có hộ đã nhận 20 - 30 ha rừng) và
các hộ này bớc đầu đã chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá.
- Chính sách cho ngời nghèo vay vốn và chính sách hỗ trợ xây dựng các cơ
sở hạ tầng nông thôn, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân tiến hành
thực hiện thâm canh trong sản xuất.
- Chính sách đầu t các mô hình áp dụng kỹ thuật thông qua công tác khuyến
nông, khuyến lâm đã giúp một số hộ nông dân (các hộ tham gia mô hình) có
điều kiện để mở rộng sản xuất và tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới đa vào sản
xuất.
5. Xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân
5.1. Xu thế phát triển
Trong cơ chế quản lý kinh tế mới của nớc ta hiện nay hộ nông dân là đơn vị
kinh tế tự chủ, có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hợp
pháp của mình. Song do điều kiện thực tế của hiện nay đa số các hộ nông dân có
Đối với các hộ nông dân mà chủ hộ là những ngời có hiểu biết kinh tế thị tr-
ờng, gần thị trờng và là những hộ có trình độ sản xuất khá, chủ hộ có ham muốn
làm giàu.
Xu hớng phát triển kinh tế của các hộ này có thể tuỳ điều kiện của hộ mà
phát triển theo một trong các hớng sau:
+ Trên cơ sở của phát triển trồng trọt và phát triển chăn nuôi, sự tác động
thúc đẩy lẫn nhau làm cho phát triển sản xuất vợt qua mức nhu cầu cần thiết, do
vậy chuyển sang sản xuất hàng hoá. Đây là xu hớng của đại bộ phận vùng nông
hộ của Cao Bằng ở tiểu vùng bồn địa, nơi mà bình quân đất canh tác của hộ có
hạn. Theo xu thế này các hộ tập trung đầu t thâm canh trong trồng trọt và từng
bớc mở rộng chăn nuôi gia đình với quy mô vừa.
+ Đối với các hộ nông dân ở những nơi có điều kiện thuận lợi về đất đai, thị
trờng sẽ mở rộng quy mô sản xuất trớc hết là quy mô đất đai trồng cây dài ngày
để tạo ra khối lợng nông sản lớn. Để phát triển kinh tế hộ theo hớng này các chủ
hộ phải là ngời có ý chí, đợc đào tạo có trình độ hiểu biết và cần có sự giúp đỡ
khuyến khích của Nhà nớc.
+ Đối với những hộ nông dân c trú ở vùng có lợi thế so sánh (vùng cây đặc
sản, vùng sản xuất nguyên liệu cho nhà máy). Xu thế phát triển kinh tế hộ nông
dân ở các sản phẩm có lợi thế so sánh đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất l-
ợng. Điều kiện cụ thể ở Cao Bằng các hộ thuộc vùng trồng dẻ ăn hạt (thuộc
huyện Trùng Khánh) trồng trúc sáo (huyện Nguyên Bình) trồng mía (huyện
Quảng Hoà) có thể chuyển sang sản xuất hàng hoá.
5.1.2. Xu hớng mở rộng quy mô sản xuất
Nh đã trình bày ở phần trên, hiện nay các hộ nông dân ở Cao Bằng mới tập
trung vào việc khai thác sử dụng đất ruộng, đất bằng là chủ yếu. Diện tích đất
đồi núi dốc phù hợp với việc phát triển cây dài ngày có tính hàng hoá cao và phù
hợp với việc xây dựng các trang trại còn nhiều.
Hiện nay bình quân đất canh tác của một hộ nông dân ở tỉnh Cao Bằng mới
có 0,64 ha. Đây là yếu tố hạn chế thu nhập của các hộ hiện nay.
Đối với một số hộ nông dân có trình độ sản xuất khá, chủ hộ có kiến thức có
tổng hợp là tơng đối phù hợp.
5.2. Chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế hộ
nông dân.
Công cuộc đổi mới kinh tế đất nớc đã thực hiện đợc hơn 10 năm, trong lĩnh
vực nông nghiệp chúng ta đã đạt đợc những thành tích đáng kể, sản xuất phát
triển tơng đối toàn diện, ổn định với tốc độ tăng trởng trên 4,3% năm. So với tr-
ớc thời kỳ đổi mới năm 1987, đến nay sản lợng lơng thực cả nớc đã tăng hơn 1,8
lần; cà phê tăng 20 lần; cao su tăng 3,5 lần; chè 1,8 lần; đàn bò 1,2 lần; đàn lợn
1,5 lần... từ một đất nớc phải nhập khẩu lơng thực hàng năm, nớc ta đã trở thành
nớc xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
16,9%/năm.
Có đợc những thành quả này trớc hết là nhờ những chủ trơng chính sách đổi
mới về nông nghiệp nông thôn và đặc biệt là các chủ trơng chính sách và phát
triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nớc. Đảng ta rất coi trọng phát triển
kinh tế hộ nông dân, xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và đã ban
hành hàng loạt chính sách nhằm tạo điều kiện cho các hộ, khuyến khích các hộ
nông dân phát triển kinh tế theo hớng sản xuất hàng hoá trong sự nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Mở đầu cho chủ trơng về đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nông dân ở nớc ta
là chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí th TW ĐCSVN về cải tiến công tác khoán
(1.1981), mở rộng khoán sản phẩm đến ngời lao động trong các HTX nông
nghiệp, chỉ thị này đã tháo gỡ nhiều vớng mắc ở nông thôn thời bấy giờ, bớc đầu
khơi dậy đợc tinh thần làm chủ, phấn khởi của ngời lao động, lôi cuốn mọi gia
đình tăng thêm công sức (kể cả lao động phụ) chủ động trong sản xuất, phát huy
mọi nguồn lực để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình
nông dân.
Trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm của việc thực hiện chỉ thị 100- CT/TW đã
công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế hộ gia đình nông
dân và kinh tế phát triển bảo vệ quyền làm ăn chính đáng, thu nhập hợp pháp
của các hộ gia đình nông dân, các hộ cá thể, t nhân. Nhà nớc đã cho phép và
chính sách về thuế đất nông, lâm nghiệp, cấy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, yên tâm đầu t thâm canh sản xuất, nhiều hộ trong quá trình tích tụ ruộng đất
đã tạo ra các trang trại sản xuất quy mô vừa để tổ chức sản xuất hàng hoá làm
cho kinh tế nông thôn phát triển.
Ngoài những chính sách trên, Đảng và nhà nớc còn ban hành một số chính
sách nhằm tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình nông dân ở nớc ta phát triển
mạnh mẽ hơn nữa những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, chính sách
hỗ trợ gia đình về khoa học công nghệ, chính sách đầu t tín dụng và thị trờng
tiêu thụ nông sản, chính sách hỗ trợ sản xuất đối với các hộ gia đình ở vùng cao,
xa, sâu... những chính sách này đợc cụ thể hoá trong Nghị quyết số 06/NQ/TTg
về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn. Nghị quyết 135/TTg và
133/TTg về chơng trình xoá đói giảm nghèo, tự phát triển kinh tế xã hội các xã
đặc biệt khó khăn ở miền núi vùng sâu, vùng xa...
Những chính sách trên đã giúp cho các hộ gia đình nông dân có đủ giống tốt,
vật t kỹ thuật đủ vốn đầu t thâm canh và yên tâm sản xuất hàng hoá khi nhà nớc
đã tạo ra các thị trờng tiêu thụ sản phẩm và đã làm cho kinh tế hộ nông dân phát
triển ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời
sống ở nông thôn. Hàng chục triệu hộ nông dân phấn khởi yên tâm sản xuất,
trong đó hàng triệu hộ làm kinh tế có hiệu quả số hộ nghèo ở nông thôn ngày
một giảm và ở nông thôn hiện nay đã có hàng triệu hộ gia đình phát triển kinh tế
trang trại theo hớng sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Đứng trớc thực trạng kinh tế nông dân ở nớc ta đang chuyển sang sản xuất
kinh tế hàng hoá kiểu tổ chức trang trại gia đình, để khuyến khích phát triển nh
các loại hình sản xuất khác của kinh tế hộ gia đình phát huy hiệu quả của kinh
tế hộ gia đình vừa qua chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ/CP về
phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta, chủ trơng này giúp cho kinh tế hộ nông dân
ở nớc ta đặc biệt là kinh tế hộ nông dân ở các tỉnh miền núi, ven biển sẽ có điều
kiện chuyển sang sản xuất hàng hoá, đây là động lực nối tiếp và phát huy động
lực kinh tế hộ nông dân ở nớc ta.
6. Khái quát tình hình kinh tế hộ nông dân ở một số nớc trên thế giới và
kinh tế hộ nông dân phổ biến và phù hợp trong sản xuất nông nghiệp của các n-
ớc hiện nay.
- Hầu hết các nớc đều có quy mô trang trại dới 1 ha hoặc 1- 3 ha, loại hình
nông trại này chiếm tới 60- 70% tổng số trang trại của cả nớc.
- ở Indonesia có tới 9,54 triệu nông trại nhỏ, trong đó nông trại dới 1 ha
chiếm 70,4% và nông trại từ 1- 3 ha chiếm 24%.
- ở Philippin, nông trại dới 3 ha chiếm 68,9%
- ở Thái Lan, nông trại dới 1 ha chiếm 15,9% và nông trại từ 1- 3 ha chiếm
27,4%.
Về cơ cấu sản xuất, hầu hết các tiểu nông trại của các nớc thờng sản xuất đa
dạng hoá sản phẩm để tránh rủi ro và đảm bảo an toàn lơng thực.
Phổ biến là sử dụng lao động của gia đình và họ hàng thân thiết, nếu có thuê
mớn chỉ hạn chế trong lúc thời vụ và với số lợng ít. Có thể nói, ở các nớc châu á
tiểu vùng nông trại thờng đợc đặc trng bởi sử dụng cao độ lao động gia đình.
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và quản lý ngày
càng đợc các nông hộ chú ý nên đã làm cho sản xuất của nông hộ phát triển
mạnh, doanh thu và thu nhập ngày càng lớn. Do đó, kinh tế hộ nông dân của các
nớc châu á hiện nay đóng góp quyết định cho sự phát triển công nghiệp của các
nớc, có vai trò quan trọng đối với các ngành kinh tế khác và xuất khẩu.
Xu hớng chung là quy mô sản xuất và đất canh tác của một nông hộ của các
nớc đều tăng, số lợng nông hộ giảm.
6.2. Tình hình kinh tế hộ nông dân ở nớc ta.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp ở nớc ta, cùng với sự phát triển của
quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, kinh tế hộ nông dân ở nớc ta đã có những
biến đổi thăng trầm.
Dới thời kỳ Pháp thuộc tuyệt đại bộ phận kinh tế nông hộ sản xuất còn lạc
hậu, thuần nông, tự nhiên, tự cấp tự túc. Đa phần nông dân làm rẽ ruộng của địa
chủ và đi làm thuê. Một bộ phận lớn nông hộ còn sản xuất theo hớng cổ truyền
với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ sau hoà bình lập lại (1955- 1959) cuộc cách
mạng cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã tạo ra nền kinh tế hộ nông dân dới chế
Từ cuối năm 80 và những năm đầu của thập niên 90, kinh tế hộ nông dân đã
trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp, từ đó đến nay với các chính
sách về đất đai, vay vốn, khuyến nông, khoa học công nghệ và các chính sách
khuyến khích kinh tế hộ nông dân phát triển đã tạo cho kinh tế hộ nông dân phát
triển khá nhanh, từ sản xuất chủ yếu đáp ứng nhu cầu cuộc sống của hộ gia đình,
ngày càng có nhiều hộ nông dân sản xuất hàng hoá, thoát dần thuần nông. Đến
nay ở nông thôn đã xuất hiện nhiều hộ làm kinh tế tổng hợp, hộ chuyên làm
dịch vụ nông nghiệp và xuất hiện hình thức kinh tế trang trại mỗi ngày một tăng
dần về quy mô.
Quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân gắn liền với điều kiện tự nhiên kinh
tế xã hội ở các vùng nông thôn. Thời kỳ đầu do kinh tế ở nông thôn cha phát
triển các hộ nông dân tổ chức sản xuất chủ yếu dựa vào đất đai do Nhà nớc giao
chủ sử dụng (0,2- 0,5 ha/hộ) nguồn lao động của gia đình (2- 2,5 lao động/hộ)
nguồn vốn tự có của gia đình. Nhng trong quá trình tái sản xuất mở rộng các yếu
tố sản xuất nh đất đai, vốn lao động ngày đ ợc tăng cờng. Một số hộ phát triển
kinh tế hộ gia đình theo hình thức trang trại quy mô gấp 3 lần so với diện tích
bình quân 1 hộ, lao động sử dụng khoảng 10 lao động thờng xuyên, vốn khoảng
30- 40 triệu. Sự phát triển kinh tế hộ thành kinh tế trang trại là tất yếu vì theo